Mức độ biết đến của nhóm sinh viên đối với hiện tượng đồng tính luyến ái và mức độ phổ biến qua điều tra tần suất gặp - Pdf 73

Mức độ biết đến của nhóm sinh viên đối với hiện tượng đồng tính luyến ái và
mức độ phổ biến qua điều tra tần suất gặp :
* Điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam và những ảnh hưởng tới cuộc sống cũng
như nhận thức của sinh viên:
Nền kinh tế thị trường đã đem lại những biến đổi cho đời sống người dân
nước ta về mọi mặt. Không những được đảm bảo về mặt vật chất, các thành viên
xã hội còn có cơ hội phát triển về tri thức cũng như hưởng thụ những giá trị tinh
thần. Tuy nhiên sự phát triển nào cũng mang trong mình yếu tố tích cực và tiêu
cực. Đời sống sung túc hơn nhưng dường như những nền tảng đạo đức, văn hoá xã
hội lại dần mai một. Tệ nạn xã hội ngày càng có xu hướng tăng về số lượng cũng
như độ tinh vi. Ma tuý, mại dâm..đang làm đau đầu những nhà quản lý, lập pháp và
hành pháp.
Sự phức tạp của thực tế khiến cho những thành viên của xã hội Việt Nam
hiện đại đặc biệt là giới thanh niên - sinh viên có lối sống cũng như cách nhìn
nhận, đánh giá khác với thế hệ cha anh. Sinh viên Việt Nam ngày càng năng động
hơn. Không chỉ học trên giảng đường, họ dấn mình vào cuộc sống để thu thập tri
thức thực tế. Những quan niệm cũng như nhận thức của sinh viên với các hiện
tượng xã hội bị chi phối bởi cách nhìn hiện đại, bởi văn hoá nước ngoài. Sự phát
triển của hiện tượng đồng tính luyến ái cũng là một hệ quả của biến đổi kinh tế -
văn hoá - xã hội. Là nhóm xã hội có trình độ tri thức cao đồng thời trưởng thành
trong điều kiện phát triển về kinh tế cũng như phong phú về văn hoá, sinh viên
chắc chắn sẽ có hiểu biết cũng như nhìn nhận và đánh giá về đồng tính luyến ái
theo cách riêng của mình.
2.1 Mức độ biết đến hiện tượng đồng tính luyến ái của sinh viên
Đồng tính luyến ái đã xuất hiện từ rất lâu ở Việt Nam nhưng trước đây do
điều kiện đất nước trong chiến tranh và dư luận xã hội vẫn rất khe khắt với những
hiện tượng bất bình thường nên nó không có cơ hội phát triển. Từ sau khi nước ta
chuyển sang nền kinh tế thị trường thì hiện tượng này mới phát triển và được biết
đến một cách rộng rãi. Bởi tuy đây chỉ là biểu hiện của một nhóm đối tượng nhỏ
nhưng ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hoá xã hội rất rõ ràng. Xét dưới góc độ
đạo đức, đồng tính luyến ái bị coi như một lối sống lệch lạc, trái với các quan niệm

