một vài nét nghiên cứu về nhận thức của sinh viên đối với hiện tượng đồng tính luyến ái - Pdf 10

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Con người là một thực thể tự nhiên và xã hội hoàn thiện và phức tạp nhất.
Trong khi tìm đường lên các vì sao, loài người đồng thời quay trở lại tìm hiểu
chính mình. Và công việc này cũng không kém phần khó khăn so với các nghiên
cứu khoa học về vũ trụ, kỹ thuật và tự nhiên. Tiến bộ khoa học gần đây nhất -
việc giải mã và công bố bản đồ gen đã mở ra cánh cửa cho việc đem lại những
hiểu biết mới về con người, đặc biệt là đóng góp cho việc chữa trị những căn
bệnh nan y. Tuy nhiên, với tư cách vừa là nhà nghiên cứu vừa là đối tượng
nghiên cứu, con người đôi khi không thể tìm ra câu trả lời cho những câu đố về
bản thân mình.
Hiện tượng đồng tính luyến ái cũng là một trong những vấn đề mà loài
người hiện nay còn đang trên đường tìm hiểu về bản chất cũng như nguyên nhân
và giải pháp cho nó. Xét về mặt y học, các nhà khoa học cho rằng đây có thể
được coi là như một loại bệnh tâm thần. Họ xếp đồng tính luyến ái vào nhóm
bệnh về lệch lạc đối tượng. Nhưng nguyên nhân dẫn đến nó không đơn thuần chỉ
nằm ở khía cạnh bệnh lý mà còn ở cả khía cạnh tâm lý. Có thể đó là do cách
giáo dục của gia đình không phù hợp dẫn đến sự phát triển lệch lạc từ khi còn
nhỏ hoặc bị người đồng giới lợi dụng. Và theo quan điểm của nhiều người, đồng
tính luyến ái là một hiện tượng lệch chuẩn. Đây là một lối sống không có lợi cho
xã hội cả về mặt đạo đức cũng như phát triển. Bởi những gia đình của người
đồng tính luyến ái (nếu có) sẽ không thể thực hiện được một chức năng quan
trọng - duy trì nòi giống để đảm bảo sự phát triển của xã hội.
Trong những năm gần đây trên thế giới và ở Việt Nam, hiện tượng đồng
tính luyến ái phát triển mạnh mẽ. Đây đó đã xuất hiện những phong trào đòi
quyền bình đẳng, đòi quyền được kết hôn cho những người đồng tính luyến ái.
Còn ở Việt Nam, từ sau thời điểm mở cửa giao lưu kinh tế, những luồng văn hoá
tư tưởng nước ngoài đã xâm nhập và gây ra những ảnh hưởng không phải lúc
nào cũng tốt cho lối sống và quan niệm của người dân.
Tầng lớp chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của nó chính là thanh niên. Đây
là thế hệ sinh ra sau chiến tranh, lớn lên trong nền kinh tế thị trường nên quan

