PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TUẤN LÂM - Pdf 73

PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
TUẤN LÂM
Qua quá trình tìm hiểu thực tế về công tác quản lý hạch toán kế toán nói chung và
công tác quản lý hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm nói riêng, được sự quan tâm
giúp đỡ tận tình của ban lãnh đạo công ty, các phòng ban chức năng và đặc biệt là phòng
tài vụ đã tạo diều kiện để em nghiên cứu và làm quen với thực tế, củng cố thêm vốn kiến
thức đã học ở trường đồng thời liên hệ mở mang kiến thức thực tiễn.
Với thời gian thực tập không dài nhưng qua báo cáo chuyên đề thực tập tốt nghiệp
này em xin trình bày một số nhân xét và kiến nghị về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành ở công ty với mục đích hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành ở Công ty.
I. Đánh giá khái quát về cách hạch toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản
phẩm xây lắp.
1. Ưu điểm
Là một doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Công ty Cổ phần Tuấn Lâm đă đạt được nhiều
thành tựu to lớn trong lĩnh vực kinh doanh của mình chỉ sau 4 năm hình thành và hoạt
động. Với năng lực tài chính, thiết bị, lực lượng chuyên môn kỹ thuật và công nhân lành
nghề, công ty đã đáp ứng đầy đủ và tốt nhất các yêu cầu mà công trình đặt ra, đảm bảo thi
công công trình với chất lượng cao, đúng tiến độ, theo đúng chế độ xây dựng cơ bản do
Nhà nước ban hành, thực hiện hoàn hảo các yêu cầu về kỹ thuật và mỹ thuật của công
trình. Các công trình của công ty tham gia thi công đều được Chủ đầu tư đánh giá cao về
chất lượng, tiến độ và giá thành hợp lý. Đời sống vật chất và tình thần của công nhân viên
càng ngày càng được hoàn thiện đã tạo ra môi trường làm việc lành mạnh giúp công ty đạt
được năng suất lao động cao. Có được những thành tựu như vậy là do sự cố gắng nỗ lực
của Công ty trên các khía cạnh sau:
* Về tổ chức quản lý: Công ty đã xây dựng được mô hình quản lý khoa học, có hiệu quả,
phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Với mô hình quản lý này, Công ty đã chủ
động hơn trong sản xuất kinh doanh bởi việc phân cấp, phân quyền quản lý cũng như phân
công nhiệm vụ của các phòng ban, các cấp lãnh đạo được thực hiện một cách rõ ràng và
hợp lý.

để phân tích hoạt động kinh tế, tính toán và đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh tạo điều kiện cơ giới hóa công tác kế toán của công ty.
* Về công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
Đánh giá đúng mức tầm quan trọng của phần hành kế toán này, Công ty đã lựa chọn đối
tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành là từng công trình, hạng mục công trình
cho từng kỳ rõ ràng và cụ thể đồng thời phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm cũng được xác định phù hợp với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành. Chi phí được tập hợp theo từng khoản mục, tạo điều kiện cho công tác đánh giá
sản phẩm dở dang, tính giá thành sản phẩm được chính xác đồng thời giúp cho doanh
nghiệp có thể so sánh tình hình thực hiện với kế hoạch đề ra. Từ đó thấy được những ưu
điểm cũng như hạn chế và có biện pháp khắc phục kịp thời.
+ Về chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Các đội tự mua về theo như dự toán được ký
duyệt bằng tiền tạm ứng tạo sự linh động và chủ động cho việc thu công được liên tục và
thuận lợi đặc biệt là trong tình hình của Công ty không có bến bãi, kho chứa đựng mà chỉ
để tự các đội quản lý mua về và đem xuất tiêu dùng. Các chứng từ được kế toán đội tập
hợp một cách đầy đủ giao cho đội trưởng đem về hoàn ứng và ghi sổ. Công ty theo dõi CP
NVLTT trên TK 152 được ghi chép khá đầy đủ tình hình nhập xuất NVL tại mỗi đội có chi
phí này phát sinh tạo ra sự quản lý một cách chặt chẽ trong việc tiêu thụ NVL đồng thời tạo
điều kiện cho việc kiểm tra tình hình tiêu hao vật liệu có được hợp lý không so với công
việc thực hiện và dự toán công trình. Đây chính là ưu điểm của mà Công ty đã khai thác
triệt để cơ chế khoán gọn trong các doanh nghiệp xây lắp này.
+ Về chi phí nhân công trực tiếp sản xuất: Việc theo dõi tiền lương ở Công ty khá chặt
chẽ, có phân biệt rõ tiền lương cho bộ phận lao động phổ thông trực tiếp và lao động gián
tiếp bộ phận quản lý, BHXH và BHYT. Lương của công nhân trực tiếp được tính dựa vào
bảng chấm công và đơn giá ngày công được tính theo khối lượng sản phẩm khoán hoàn
thành. Cách tính này hoàn toàn phù hợp với chế độ lao động tiền lương, và chế độ kế toán
hiện hành đồng thời tạo nên trách nhiệm của ngươig lao động trong công việc năng cao
hiệu quả sản xuất và đảm bảo được tiến độ thi công. Đối với nhân viên quản lý được tính
lương theo hệ số lương và thời gian làm việc, nâng cao trách nhiệm của bộ phận quản lý.
+ Về chi phí sử dụng máy thi công: Được theo dõi thông qua hàng loạt các chứng từ có