Qua bảng 1 ta thấy số sinh viên nam và số sinh viên đô thị biết đến hiện tượng
đồng tính luyến ái cao hơn nhóm sinh viên nữ và sinh viên nông thôn. Điều này
xuất phát từ những nguyên nhân khách quan. Trước hết, nam giới luôn nhạy bén
hơn, năng động hơn và thích tìm hiểu những hiện tượng mới lạ đặc biệt là liên
quan đến vấn đề giới tính. Còn nữ giới luôn được quan niệm rằng phải dịu dàng,
kín đáo, không nên tự tìm hiểu về vấn đề giới tính. Thêm nữa, nữ giới rất e dè với
những hiện tượng bất bình thường như hiện tượng đồng tính luyến ái. Do vậy tỷ lệ
nữ sinh viên chỉ nghe đến hiện tượng này một vài lần cao hơn so với sinh viên nam
trong khi nam sinh viên lại biết đến hiện tượng này nhiều hơn. Số sinh viên chưa
bao giờ nghe nói về hiện tượng này chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp và cũng rơi vào nữ
giới.
Mỗi sinh viên trước khi tham gia học đại học tại Hà Nội đều mang trong
mình những đặc điểm riêng về nơi sống. Môi trường sống của một cá nhân chi
phối rất nhiều đến nhân cách cũng như sự hiểu biết và quan niệm của anh ta về thế
giới xung quanh. Nếu nơi sống của một sinh viên là đô thị - khu vực có sự phát
triển về kinh tế, văn hoá, xã hội, cá nhân đó sẽ có hiểu biết phong phú và sâu sắc
hơn. Ngược lại, những sinh viên xuất phát từ nông thôn thường chịu thiệt thòi bởi
ít được cập nhật những luồng thông tin mới. Thêm nữa, quan niệm của người dân
nông thôn và đô thị cũng có điểm khác biệt do nền văn hoá và lối sống.
Do vậy, số sinh viên nông thôn đã có sự hiểu biết tương đối nhiều về hiện
tượng đồng tính luyến ái thấp hơn sinh viên đô thị và tỷ lệ sinh viên đô thị chỉ mới
biết đến hiện tượng này một vài lần thấp hơn nhóm sinh viên nông thôn. Nhưng tỷ
lệ chênh lệch giữa họ không cao. Bởi tuy xuất phát từ nơi sống khác nhau nhưng
môi trường học tập và cư trú của họ hiện nay đều là đô thị, nơi mà các phương tiện
truyền thông đại chúng rất phát triển. Thêm nữa, môi trường cung cấp tri thức cho
họ là trường đại học - đảm bảo nguồn tri thức về mọi mặt của đời sống. Trong số 2
sinh viên nữ chưa nghe đến hiện tượng đồng tính luyến ái có một người ở nông
thôn và một ở đô thị. Tuy nhiên đây chỉ là trường hợp cá biệt bởi với sự tuyên
truyền rộng rãi của phương tiện truyền thông đại chúng cũng như sự biết đến của
nhóm bạn xung quanh thì chắc chắn có rất ít sinh viên chưa từng nghe qua hiện

gia
đình
Công nhân viên chức 77.8% 21.3% 0.9%
Buôn bán 80% 20% 0%
Nông nghiệp 75.6% 22% 2.4%
Nghề khác 77.3% 22.7% 0%
Khác với sự cân bằng về giới và nơi sống trước khi vào đại học, sinh viên có
nơi cư trú và loại hình gia đình khác nhau tồn tại một cách ngẫu nhiên. Do vậy, ở
đây khi so sánh phải dùng tỷ lệ lựa chọn trên tổng số sinh viên theo từng nơi cư trú
và loại hình gia đình. Qua khảo sát, có thể thấy nhóm sinh viên ở cùng gia đình có
sự quan tâm đến hiện tượng đồng tính luyến ái ở mức cao nhất. Những sinh viên
hiện ở cùng gia đình thường ở đô thị nên họ có điều kiện để biết đến hiện tượng
đồng tính luyến ái. Thêm nữa, các gia đình đô thị do ảnh hưởng của nếp sống ít
khép kín hơn nông thôn nên sự trao đổi giữa cha mẹ với con cái về các sự kiện tồn
tại trong đời sống xã hội có phần thoải mái . Các sinh viên ở ký túc xá và nhà trọ ít
có điều kiện tiếp cận thường xuyên với các thông tin mới nên biết đến đồng tính
luyến ái ở mức trung bình. Đặc biệt là nhóm sinh viên ở nhà trọ, chỉ sống thành
một cụm hoặc riêng lẻ không tập trung, ít có sự trao đổi thông tin như các bạn
trong ký túc xá nên có tỷ lệ lựa chọn mức độ chỉ mới nghe qua là cao nhất. Số sinh
viên chưa biết đến hiện tượng đồng tính luyến ái đều thuộc nhóm sinh viên ở nhà
trọ và ký túc xá.
Sinh viên trong mẫu nghiên cứu tập trung ở bốn loại gia đình: công nhân
viên chức, buôn bán, nông nghiệp và nghề khác. Tiêu chí phân loại phụ thuộc vào
những nhóm nghề nghiệp phổ biến trong xã hội. Mỗi loại gia đình này sẽ tương
ứng một tiểu văn hoá riêng do trình độ học vấn và môi trường làm việc của cha mẹ
chi phối.
Qua nghiên cứu cho thấy nhóm sinh viên thuộc gia đình làm nghề buôn bán có
mức độ biết đến hiện tượng đồng tính luyến ái mức cao nhất. Đây là một điều bất
ngờ bởi trong quan niệm, nhóm nghề nghiệp công nhân viên chức thường có trình
độ học vấn cao hơn do vậy con cái trong các gia đình này chắc chắc phải có sự

