PHÂN TÍCH MỘT SỐ MẶT HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XIMĂNG VÀ VLXD CẦU ĐƯỚC - Pdf 73

PHÂN TÍCH MỘT SỐ MẶT HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN XIMĂNG VÀ VLXD CẦU ĐƯỚC
2.1. PHÂN TÍCH CÁC HOẠT ĐỘNG MAKETING
2.1.1. Giới thiệu các loại hàng hoá, dịch vụ kinh doanh của công ty cổ
phần ximăng và vật liệu xây dựng Cầu Đước
- Sản phẩm chính của công ty cổ phần ximăng và vật liệu xây dựng Cầu
Đước là các sản phẩm sau:
- Xi măng Pooclăng PBC 30 và có các sản phẩm phụ sau:
+ Gạch Terazzo.
+ Gạch lát cầu thang.
Thị trường tiêu thụ của công ty là địa bàn tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, do quy
mô của dây chuyền còn thấp và khâu Maketing và tiếp thị còn yếu và với sức ép
cạnh tranh của các công ty ximăng khác trên địa bàn trong và ngoài tỉnh nên thị
phần của công ty trên thị tương còn nhỏ.
Về số lượng: Công ty sản xuất theo đơn đặt hàng và nhu cầu của thị trường,
do sản xuất ở lĩnh vực có sự ảnh hưởng của thời tiết ví dụ như vào mùa xây dựng ở
các tỉnh miền trung hàng năm vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 7 là chủ yếu, bởi vì
từ tháng 8 trở đi là mùa mưa lũ, nên sản lượng sản xuất có giảm. Và công ty là một
doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc sở xây dựng Nghệ An, do vậy khi nào có tỉnh
có các dự án được nhà nước đầu tư vào càng lớn thì chỉ tiêu về sản lượng được
nâng cao hơn, ví dụ như ở tỉnh có hai chương trình trọng điểm là bê tông kênh
mương và giao thông nông thôn. Nhưng nguồn vốn giải ngân của các công trình
còn chậm nên công ty bị ảnh hưởng về điều kiện duy trì và ổn định sản xuất.
Quá trình sản xuất sản phẩm của công ty luôn tuân theo quy trình nghiêm
ngặt của quốc tế như từ quá trình đưa phối liệu cho đến nghiền...đều được phòng
KCS kiểm tra chặt chẽ.
2.1.2. Số liệu về kết quả tiêu thụ sản phẩm mặt hàng ximăng của công ty
Cổ phần và VLXD Cầu Đước
* Bảng số liệu về kết quả tiêu thụ ximăng trong 3 năm từ năm 2001-2003.
( xem bảng 3).
* Nhận xét

của công ty như công ty ximăng Hoàng Mai năm 2003 là 590.000 đồng/ tấn.
Nhưng sản phẩm của công ty là 575.000 đồng/ tấn, do vậy sản phẩm của công ty
vẫn được các nhà thầu xây dựng và khách hàng lưu tâm.
Về tầm quy mô của doanh nghiệp và công nghệ của các nhà máy ximăng của
bạn có công nghệ hiện đại hơn. Nhưng doanh thu của nhà máy hàng năm là rất cao,
đời sống của cán bộ công nhân viên được đảm bảo với mức lương bình quân hàng
tháng là 1.127.000 Đ/ người, điều đó cho thấy sản phẩm của công ty tuy không có
tiếng như sản phẩm ximăng của các công ty ximăng khác, nhưng vẫn được người
tiêu dùng tín nhiệm đặc biệt là được Sở Xây Dựng Nghệ An ký quyết định cho sản
phẩm ximăng của nhà máy làm vật liệu chính cho hai dự án là Giao thông nông
thôn và bê tông hoá kênh mương.
2.1.4. Đặc điểm sản phẩm của công ty
Do nhận thức được một cách đầy đủ các mức độ của sản phẩm và có các biện
pháp hữu hiệu để thực hiện đầy đủ các mức sản phẩm nhằm thoả mãn sự mong đợi
của người tiêu dùng như: Sản phẩm cốt lõi đó là lợi ích mà người mua nhận được,
sản phẩm cụ thể như kiểu dáng, nhãn hiệu, bao bì, và các hình thức dịch vụ... Do
đặc thù của sản phẩm ximăng là không cần chú trọng đến hình thức bên ngoài như
bao bì, kiểu dáng như các sản phẩm tiêu dùng khác mà chú trọng đến thuộc tính
của sản phẩm hơn, do vậy công ty đã có các biện pháp hữu hiệu để thực hiện đầy
đủ các mức sản phẩm đó như công ty đã sản xuất sản phẩm ximăng theo đúng trình
tự quy định và kiểm tra chặt chẽ các nguyên vật liệu đầu vào..., bảo dưỡng, trung
tu, đại tu các trang thiết bị của dây chuyền công nghệ theo định kỳ, về bao bì của
sản phẩm , công ty đã mua dây chuyền công nghệ, máy dập và may để sản xuất
ngay trong nhà máy chứ không cần đặt hàng của các công ty bao bì, nhưng hiện
nay vỏ bao ximăng được làm hai lớp, bên ngoài là bao tải dứa được in tên và nhãn
hiệu của công ty lên trên và bên trong được làm bằng giấy Crap, với loại vỏ bao
này không những giúp vẫn chuyển một cách dễ dàng hơn mà nó còn giúp tránh
trường hợp các cá nhân, đại lý rút bớt trọng lượng ximăng. Khi nhận được đơn đặt
hàng thì công ty sẽ có xe vận chuyển tận chân công trình cho khách hàng mà khách
hàng không mất thêm chi phí cho vận chuyển.

