MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG DOANH NGHIỆP - Pdf 73

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG DOANH NGHIỆP.
I. khái niệm và đặc điểm chung về tài sản cố định
1.1 khái niệm tscđ:
TSCĐHH Là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để
sử dụng cho hoạt động kinh doanh phù hợp với tiêu chẩn của TSCĐ.
TCSĐ là những tư liệu lao động và các đặc quyền có giá trị lớn và thời gian
sử dụng lâu dài. khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, TSCĐ bị hao mòn
dần và giá trị của nó được chuyển dịch dần vào chi phí sản xuất kinh doanh. Khác
với đối tượng lao động, TSCĐ tham gia nhiều chu kỳ kinh doanh và giữ nguyên
hình thái vật chất ban đầu cho đến lúc hư hỏng.
Căn cứ để phân biệt TSCĐ với công cụ lao động nhỏ là giá trị tối thiểu và
thời gian sử dụng của tài sản. Mức giá trị và thời gian này do các cơ quan có thẩm
quyền của nhà nước quy định và các mức này không cố định mà có thể thay đổi
cho phù hợp với thời giá trên thị trường và các yếu tố khác xuất phát từ yêu cầu
sản xuất. Hiện nay theo tiêu chuẩn quy định TSCĐHH ban hành theo quyết định số
149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của bộ trưởng BTC. Tiêu chuẩn ghi nhận
TCSĐHH như sau:
Các tài sản được ghi nhận là TSCĐHH phải thoả mãn đồng thời cả 4 tiêu
chuẩn sau:
-Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài
sản đó
- Nguyên giá của tài sản phải được xác định một cách tin cậy.
- Thời gian sử dụng ước tính trên một năm.
- Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành
Những tư liệu lao động thiếu một trong 4 tiêu chuẩn trên thì coi là công cụ
dụng cụ nhỏ. Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu quản lý đặc thù của mỗi ngành, bộ chủ
quản, sau khi được sự đồng ý của bộ tài chính, có thể quy định những tư liệu lao
động không đủ những tiêu chuẩn nói trên vẫn được coi là TSCĐ và ngược lại.
• Đặc điểm của TSCĐ
TSCĐ có đặc điểm nổi bật là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất. Khi tham gia
vào chu kỳ sản xuất thì :

giá trị còn lại. khi thay đổi nguyên giá TSCĐ, doanh nghiệp phải lập biên bản ghi
rõ các căn cứ thay đổi và xác định lại các chỉ tiêu nguyên giá,giá trị còn lại, số hao
mòn luỹ kế của TSCĐ trên sổ kế toán và tiến hành hạch toán theo quy định hiện
hành.
- Về điều động, nhượng bán, thanh lý TSCĐ.
Chỉ được điều động, nhựơng bán ,thanh lý TSCĐ không cần dùng hoặc không
dùng được khi có quyết định của cấp có thẩm quyền theo đúng chế độ quản lý tài
sản của nhà nước và doanh nghiệp phải làm đầy đủ các thủ tục cần thiết, phải căn
cứ vào biên bản giao nhận, thanh lý, xử lý tài sản và chứng từ liên quan để ghi
giảm TSCĐ theo quy định tại chế độ kế toán.
- Về xử lý tài sản mất hư hỏng.
Do nguyên nhân chủ quan của người quản lý, sử dụng, doanh nghiệp phải báo cáo
rõ cho cơ quan tài chính trực tiếp quản lý, cơ quan chủ quản cấp trên và xác định rõ
nguyên nhân, quy kết rõ trách nhiệm vật chất cụ thể và cá nhân có liên quan theo
đúng chế độ hiện hành của nhà nước.
-Về quản lý các tài sản là công cụ, dụng cụ lâu bền.
Những tài sản có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên hoặc có thời gian sử dụng trên
một năm mà không coi là TSCĐ thì được xếp vào nhóm tài sản công cụ, dụng cụ
lâu bền từ khi xuất ra sử dụng cho tới lúc báo hỏng.
Mặc dù yêu cầu quản lý TSCĐ đã được quy định cụ thể song những yêu cầu
quản lý này lệ thuộc vào biến đổi tuỳ theo cơ chế quản lý nền kinh tế quốc dân và
cơ chế quản lý trong doanh nghiệp miễn sao khắc phục được những kẽ hở trong
công tác quản lý. Bảo đảm mọi TSCĐ trong doanh nghiệp đều có người chịu trách
nhiệm quản lý, sử dụng, bảo vệ.
1.2 phân loại TSCĐ
TSCĐ gồm nhiều loại và khác nhau về công dụng kinh tế, đơn vị tính toán,
chức năng kỹ thuật và thời gian sử dụng. Do đó để tạo điều kiện cho việc quản lý
TSCĐ , toàn bộ TSCĐ được phân thành nhiều loại, nhiều nhóm theo những đặc
trưng nhất định. Việc phân loại TSCĐ nhằm mục đích lập kế hoạch sản xuất, sửa
chữa và hiện đại hoá TSCĐ, là cơ sở để xác định mức khấu hao và giá trị còn lại.