biến như vậy hay không? Có thể giải quyết câu hỏi này bằng cách tìm hiểu mức độ
đã gặp hiện tượng này của nhóm sinh viên. Cần lưu ý thêm rằng gặp ở đây là bao
gồm trường hợp gặp gỡ tình cờ và biết những người đồng tính luyến ái cụ thể.
Bảng 3: Mức độ gặp hiện tượng đồng tính luyến ái của nhóm sinh viên
(Đơn vị %)
STT Tần suất gặp hiện tượng đồng tính luyến ái Tỷ lệ %
1 Thường xuyên 7.5%
2 Thỉnh thoảng 22.5%
3 Hiếm khi 25.5%
4 Chưa bao giờ 44.5%
Nhìn qua bảng số liệu, ta có thể nhận thấy tỷ lệ sinh viên đã gặp, đã biết trường
hợp người đồng tính luyến ái ít nhất một lần trở lên là 55.5%, trong khi đó chỉ có
44.5% sinh viên chưa gặp hiện tượng này bao giờ. Điều này khẳng định rằng đồng
tính luyến ái không phải là một hiện tượng cá biệt, ít người biết đến mà sự tồn tại
của nó đã ở mức khá phổ biến. Trong số 55.5% sinh viên trả lời đã từng gặp hiện
tượng này, có 7.5% sinh viên gặp thường xuyên, 22.5% thỉnh thoảng mới gặp,
25.5% trả lời là rất hiếm khi. Bởi đồng tính luyến ái ở Việt Nam vẫn được coi như
một hiện tượng lệch chuẩn, một lối sống thiếu lành mạnh, ít nhận được sự đồng
tình của dư luận. Do vậy, những người thuộc nhóm này ít khi dám công khai quan
hệ cũng như những mong muốn của mình dù với những người thân. Có rất nhiều
trường hợp người đồng tính luyến ái vẫn phải lập gia đình với người khác giới,
sinh con như bình thường và tìm cách giấu đi con người thực của mình. Cho nên,
mức độ gặp của giới sinh viên với những người đồng tính luyến ái tồn tại như trên
là hợp lý.
Bảng 4: Tương quan giới với tần suất đã gặp hiện tượng đồng tính luyến ái
( Đơn vị %)
Nam sinh viên Nữ sinh viên Tổng
Thường xuyên 5.5% 2% 7.5%
Thỉnh thoảng 12% 10.5% 22.5%
Hiếm khi 14.5% 11% 25.5%

Nhân Chính, Phùng Khoang, Thanh Xuân..Đây là những địa bàn dân cư phức tạp,
có nhiều thành phần cùng sinh sống như người lao động các tỉnh, sinh viên..Chính
đặc thù về nơi ở này đã dẫn đến khả năng gặp hiện tượng đồng tính luyến ái của
sinh viên ở những khu vực mình đang trọ cao nhất.
Bảng 5: Tương quan giới và nơi cư trú/ các địa điểm đã gặp hiện tượng đồng tính
luyến ái. (Đơn vị %)
Cùng nơi cư
trú
Tụ điểm giải trí,
nơi công cộng
Bạn bè Người thân
Nam 6.1% 46% 8.8% 0.9%
Nữ 8.8% 33.6% 1.8% 0.9%
Ký túc xá 5.3% 15.9% 1.8% 0.9%
Gia đình 2.6% 31.9% 4.4% 0%
Nhà trọ 7% 31.9% 4.4% 0.9%
Tổng 14.9% 79.6% 10.6% 1.8%

Nhìn vào bảng tương quan giới và nơi cư trú với các địa điểm mà sinh viên
đã gặp người đồng tính luyến ái, ta thấy tồn tại xu hướng như sau: số sinh viên
nam gặp hiện tượng này ở những người cùng nơi cư trú thấp hơn so với sinh viên
nữ, còn số sinh viên ở ký túc xá và nhà trọ có tỷ lệ gặp hiện tượng này ở nơi sống
của mình cao hơn nhóm sinh viên ở cùng gia đình. Đây là một điều cần lưu ý, bởi
như vậy là có tồn tại hiện tượng đồng tính luyến ái trong giới sinh viên, đặc biệt là
trong ký túc xá. Môi trường của sinh viên ký túc xá có sự đồng nhất về giới tính
trong một thời gian tương đối dài. " Môi trường cũng là một yếu tố dễ dẫn đến
hiện tượng này nhất là trong các môi trường có sự thuần nhất giới tính trong
thời gian dài." (T.,nam, K43 ĐHKHXHNV, nhà trọ-Thanh Xuân).
Sinh viên cũng là những người thuộc tầng lớp thanh niên, đang ở độ tuổi trưởng
thành về tâm sinh lý. Do vậy, có thể xuất hiện xu hướng sống lệch lạc nếu trong