xa, phân tán rộng đã làm hạn chế cho việc cập nhật giao nộp chứng từ từ các công trình thi
công mặc dù tại các đội thi công đều có nhân viên kinh tế có nhiệm vụ thu thập, tập hợp
chứng từ và lên các bảng kê nhưng tất cả phải được nộp lên cùng một lúc của nhiều tháng
làm cho công việc kế toán dồn vào cuối tháng, cuối kỳ làm chậm cho việc quyết toán tính
giá thành công trình. Đặc biệt đối với công trình ở quá xa so với trụ sở của công ty thì lại
càng khó khăn hơn.
* Về hệ thống tài khoản sử dụng:
Hệ thống tài khoản của Công ty hiện nay theo đúng chế độ kế toán. Mỗi một tài khoản chi
phí lại được chi tiết theo từng công trình, hạng mục công trình nhưng lại không đã mã hoá
cho gọn nhẽ để mỗi bút toán nghiệp vụ được phản ánh ngay cho công trình nào đó.
Công ty nên mở chi tiết lại tài khoản sao cho gắn gọn dễ hiểu, dễ sử dụng trong việc hạch
toán phân cho từng loại công trình hạng mục công trình tạo ra sự dễ so sánh, đối chiếu,
tổng hợp cho từng công trình.
* Về hình thức sổ:
Công ty áp dụng hình thức sổ “Nhật ký chung”, phương pháp này vì đơn giản nên trong 1
vài trường hợp không đáp ứng được yêu cầu chi tiết của người quản lý.
* Về hạch toán chi phí:
+ Đối với CPNVLTT: Trong quá trình sản xuất của Công ty, NVLTT chiếm một tỷ
trọng lớn và là mục tiêu để hạ giá thành sản phẩm nhưng trên thực tế với cơ chế khoán
gọn, Công ty đã cho các đội tự mua sắm vật tư theo dự toán được duyệt. Công ty chỉ quản
lý thông qua hệ thống chứng từ do các đội chuyển lên. Với hình thức này sẽ dẫn đến tình
trạng các đội trực tiếp thi công sẽ tìm mọi tiết kiệm chi phí để hưởng phần chênh lệch. Đặc
biệt trong tình hình hiện nay do sự biến động của giá cả thị trường, đội sản xuất muốn đảm
bảo mức khoán đã nhận thì phải tìm cách sử dụng các nguyên vật liệu thay thế, hoặc bằng
cách nào đó để mức chi phí không đẩy lên quá cao. Điều này dẫn đến tình trạng không
kiểm soát được chất lượng chủng loại của NVL dùng vào thi công công trình
+ Chi phí NCTT: Có những trường hợp, Công ty hạch toán chi phí NCTT thi công
công trình Công ty phản ánh qua 334 mà tính ngay vào chi phí công trình theo cách như
sau: Nợ TK622/ Có TK 141 cho lao động trực tiếp thi công thuê ngoài không theo chuẩn
mực kế toán.

cho các đối tượng.
Riêng ngành xây dựng cơ bản giá mua và giá bán sản phẩm còn được tính trước khi
sản xuất ra sản phẩm đó là hợp đồng giao thầu và dự toán công trình. Để bù đắp những chi
phí và có lãi, trong quá trình sản xuất các đội công trình và công ty đối chiếu giữa chi phí
thực tế phát sinh và giá dự toán để phát hiện những khối lượng lập sót hoặc do thực tế thi
công phát sinh giá mua không phù hợp với giá khi lập dự toán.
Do tính chất phức tạp của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp trong xây dựng cơ bản, cho thấy cần phải hoàn thiện và có những biện pháp
tối ưu để chấn chỉnh một cách đồng bộ và hữu ích đối với các doanh nghiệp xây lắp về kế
toán tập hợp chi phí giúp cho các nhà quản lý, các cơ quan chức năng quản lý một cách
chặt chẽ chi phí bỏ ra, hạch toán chính xác giá thành sản phẩm, đồng thời có biện phấp tích
cực đến việc tiết kiêm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm xây lắp và nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh của công ty.
Muốn vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải hết sức năng động, sáng tạo trong việc áp dụng chế
độ chính sách, làm tốt các khâu liên quan ảnh hưởng tới chi phí sản xuất như: việc luân
chuyển chứng từ kế toán, tính toán số liệu vật liệu xuất dùng thi công, tiền lương công
nhân trực tiếp sản xuất...
1. Về luân chuyển chứng từ:
Công ty có địa bàn hoạt động rộng, số lượng công trình mà Công ty thi công trong
cùng một thời gian nhiều, rải rác, phân tán. Do đó việc luân chuyển chứng từ gốc lên
phòng kế toán Công ty không tránh khỏi chậm trễ. Việc phản ánh các khoản chi phí không
đúng thời gian phát sinh, công việc kế tóan dồn vào cuối kỳ dẫn đến việc quyết toán chậm,
không đảm bảo yêu cầu của quản lý.
Để khắc phục tình trạng chậm chễ này, phòng kế toán cần quy định về thời gian
nộp chứng từ cho kịp thời chuyển về phòng kế toán để có số liệu phản ánh kịp thời trong
sổ sách kế toán, tránh trường hợp chi phí phát sinh kỳ này nhưng kỳ sau mới ghi sổ. Muốn
vậy, kế toán trưởng nên cần xây dựng lịch trình cho các đội, xí nghiệp thi hành như
Đối với công trình ở gần trong phạm vi địa bàn có trụ sở thì định kỳ khoảng 5 ngày tập hợp
chứng từ một lần
Đối với công trình cách trụ sở từ 100 Km đến 200 Km thì định kỳ 15 ngày tập hợp một lần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status