2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Xã hội học là bộ môn khoa học luôn đi sát với những biến đổi của thực
tiễn. Bất kỳ một hiện tượng xã hội nào mới nảy sinh đều cần đến sự đánh giá tìm
hiểu của xã hội học để từ đó đưa ra những hiểu biết cũng như xu hướng giải
quyết. Đồng tính luyến ái là một hiện tượng không nằm ngoài quy luật đó.
Vốn là một hiện tượng tưởng chừng như cá biệt nảy sinh từ lối sống hay
quan hệ của con người nhưng đồng tính luyến ái nhanh chóng thu hút được sự
quan tâm của xã hội bởi những ảnh hưởng của nó đối với nền tảng đạo đức, lối
sống cũng như sự phát triển của cả cộng đồng. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng
này rất phức tạp. Có trường hợp là bẩm sinh như một loại bệnh lý nhưng nhiều
khi đó là xuất phát từ ảnh hưởng của môi trường sống hoặc do lối sống, nhận
thức của cá nhân. Trong khi các nhà khoa học còn đang tranh cãi về nguyên
nhân của hiện tượng này thì nó đã kịp gây ra những ảnh hưởng tới đời sống của
toàn xã hội. Nhóm đồng tính luyến ái được coi là nhóm nguy cơ cao về lây
truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, cướp đi sinh mạng của hàng triệu người trên
thế giới. Thêm nữa, lối sống bất bình thường của người đồng tính luyến ái tạo
nên những tác động tới nền văn hoá, đạo đức và luật pháp của mỗi quốc gia.
Ở nước ta, tuy rằng đồng tính luyến ái vẫn chỉ tồn tại ở cá biệt một số nhóm
đối tượng nhưng trong thời gian gần đây, nó có xu hướng phát triển mạnh hơn.
Nhiều người, đặc biệt là tầng lớp thanh niên coi đây như một thứ mode, một
cách ăn chơi sành điệu. Thêm nữa, tệ nạn mại dâm nam đã từng không ít lần gây
đau đầu cho các nhà quản lý. Ở Hà Nội, trong thời gian vừa qua không ít lần báo
chí đã phải đề cập đến những tụ điểm tụ tập của giới đồng tính ngay tại những
nơi vui chơi giải trí công cộng. Không chỉ là một hiện tượng lạ, một loại bệnh lý,
đồng tính luyến ái ở Việt Nam được coi như sự đi xuống về đạo đức, trái với
những giá trị văn hoá nước nhà. Việc giải quyết nó là một việc rất khó khăn bởi
những người đồng tính luyến ái vẫn được coi như những thành viên trong xã
hội, sự phát triển của họ gắn liền với sự phát triển của xã hội. Do vậy việc trước
tiên của quá trình giải quyết hiện tượng này là tìm hiểu sự nhận thức và hiểu biết
cũng như thái độ của người dân. Ở đây, đề tài nghiên cứu tập trung vào nhóm

học xã hội- nhân văn và Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia. Cơ cấu
mẫu như sau:
- 50% sinh viên nam và 50% sinh viên nữ.
- 50% sinh viên nông thôn và 50% sinh viên đô thị.
- Tỷ lệ sinh viên có nơi cư trú là ký túc xá, nhà trọ và gia đình tồn tại ngẫu
nhiên.
- Tỷ lệ sinh viên thuộc loại hình gia đình công nhân viên chức, buôn bán,
nghề nông và nhóm nghề khác tồn tại ngẫu nhiên.
Cơ cấu mẫu điều tra
Tiêu chí Đặc điểm Số lượng %
Nam 100 50%
Nữ 100 50%
Nơi cư trú
Ký túc xá 54 27%
Gia đình 72 36%
Nhà trọ 74 37%
Nơi sống trước khi
Đô thị 100 50%
Nông thôn 100 50%
Công nhân - viên chức 117 58.5%
Buôn bán 20 10%
Nghề nông 41 20.5%
Nghề khác 22 11%
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận:
Trong luận văn, người viết sử dụng hệ phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử nhằm xem xét vấn đề nghiên
cứu dưới góc độ khoa học.
5.2 Phương pháp cụ thể:
5.2.1 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi:

tượng đồng tính luyến ái:
- Nguyên nhân
- Biểu hiện
- Đối tượng
- Bản chất
Đặc điểm cá nhân của sinh viên
NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Tổng quan về hiện tượng đồng tính luyến ái trên thế giới và ở Việt Nam
và xu hướng giải quyết
Hiện tượng đồng tính luyến ái đã xuất hiện từ lâu trên thế giới cùng với sự
phát triển của con người. Như ở Ấn Độ, vào độ tuổi vị thành niên, những chàng
trai phải trở thành một giới thứ ba tức là yêu và sống chung với một người cùng
giới như một dạng hôn nhân thử nghiệm. Sau giai đoạn đó họ lại yêu và lấy một
người phụ nữ như bình thường. Hoặc ở Châu Phi, có trường hợp một người nam
hay một người nữ có thể yêu một người cùng giới với mình trong một thời gian.
Điều này là do yếu tố văn hóa của bộ tộc chi phối. Tuy nhiên hiện tượng chỉ
dừng lại ở mức tồn tại trong một thời điểm hay một nền văn hoá riêng biệt chứ
không mang tính công khai hay chính thức. Đồng tính luyến ái dù ở bất kỳ châu
lục nào hay nền văn hóa nào cũng đều bị coi là một hiện tượng bất bình thường.
Ở châu Âu và Hoa Kỳ, những năm cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX là thời
kỳ của những phong trào" giải phóng" của người đồng tính luyến ái, đấu tranh
đòi quyền bình đẳng trong xã hội cũng như vượt qua những sự chỉ trích của
cộng đồng. Đây cũng là thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất của phong trào nữ
Hành viThái độ
quyền. Và dường như cũng đã có một sự thay đổi trong mức độ cởi mở khi bàn
luận về đồng tính luyến ái cũng như sự đồng cảm đã tăng lên với những người
thuộc giới thứ ba này. Tuy nhiên, liệu đồng tính luyến ái có thể đi vào cuộc sống
như một hiện tượng bình thường được không và cộng đồng có chấp nhận sự