Nội. Họ có thời gian và điều kiện kinh tế để tới những nơi vui chơi giải trí và các
sinh viên ở nhà trọ cũng vậy. Cho nên họ có thể gặp hiện tượng đồng tính luyến ái
tại những nơi đó. Tỷ lệ sinh viên nói chung lựa chọn địa điểm này cao áp đảo so
với các địa điểm khác. Bởi người đồng tính luyến ái thường không dám công khai
mối quan hệ cũng như lối sống của mình. Do vậy, chỉ khi tới những địa điểm công
cộng, giữa những người xa lạ, họ mới dám sống theo cách của mình, ít dấu giếm
hơn, đặc biệt là những nơi tập trung những đối tượng như mình. Điều này cũng
chứng tỏ rằng, càng ngày người đồng tính luyến ái càng có can đảm sống theo cách
của mình mà không e ngại dư luận xã hội.

Tỷ lệ sinh viên cho biết có người đồng tính luyến ái là bạn bè của mình khá
thấp, 10.6%. Trong đó, tỷ lệ sinh viên nam có bạn bè là người đồng tính cao hơn
hẳn sinh viên nữ. Như vậy là giới nam tồn tại hiện tượng đồng tính luyến ái cao
hơn giới nữ. Điều này cũng phù hợp với khảo sát về giới của người đồng tính luyến
ái mà sinh viên thường gặp: nam giới- 34%, nữ giới-11.5%.
Trường hợp người đồng tính luyến ái là người thân của sinh viên có tỷ lệ rất
thấp, 1.8% và đều ở sinh viên ở ký túc xá và nhà trọ.
Có thể thấy qua sự đánh giá của sinh viên thì đa số họ đã gặp hiện tượng đồng tính
luyến ái ít nhất là một lần. Số sinh viên nam đã gặp người đồng tính luyến ái nhiều
hơn sinh viên nữ. Còn nhóm sinh viên thuê nhà lại có tỷ lệ gặp hiện tượng này
nhiều hơn rất nhiều so với sinh viên ở ký túc xá và ở cùng gia đình.
Người đồng tính luyến ái mà sinh viên đã gặp thường tập trung ở các nơi vui chơi
giải trí, nơi công cộng. Tuy nhiên cũng tồn tại một số lượng không nhỏ sinh viên
thấy hoặc biết người có quan hệ tình dục đồng giới tại nơi mình cư trú đặc biệt là ở
ký túc xá và nhà trọ của họ. Đây là một hiện tượng không còn cá biệt, chiếm một tỷ
lệ nhỏ mà đã chiếm một con số đáng kể. Do vậy, vấn đề quản lý đời sống cho các
sinh viên sống xa gia đình khi lên học đại học nhằm ngăn ngừa những tệ nạn xã hội
có thể xảy ra rất quan trọng.
3. Nhận thức của sinh viên về bản chất của hiện tượng đồng tính luyến ái
3.1 Nhận thức của sinh viên về nhóm tuổi và nhóm đối tượng