ximăng giao trực tiếp tới tận công trình là rất nhiều, khoảng 14.000 tấn/ năm.
- Kênh một cấp (2): là kênh mà sản phẩm của công ty được giao tới các đại lý
của công ty, sản phẩm qua đại lý mới tới tay người tiêu dùng. Lượng ximăng giao
cho các đại lý chiếm vị trí chủ đạo trong mạng lưới phân phối của công ty, lượng
ximăng giao cho các đại lý năm 2003 là 40.000 tấn/ năm.
- Kênh nhiều cấp (3): là kênh mà hàng hoá của công ty qua nhiều khâu trung
gian, tức là hàng hoá của công ty tới tay khách hàng khi đã qua người bán buôn sau
đó tới ngươi bán lẻ, rồi mới tới người tiêu dùng. Lượng ximăng được tiêu thụ qua
kênh này thực sự là không lớn lắm, bởi vì các đại lý, của hàng vật liệu xây dựng
này chủ yếu là do tư nhân làm chủ nên mặt hàng nào bán chạy trên thị trường thì
Người tiêu
dùng
Công ty CP
XM &VLXD
Cầu Đước
Đại lý
Người bán buôn Người bán lẻ
họ mới bán, nhưng nắm bắt được điều này nên công ty đã phân phối được số lượng
không phải là nhỏ, năm 2003 theo kênh phân phối này công ty đã phân phối được
khoảng 10.000 tấn/ năm.
Tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty chủ yếu phân phối sản qua ba kênh
trên. khi có những đơn đặt hàng đột xuất thì công ty sẽ cơ động tìm cách giúp đỡ
các đối tác bằng cách cung ứng kịp thời, đúng thời hạn và đúng địa điểm.
* Phương thức bán hàng của công ty
Để hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty cũng như
đáp ứng được tối đa nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, Công ty đã tiến
hành không ngừng mở rộng, đa dạng hoá và hoàn thiện các phương thức bán hàng.
Đối với việc tiêu thụ sản phẩm thì khách hàng có thể nhận hàng tại kho của
Công ty, năm 2003 lượng hàng giao tại kho của công ty lên đến 4000 tấn, hoặc
Công ty có trách nhiệm giao hàng tại địa điểm thoả thuận trong hợp đồng. Khi

thiệu tại các cửa hàng, đại lý giới thiệu sản phẩm của công ty mà còn được tiến
hành thông qua việc tham dự các hội chợ triển lãm hàng công nghiệp, hàng tiêu
dùng trong nước. Kết hợp với các hình thức quảng cáo phong phú đa dạng thực
hiện trên các báo, tạp chí, các đơn chào hàng..., công ty không chỉ đưa thông tin về
sản phẩm, về hình ảnh của mình đến với khách hàng mà còn tiếp nhận thông tin từ
phía khách hàng giúp cho công ty thực hiện tốt công tác sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm góp phần nâng cao doanh thu và lợi nhuận của công ty.
Năm 2001 chi phí cho quảng cáo lên đến 196.450.744 đồng, năm 2002 chi phí
cho quảng cáo của công ty là 70.000.000 đồng, nhưng đến năm 2003 chi phí dành
cho quảng cáo là 173.450.000 đồng.
Qua bảng tập hợp chi phí quản lý của công ty trong 3 năm từ 2001- 2003, ta
thấy chi phí mà công ty dành cho quảng cáo có chiều hướng giảm, năm 2001 chi
phí quảng cáo của công ty là 196.450.744 đồng, sang năm 2002 chi phí quảng cáo
giảm xuống còn 70.000.000 đồng, như vậy so với năm 2001, năm 2002 giảm
126.450.744 đồng, tỷ lệ giảm là 64,37%. Nhưng sang năm 2003 công ty đã chú
trọng hơn trong việc Maketing và quảng cáo sản phẩm của công ty, nên chi phí
quảng cáo của công ty là 173.450.000 đồng.
Qua số liệu trên ta thấy chi phí dành cho quảng cáo của công ty còn thấp, công
ty còn chưa thực sự chú trọng và thấy được tầm quan trọng của quảng cáo.
* Chiết khấu bán hàng: Để đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu
công ty đã sử dụng biện pháp chiết khấu bán hàng để khuyến khích khách hàng
thanh toán nhanh. Điều này góp phần tăng doanh thu tiêu thụ, tăng vòng quay của
vốn sản xuất, hạn chế sự chiếm dụng vốn của khách hàng đối với Công ty đồng
thời cũng cải thiện tình hình tài chính của công ty. áp dụng các biện pháp để thu lại
tiền hàng một cách nhanh nhất, năm 2002 và năm 2003 công ty áp dụng mức chiết
khấu cho khách hàng như sau:
+ Nếu khách hàng thanh toán trước thời hạn thì công ty sẽ cho khách hàng
hưởng mức chiết khấu ưu đãi là 7%.
+ Trường hợp thanh toán đúng hạn, thì công ty sẽ cho hưởng mức chiết khấu
là 5%.