chúng coi đồng tính luyến ái như một lối sống lệch lạc. Nhìn chung dư luận xã
hội đều không đồng tình và muốn ngăn chặn hiện tượng này. Tuy nhiên nếu đây
là một lối sống lệch lạc, bệnh hoạn gây hại cho đạo đức cũng như sự phát triển
của xã hội thì cách nhìn nhận và xử lý trên là hợp lý. Nhưng những trường hợp
người đồng tính luyến ái là bẩm sinh và hoàn toàn muốn có một cuộc sống bình
thường thì cũng đòi hỏi một sự cảm thông và giúp đỡ chân thành của cộng đồng.
2. Hệ khái niệm công cụ
2.1 Khái niệm sinh viên:
Sinh viên theo từ gốc"student" trong tiếng Latinh là những người làm việc,
học tập, tìm hiểu và khai thác tri thức.
Theo nghĩa thông thường, sinh viên là người học tập ở bậc trung cấp, cao
đẳng và đại học.
2.2 Khái niệm giới tính:
Là khái niệm dùng để chỉ những đặc trưng sinh học của nam và nữ. Những
đặc trưng sinh học dường như là bất biến và đó là cơ sở cho những chuẩn mực
về vai trò giới sau này. Sự chuyển đổi giới tính có thể do sinh học, văn hoá, kinh
tế
* Các đặc điểm của giới tính
- Là đặc trưng sinh học quy định hoàn toàn bởi gien qua cơ chế di truyền.
- Bẩm sinh.
- Đồng nhất vì đây là sản phẩm của sự tiến hoá sinh học nên không phụ thuộc
vào không gian và thời gian.
2.3 Khái niệm giới:
Giới là khái niệm dùng để chỉ những mối quan hệ xã hội của nam và nữ.
Khái niệm giới liên quan đến sự học hỏi hành vi xã hội và những trông đợi được
tạo nên với hai giới tính. Giới là một sản phẩm của xã hội và liên quan đến quá
trình xã hội hoá.
* Các đặc điểm của giới:
- Một phần vẫn bị quy định bởi yếu tố sinh học của giới tính.
- Không mang tính di truyền, bẩm sinh mà được hình thành qua quá trình

người có quan hệ tình dục với người khác giới.
- Bisexual - dùng để chỉ những người có quan hệ tình dục với cả hai giới
( gốc từ bi - hai).
- Transgenderist- dùng để chỉ những người có hành vi khác với giới của
mình. Như nam giới nhưng lại có cách phục trang, ứng xử, phong cách như nữ
giới và ngược lại.
- Transsexual - xuyên giới tính: dùng để chỉ những người sống hoàn
toàn khác với giới "trời cho" của mình.
- Lưỡng giới - dùng để chỉ những người bẩm sinh có cả hai cơ quan sinh
dục nam và nữ và mang trong mình những yếu tố gen, hoócmôn của cả hai giới.
Đến một thời điểm nào đó do sự phát triển của cơ thể và đôi khi là do sức ép từ
môi trường bên ngoài (gia đình, xã hội) bắt buộc họ phải có sự lựa chọn một
giới tính và giới.
Từ điển Bách Khoa Việt Nam tập 1 đã đưa ra định nghĩa về đồng tính
luyến ái như sau:" Là quan hệ luyến ái, tình dục giữa những người cùng giới
tính, đều có bộ phận sinh dục phát triển bình thường. Trên thực tế thường gặp
đồng tính luyến ái giữa nam với nam, ít gặp ở nữ hơn. Đồng tính luyến ái tồn tại
từ lâu ở các nước phương Tây, có nơi chấp nhận như hợp pháp. Gần đây, được
dư luận xã hội chú ý vì là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây lan tràn
AIDS (hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)".
Homosexual (gốc từ Hy Lạp homos - cùng) là thuật ngữ dùng để chỉ
những người đồng tính luyến ái - những người chỉ quan hệ tình dục với những
người cùng giới với mình. Hiện tượng đồng tính luyến ái hay còn gọi là tình dục
đồng giới là sự hấp dẫn tình cảm và tình dục giữa những người cùng giới - nam
với nam, nữ với nữ.
Những người đồng tính luyến ái nam trong tiếng Anh được gọi là gay.
Còn những người đồng tính luyến ái nữ là lesbian.
* Khía cạnh bệnh lý, sinh học:
Về khía cạnh bệnh lý, có rất nhiều giả thuyết đưa ra nhưng những nhà khoa học
dường như đều nhất trí rằng đồng tính luyến ái là bẩm sinh chứ không phải mắc