hợp với giới tính nhưng cũng có trường hợp không phải như vậy. Đó chính là
những trường hợp của người đồng tính luyến ái. Họ, về mặt sinh học là nam giới
hoặc nữ giới nhưng trong nhận thức, họ mong muốn và cảm thấy mình thuộc về
giới tính kia hoặc chỉ có thể có quan hệ tình cảm, quan hệ tình dục với người cùng
giới. Tuy nhiên, đồng tính luyến ái xảy ra nhiều hơn ở nam giới hơn nữ giới. Đó là
bởi một đặc trưng của giới tính sinh học mà người phụ nữ dù "đóng vai" nam giới
vẫn không thể từ bỏ dễ dàng - chức năng sinh con. Người phụ nữ ngay từ khi còn
là một bé gái đã được giáo dục về thiên chức làm vợ- làm mẹ của mình. "Con gái
có nhiều chuẩn mực kiểm soát hơn. Đấy là cái thứ nhất. Cái thứ hai là do bản
năng, thiên chức của người phụ nữ. Vì hai điều này nên làm cho con gái ít bị sa
vào hiện tượng này hơn là con trai" (C. nữ, K43 ĐHKHXHNV, gia đình). Đó là
một trong những bản sắc giới quan trọng nên được giáo dục, nhắc nhở thường
xuyên khiến người phụ nữ không dễ dàng sống trái với giới tính của mình. Thêm
nữa, họ vẫn là phái yếu, phải chịu đựng sự đánh giá, xem xét khắt khe hơn của các
chuẩn mực xã hội nên khó sống theo cách của mình mong muốn.
Nam giới là đối tượng có khả năng làm lan truyền bệnh HIV/AIDS cao hơn nhiều
so với nữ giới do đặc thù về lối sống. UNAIDS - tổ chức phòng chống căn bệnh
thế kỷ đã đưa ra năm lý do giải thích tại sao chiến dịch phòng chống AIDS toàn
cầu năm 2000 lại tập trung vào nam giới. Trong đó có một nguyên nhân đáng chú ý
là quan hệ tình dục đồng giới không an toàn giữa nam với nam gây nguy cơ cho cả
nam và nữ. Phần lớn quan hệ tình dục giữa nam với nam là dấu giếm. Và theo
nhiều nghiên cứu tiến hành trên thế giới, có đến hơn 1/6 nam giới nói rằng họ có
quan hệ tình dục đồng giới. Rất nhiều trong số họ đồng thời cũng có quan hệ với cả
phụ nữ. Do vậy nguy cơ lây truyền bệnh HIV/ AIDS tăng lên rất nhiều.
Đồng tính luyến ái về bản chất không chỉ đơn thuần là một loại bệnh lý mà còn
là biểu hiện về nhận thức, cách sống quan niệm nên các đối tượng của nó có những
đặc trưng nhất định về độ tuổi. 52% sinh viên được hỏi cho rằng đồng tính luyến ái
xảy ra ở độ tuổi thanh thiếu niên. 73% họ lại cho rằng hiện tượng này dễ xuất hiện
ở người trưởng thành và chỉ có 14.5% chọn phương án " xảy ra ở nhóm người cao
tuổi". Bởi cho dù là một loại bệnh lý hay sự lệch lạc về quan niệm, lối sống thì

cũng như trình độ nhận thức của người trưởng thành đã phát triển đầy đủ. Nên hiện
tượng đồng tính luyến ái ở nhóm tuổi này được gọi bằng một thuật ngữ khác chính
xác hơn" tình dục đồng giới". Giai đoạn thanh thiếu niên, những dấu hiệu của đồng
tính luyến ái mà đối tượng cho rằng mình có thường do tâm sinh lý chưa ổn định,
bị ảnh hưởng môi trường, hoặc sự tò mò của bản thân, ngộ nhận gây nên " đồng
tính luyến ái giả". Nhưng khi trưởng thành với sự chín chắn trong suy nghĩ và hoàn
thiện và tâm sinh lý, hiện tượng này có thể sẽ biến mất. Hơn nữa, người trưởng
thành nếu buộc phải công khai "giới tính" thật của mình cũng ít e dè và sợ hãi dư
luận xã hội hơn.
Trường hợp người đồng tính luyến ái có thể xảy ra ở nhóm người cao tuổi là
rất hãn hữu và cũng ít sinh viên lựa chọn phương án này. Bởi đây là giai đoạn
giảm, chậm dần của quá trình xã hội hoá, giai đoạn dừng phát triển thể chất và bản
sắc giới cũng không thay đổi được nữa. Người đồng tính luyến ái nếu là thật sự đã
trải qua một khoảng thời gian rất dài sống khác với bản thân nên đây không phải là
giai đoạn thích hợp để bộc lộ nó nữa.
"Người cao tuổi nếu có bị đồng tính luyến aí thật sự thì vẫn kiềm chế để không
ảnh hưởng tới mọi người xung quanh và làm xấu bản thân mình" (T. nam, K43
ĐHKHXHNV, nhà trọ - Thanh Xuân). Và trường hợp xuất hiện sự lệch lạc trong
nhận thức, bị lôi cuốn bởi những điều mới lạ khó có thể xảy ra.
Có thể thấy rằng nhận thức của sinh viên về nhóm đối tượng cũng như nhóm
tuổi thường xuất hiện hiện tượng đồng tính luyến ái rất phù hợp với quan điểm
khoa học và thực tế. Đa số sinh viên đều cho rằng người đồng tính luyến ái có thể
thuộc bất kỳ giới nào và độ tuổi tập trung hiện tượng này là thanh thiếu niên và
người trưởng thành. Từ những hiểu biết đúng, họ có thể rút ra những kinh nghiệm
để ứng phó với hiện tượng này nếu nó xảy ra với bản thân mình vì chính họ cũng
thuộc nhóm đối tượng dễ bị ảnh hưởng.
3.2 Nhận thức của sinh viên về nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đồng tính luyến ái
Xuất phát từ cá nhân nhưng đồng tính luyến ái lại trở thành một hiện tượng
xã hội rất phức tạp. Các nhà nghiên cứu đã tốn khá nhiều công sức để tìm hiểu bản
chất và nguyên nhân của hiện tượng này. Đồng tính luyến ái hay còn gọi là tình