Lao động
phụ trợ
Tổng
Cộng
Tổng số lao động 248 62 40 350
I. Cơ cấu giới tính
1. Nam 190 40 25 260
2. Nữ 58 22 15 90
II. Độ tuổi
1. Dưới 20 15 4 5 24
2. Từ 20 đến 30 62 10 8 80
3. Từ 31 đến 40 68 16 21 105
4. Từ 41 đến 50 45 15 6 66
5. Từ 51 đến 60 40 11 0 51
6. Trên 60 18 6 0 24
III. Trình độ văn hoá
1. Từ TH trở xuống 154 0 18 172
2. Tốt nghiệp PTTH 94 13 22 129
3. Tốt nghiệp ĐH 0 40 0 40
4. Trên đại học 0 9 0 9
IV. Bậc thợ
1. Dưới bậc 3 163 0 0 163
2. Bậc 3 đến 5 48 0 11 55
3. Bậc 6 trở lên 37 0 13 55
*Nhận xét
- Mặt mạnh: công ty cần nhiều lao động nên phần nào đã góp phần tạo công ăn
việc làm cho rất nhiều người ở địa phương, đồng thời làm giảm bớt nạn thất nghiệp
đang là vấn đề cần phải quyết ở nước ta hiện nay.
- Độ tuổi trung bình của công nhân viên công ty là: 38,06 Tuổi/ người, độ tuổi
công nhân công ty hiện có rất nhiều người từ độ tuổi từ 31-40. Đó là một lợi thế

- Đối với lao động trực tiếp, công ty tuyển dụng người có sức khoẻ sau đó đào
tạo họ trong 3 tháng qua thử việc rồi mới đưa họ vào vị trí thích hợp trong dây
truyền sản xuất, còn một số lao động công ty có thể ký hợp đồng theo mùa vụ. Như
vào mùa xây dựng lượng ximăng tiêu thụ là rất lớn, vì vậy công ty đã chủ động ký
kết hợp đồng theo thời vụ với số nhân công nhàn rỗi của địa phương.
- Đối với các trường hợp đến độ tuổi về hưu và đối với các trường hợp nghỉ mất
sức công ty sẽ giải quyết đúng theo chế độ
* Tổng quỹ lương của Công ty
- Quỹ lương của doanh nghiệp năm 2004 là: 4.733.755.764 Đồng.
- Lương tháng bình quân/ người/ tháng: 1.127.000 Đồng.
Quỹ lương xây dựng trên cơ sở căn cứ vào sản phẩm sản xuất và tiêu thụ được
trong tháng.
Quỹ lương bao gồm lương chính và lương phụ, việc trả lương được căn cứ vào
quyết định của chính phủ về điều lệ điều chỉnh mức lương tối thiểu từ 01/1/2003,
căn cứ vào tình hình thực tế sản xuất của công ty, và xét yêu cầu về chát lượng vật
tư, nguyên liệu, an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp và yêu cầu chất lượng sản
phẩm để ra quyết định:
- Lương chính: là lương được trả theo chế độ cấp bậc tiền lương do nhà nước
quy định.
* Quỹ lương/ năm tính cho khối lao động trực tiếp của công ty được xác định
theo công thức sau:
QL =

=
n
i
LgHiSi
1
12min***
tháng + Tổng phụ cấp các loại

thời gian: căn cứ vào thời gian làm việc thực tế, hệ số quy định, hệ số chức vụ và
và chế độ tiền lương trong một đơn vị thời gian. Ví dụ như chức vụ của công ty có
hệ số là 4,98 và được hưởng hệ số cấp bậc là 1,45 nhân với 40% * 577.680 đồng.
Như vậy lương mà giám đốc công ty được nhận là 1.988.374,5 đồng.
- Đối với lao động trực tiếp sản xuất, công ty trả lương theo sản phẩm và theo
bậc thợ: căn cứ vào khối lượng sản phẩm thực tế hoàn thành và đơn giá lương cho
1 đơn vị sản phẩm và theo bậc thợ.

Trích đoạn Tính toán một số chỉ tiêu tài chính cơ bản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status