- Thứ hai: do sự lôi kéo hoặc đua đòi. Dư luận xã hội về vấn đề này càng
được mở rộng càng làm nảy sinh một số lượng người đồng tính luyến ái "dởm",
a dua theo bạn bè. Họ coi đây là một thứ "mode" chứ không phải do bản chất.
Và cũng không ít những trường hợp những người bình thường tự biến mình
thành người đồng tính luyến ái vì lợi ích kinh tế hay những lợi ích khác.
- Thứ ba: do ảnh hưởng của luồng văn hoá nước ngoài. Nước ta từ khi mở
cửa, giao lưu kinh tế đồng thời cũng bắt buộc phải " giao lưu" với những luồng
văn hóa nước ngoài mà không ít trong số đó kém lành mạnh, đi ngược lại với
những quan niệm, thuần phong mỹ tục vốn có. Sự ảnh hưởng của văn hoá có thể
nhìn nhận rõ ràng qua cách sống, cách tiêu dùng văn hoá của người dân đặc biệt
là tầng lớp thanh niên. Văn hóa nước ngoài với cái nhìn khá "thoáng" về các vấn
đề giới tính hay tình dục dễ dàng ảnh hưởng đến nhóm đối tượng còn chưa có
nhiều hiểu biết và năng lực đánh giá này.
* Khía cạnh xã hội học:
Với cách tiếp cận xã hội học thì đồng tính luyến ái có thể được coi là một hiện
tượng lệch chuẩn. Bởi lối sống của người đồng tính luyến ái đi ngược lại với
những quan niệm đạo đức xã hội cũng như luật pháp của một số nước, nghĩa là
trái với những chuẩn mực tồn tại trong xã hội. Durkhiem trong cuốn "Các quy
tắc của phương pháp nghiên cứu xã hội học" đã đưa ra quan điểm: sai lệch là
tiền đề của biến đổi xã hội. Hiện tượng đồng tính luyến ái đã tạo ra những thay
đổi trong quan niệm của một số nước như chấp nhận họ như những người bình
thường, một giới tính thứ ba. Hà Lan và một bang của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
đã cho phép người đồng tính luyến ái được kết hôn, nghĩa là đã có sự chấp nhận
của luật pháp.
2.7 Khái niệm lệch chuẩn:
* Chuẩn mực là tổng số những mong đợi, những yêu cầu, những quy tắc
của xã hội được ghi nhận bằng lời, bằng ký hiệu hay bằng các biểu trưng cho
hướng cơ bản đối với các hành vi của thành viên trong xã hội. Những mong đợi,
những yêu cầu, những quy tắc xã hội đó xác định rõ cho mọi người những việc
nào nên làm và cần phải xử sự như thế nào cho đúng trong các tình huống xã hội