loại bệnh lý thì sinh viên đô thị chiếm 20.5% và sinh viên nông thôn chiếm 19.5%.
Tuy rằng, sinh viên nông thôn và đô thị xuất thân từ những vùng đất có nền kinh tế
và văn hoá xã hội khác nhau nhưng khi vào trường đại học, họ đều có chung một
môi trường sống. Đó là thủ đô Hà Nội. Do vậy, hiểu biết cùng như quan niệm của
họ có phần tương đồng.
Còn xét tương quan giữa các sinh viên thuộc bốn loại gia đình, số liệu cho thấy có
một xu hướng như sau: 38.5% có gia đình thuộc nhóm công nhân viên chức, 45%
sinh viên có gia đình thuộc nhóm buôn bán, 36.6% sinh viên trong gia đình làm
nghề nông và 50% sinh viên trong gia đình làm các nghề nghiệp khác lựa chọn
phương án này. Như vậy là nhóm sinh viên thuộc nhóm gia đình làm nghề buôn
bán và nghề khác có sự lựa chọn phương án này cao hơn sinh viên thuộc các gia
đình còn lại.
Biểu 2: Tương quan gia đình sinh viên với nguyên nhân bệnh lý, bẩm sinh
Tồn tại một thực tế là phần lớn những người đồng tính luyến ái ở nước ta lại là
biểu hiện của một lối sống đua đòi, không lành mạnh. Đó là những người cố ý
biến mình thành giới tính thứ ba. Và ảnh hưởng của lối sống của họ tới xã hội, tới
mọi người xung quanh khiến hình thành nên một quan niệm rằng tất cả những
người đồng tính luyến ái đều là những kẻ đua đòi, sống bệnh hoạn. Đây là nguyên
nhân dẫn đến tỷ lệ lựa chọn cao nhất nguyên nhân này trong nhóm sinh viên.
Những người đồng tính luyến ái xuất phát từ nguyên nhân này đều bình thường về
thể chất cũng như tinh thần. Nhưng do sự lôi kéo của những người bị bệnh, ảnh
hưởng của môi trường sống có tồn tại hiện tượng này hay sự thúc đẩy của những
lợi ích vật chất khiến họ chấp nhận một cuộc sống như vậy.
" Người đồng tính luyến ái có thể do bệnh lý bẩm sinh nhưng cũng do người
ta không có tiền hoặc bị cuốn theo bản năng nên họ buộc phải làm như vậy để
kiếm tiền hoặc để thoả mãn bản năng." (C. nữ, K43 ĐHXHNV, gia đình).
Trong số 45% sinh viên cho rằng đồng tính luyến ái là biểu hiện của lối sống đua
đòi, bị lôi kéo do sự thiếu bản lĩnh của cá nhân thì sinh viên đô thị là 22% và sinh
viên nông thôn là 23%. Như vậy là có sự chênh lệch dù không đáng kể giữa sự lựa
chọn của hai nhóm sinh viên này. Sinh viên nông thôn dù môi trường sống và học

lệch lạc xung quanh đã khiến bạn dần biến mình thành người đồng tính luyến ái.
Cá nhân dù có sự tự bảo vệ mình mạnh mẽ đến đâu nhưng rất dễ bị ảnh hưởng bởi
môi trường xung quanh mình. Bởi họ luôn tồn tại sự sợ hãi bị cô lập, không hoà
nhập được với mọi người dù đó chỉ là một nhóm cùng nơi cư trú. Thêm nữa, sự lôi
kéo của những lợi ích vật chất như kinh tế hay sự chi phối của bản năng khiến họ
nếu một lần đã trở thành người đồng tính luyến ái sẽ rất khó vượt qua nó.