• TSCĐ tự có:
Là những TSCĐ xây dựng hoặc mua sắm, chế tạo bằng nguồn vốn của doanh
nghiệp, do ngân sách cấp, do đi vay, nguồn vốn tự bổ sung…
• TSCĐ thuê ngoài:
Là những tài sản thuộc quyền sở hữu của các doanh nghiệp hoặc cá nhân ngoài
đơn vị, qua quan hệ thuê mượn mà doanh nghiệp có quyền sử dụng chúng vào hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình trong thời gian thuê mượn. TSCĐ thuê ngoài
gồm các loại sau:
- TSCĐ thuê tài chính
- TSCĐ thuê hoạt động.
Cách phân loại này cho phép xác định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của doanh
nghiệp đối với các TSCĐ, từ đó có được phương pháp quản lý đúng đắn với mỗi
loại TSCĐ, tính toán hợp lý các chi phí về TSCĐ để đưa vào giá thành sản phẩm.
c) phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành.
Theo cách này TSCĐ gồm có:
-TSCĐ mua sắm, xây dựng bằng vốn được cấp
-TSCĐ mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn vay.
-TSCĐ mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn tự bổ sung của đơn vị( quỹ phát
triển ,quỹ phúc lợi..)
-TSCĐ nhận vốn góp liên doanh bằng hiện vật.
-Cách phân loại này chỉ rõ nguồn hình thành các tài sản, từ đó có kế hoạch bù
đắp, bảo toàn các nguồn vốn bằng các phương pháp thích hợp.
d) phân loại TSCĐ theo mức độ tham gia vào quá trình sản xuất.
Theo cách phân loại này TSCĐ được phân thành hai loại:
-TSCĐ tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất: là các loại máy móc, thiết bị,
nhà xưởng tham gia vào quá trình tạo nên sản phẩm của doanh nghiệp.
-TSCĐ gián tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất: là các TSCĐ dùng cho mục
đích quản lý hoặc sử dụng để đảm bảo an toàn, đảm bảo môi trường,…cho quá
trình sản xuất. Các tài sản này không trực tiếp tạo nên sản phẩm nhưng bắt buộc
phải có trong quá trình sản xuất.