Theo hai tác giả này thì hành vi của con người là những phản ứng đáp lại hành
vi của người khác. Thực chất con người tồn tại trong một thế giới mà đối tượng
và ý nghĩa của nó chỉ xuất hiện trong tương tác giữa các cá nhân. Cá nhân tạo ra
các nhóm xã hội nhờ vào sự liên kết giữa họ về các biểu trưng. Và sở dĩ con
người giao tiếp được với nhau trong một tương tác xã hội nào đó là vì họ có
cùng chung một hệ thống biểu trưng nào đó. Biểu trưng có thể tồn tại ở dạng
ngôn ngữ viết, nói hoặc cả những ngôn ngữ không thành lời.
Khi một cá nhân đưa ra một thao tác, họ đã có sự cân nhắc về ý nghĩa của
thao tác, được gắn vào mục tiêu dưới dạng hình tượng trong ý thức của chủ thể.
Nếu trong tương tác, ý nghĩa của thao tác không được đối tác chấp nhận hoặc
đánh giá không tương ứng về ý nghĩa mà chủ thể đã đặt ra thì lập tức nó sẽ được
điều chỉnh phù hợp từ bên trong. Và quá trình đó sẽ lặp đi lặp lại cho đến khi
chủ thể nhận thức cho rằng đã phù hợp với biểu trưng của một chủ thể hành
động khác thì nó mới được lặp lại. Khi được lặp lại, nó được nâng cao lên một
bước về ý thức và được đối tức tiếp nhận theo một cách nào đó. Và kết quả là
chủ thể lại điều chỉnh nó lần thứ hai. Cứ như vậy, giữa các chủ thể sẽ hình thành
nên một biểu trưng chung, có ý nghĩa chung tương đối bền vững. Rõ ràng tồn tại
một sự chi phối giữa những biểu trưng chung của nhóm với các biểu trưng cá
nhân. Cá nhân có thể có những cách đánh giá, cách ứng xử riêng nhưng dường
như vẫn phải có sự đồng điệu giữa chúng với biểu trưng của nhóm. Bởi đó chính
là cơ sở cho sự hoà nhập của cá nhân với nhóm, nhờ đó cá nhân được chấp nhận
như một thành viên và nhóm mới phát triển.
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN
NGHỊ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
1.Tổng quan tình hình nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
Sự phát triển hay nói chính xác hơn là ngày càng có nhiều người đồng
tính luyến ái công khai lối sống khác thường của mình đã thu hút sự chú ý của
dư luận xã hội cũng như của các nhà nghiên cứu. Bởi việc tìm hiểu bản chất

người đọc có thể thu được những hiểu biết về nguyên nhân, bản chất của đồng
tính luyến ái cũng như cách giải quyết đối với hiện tượng này.
- Tạp chí AIDS và cộng đồng - Uỷ ban thường trực phòng chống AIDS quốc gia
( số 1-12-2000).
Trong tạp chí này, đồng tính luyến ái được nhắc đến như một nguyên nhân dẫn
đến sự gia tăng căn bệnh HIV/AIDS, đặc biệt là với nhóm đồng tính luyến ái
nam.
Việc nghiên cứu hiện tượng đồng tính luyến ái dưới góc độ khoa học cũng
như xã hội là rất cần thiết. Bởi nhờ đó, cộng đồng sẽ có những hiểu biết để tìm
cách giải quyết cũng như xác định một thái độ thích hợp với những người thuộc
nhóm xã hội này.
1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn và Đại học Tự nhiên đều
là thành viên thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội. Cả hai trường cùng nằm trên địa
bàn phường Thượng Đình - Quận Thanh Xuân. Đây là hai trường thuộc trường
Đại học Tổng hợp Hà Nội cũ nên vẫn được coi như những cơ sở đào tạo công
lập có uy tín trong hệ thống đào tạo đại học của nước ta.
Nhóm ngành mà trường Đại học KHXHNV tập trung đào tạo là khoa học
xã hội. Do vậy tỷ lệ sinh viên nữ trong trường cao hơn so với sinh viên nam. Có
10 khoa và một bộ môn với hàng nghìn sinh viên theo học mỗi năm.
Trường Đại học Tự Nhiên gồm 13 khoa với nhiều ngành học khác nhau. Cũng
do đặc thù đào tạo là khoa học tự nhiên nên số sinh viên nam trong trường
chiếm tỷ lệ cao hơn sinh viên nữ.
Sinh viên của hai trường có xuất thân từ nhiều địa phương trong nước nên
nơi cư trú của họ chủ yếu là ký túc xá và nhà trọ tại những khu vực xung quanh
trường như Thanh Xuân, Kim Giang, Nhân Chính, Phùng Khoang. Số sinh viên
của cả hai trường cư trú tại ký túc xá Mễ Trì là khoảng 2100 người.
Hai trường đều có tổ chức Đoàn và Hội sinh viên phát triển do vậy sinh viên đều
được cung cấp khá đầy đủ thông tin về những hiện tượng xã hội mới.
2. Mức độ biết đến của nhóm sinh viên đối với hiện tượng đồng tính luyến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status