Hai phương án có tỷ lệ lựa chọn bằng nhau là " do ảnh hưởng của văn hóa
nước ngoài" và " do tò mò". Nền kinh tế thị trường đã mang lại những thay đổi tích
cực cho bộ mặt kinh tế- văn hoá- xã hội nước nhà. Mở cửa kinh tế cũng có nghĩa là
văn hoá cũng được mở cửa, hội nhập với những nền văn hoá trên thế giới. " Hoà
nhập nhưng không hòa tan", giữ gìn giá trị văn hoá truyền thống vẫn cần được đề
cao bởi có những tư tưởng văn hoá, giá trị văn hoá ở quốc gia này là hợp lý nhưng
khi xâm nhập vào nước khác lại không phù hợp, bị phản đối. ở nhiều nước trên thế
giới, nhất là các nước Châu Âu, đồng tính luyến ái không còn là một điều mới mẻ
cũng như đã được chấp nhận như một nhóm người, một lối sống bên cạnh những
nhóm người khác, những lối sống khác trong xã hội. Nhưng đối với nền văn hoá
Việt Nam thì đồng tính luyến ái là biểu hiện của một lối sống bất bình thường, trái
ngược với những chuẩn mực đạo lý truyền thống. Ca dao Việt Nam có câu:
" Đàn ông nằm với đàn ông
Như gốc như gác như chông như chà
Đàn ông nằm với đàn bà
Như lụa như lĩnh như hoa trên cành"
Điều này chứng tỏ rằng ngay từ xưa, quan niệm truyền thống đã không tán thành
chuyện ngược đời - có tình cảm giữa những người đồng giới. Tuy nhiên sự gia tăng
của hiện tượng đồng tính luyến ái trong thời gian gần đây cùng những biến tướng
của nó như nạn mại dâm nam dường như là kết quả của sự nhìn nhận thoáng hơn
một vấn đề. Phải chăng sự phổ biến, sự chấp nhận hiện tượng đồng tính luyến ái
trên thế giới đã có ảnh hưởng tới cách đánh giá, quan niệm của người Việt Nam.
Đặc biệt là sự phổ biến của hiện tượng đồng tính luyến ái trong giới văn nghệ sĩ,

rất phức tạp. Ngoài những nguyên nhân như bệnh lý, do ảnh hưởng môi trường
sống, một lý do nữa của hiện tượng này là do hồi nhỏ bị người cùng giới lạm dụng.
Số lượng các bạn sinh viên lựa chọn này ở mức trung bình, chứng tỏ sự quan tâm
của họ đến nguyên nhân này. Trong những năm gần đây, tội phạm đối với trẻ em ở
nước ta có xu hướng phát triển. Nó tồn tại dưới nhiều hình thức như đánh đập,
giam giữ trái phép và lạm dụng tình dục với các em. Sự xâm hại, sử dụng bạo lực
hay lạm dụng tình dục với trẻ em là một tội ác bị xã hội lên án mạnh mẽ. Bởi
những hành động đó không chỉ gây hại về thể chất, sức khoẻ cho các em mà
nghiêm trọng hơn nữa là sự tổn thương nặng nề về tâm lý, sự phát triển tinh thần
sau này.Dấu ấn của sự xâm hại thời thơ ấu sẽ đi theo các em suốt cuộc đời ảnh
hưởng đến quan niệm, lối sống sau này ( nhất là từ độ tuổi nhi đồng đã biết nhận
thức). Đặc biệt là lạm dụng tình dục với trẻ em của người đồng giới. Sự kiện này sẽ
dẫn đến những tổn thương tâm lý như căm ghét những người cùng giới, sống trong
tình trạng sợ hãi, mặc cảm không muốn tiếp xúc với xã hội, cộng đồng.

Trích đoạn Quan điểm đánh giá của sinh viên về hiện tượng đồng tính luyến ái và những ảnh hưởng của nó
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status