một TSCĐ nào đó so với tổng nguyên giá toàn bộ TSCĐ của Doanh nghiệp trong
một
thời kỳ nhất định . Vì vậy khi đã phân loại TSCĐ, có thể phân tích kết cấu của nó
để có những thông tin cần thiết khác phục vụ quản lý.
f) Đánh giá TSCĐ
1. Nguyên giá TSCĐ
• khái niệm:
Nguyên giá là toàn bộ các chi phí thực tế đã bỏ ra để có TSCĐ cho tới khi đưa
TSCĐ đi vào hoạt động bình thường như: giá mua thực tế của TSCĐ, các chi phí
vận chuyển, bốc dỡ, chi phí lắp đặt chạy thử , lãi tiền vay cho đầu tư TSCĐ khi
chưa bàn giao và đưa tài sản vào sử dụng, thuế và lệ phí trước bạ (nếu có).
• ý nghĩa của việc tính giá theo nguyên giá.
-Tính giá TSCĐ phục vụ cho yêu cầu quản lý và hạch toán TSCĐ.
-Thông qua đó ta có được thông tin tổng hợp về tổng giá trị TSCĐ của doanh
nghiệp.
-Xác định được giá trị TSCĐ để tiến hành khấu hao.
-Sử dụng tính giá TSCĐ để tiến hành phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ trong
doanh nghiệp.
• Các trường hợp xác định nguyên giá.
-Đối với các TSCĐ hữu hình tuỳ thuộc vào các nguồn hình thành khác nhau,
nguyên giá được xác định như sau:
+Nguyên gia TSCĐ loại mua sắm kể cả mới và cũ bao gồm: giá mua thực tế
phải trả theo hoá đơn của người bán cộng với thuế nhập khẩu và các khoản phí tổn
mới trước khi dùng, trừ các khoản giảm giá, chiết khấu mua hàng(nếu có)
Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ thì giá mua là cả tính thuế
giá trị gia tăng (VAT)
Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng và
TSCĐ sử dụng cho phúc lợi, sự nghiệp, dự án thì giá mua là giá có tính thuế giá trị
gia tăng.
+Nguyên giá TSCĐ loại đầu tư xây dựng cơ bản,kể cả tự làm và thuê ngoài là

II. kế toán chi tiết TSCĐ
2.1 vai trò, nhiệm vụ của kế toán chi tiết TSCĐ
Kế toán là hệ thống thông tin phục vụ quản lý nền kinh tế. Vì vậy để phục vụ
tốt công tác quản lý, giám đốc chặt chẽ nhằm sử dụng có hiệu quả TSCĐ cần phải
tổ chức công tác kế toán TSCĐ. Vai trò của kế toán đối với công tác quản lý và sử
dụng TSCĐ được thể hiện qua các nhiệm vụ sau:
-Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu một cách đầy đủ kịp thời về số
lượng , hiện trạng và giá trị TSCĐ hiện có , tình hình tăng giảm và di chuyển
TSCĐ.
- Tham gia lập dự án chi phí nâng cấp , cải tạo TSCĐ, chi phí sửa chữa phản
ánh và giám sát tình hình thực hiện dư toán chi phí nâng cấp , cải tạo TSCĐ, chi
phí sửa chữa TSCĐ nhằm tiết kiệm chi phí TSCĐ.
- Hướng dẫn kiểm tra các bộ phận , đơn vị phụ thuộc , thực hiện đúng chế độ
hạch toán TSCĐ ,tham gia kiểm kê đánh giá TSCĐ.
2.2 Thủ tục và hồ sơ :
Trong quá trình sản xuất TSCĐ của doanh nghiệp thường xuyên biến động .
Để quản lý tốt TSCĐ kế toán cần phải theo dõi chặt chẽ tăng giảm TSCĐ .
Mỗi khi TSCĐ tăng thêm , doanh nghiệp phải lập ban nghiệm thu , kiểm nhận
TSCĐ. Ban này có nhiệm vụ nghiệm thu và cùng với đại diện đơn vị giao TSCĐ
lập biên bản giao nhận TSCĐ, biên bản này lập cho từng đối tượng TSCĐ. Với
những TSCĐ từng loại giao nhận cùng một lúc, do cùng một đơn vị chuyển giao
thì có thể lập trung một biên bản . Sau đó phòng kế toán phải sao cho mỗi đối
tượng một bản để lưu vào hồ sơ riêng . Hồ sơ đó bao gồm iên bản giao nhận
TSCĐ, các bản sao tài liẹu kĩ thuật , các hoá đơn , giấy vận chuyển , bốc rỡ .
Phòng kế toán giữ lại để làm căn cứ hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết
TSCĐ.
Căn cứ vào hồ sơ phòng kế toán mở thẻ để hạch toán chi tiết TSCĐ theo mẫu
thống nhất . Thẻ TSCĐ được lập một bản và để lại phòng kế toán để theo dõi ,
phản ánh diễn biến phát sinh trong quá trình sử dụng . Toàn bộ thẻ TSCĐ được
bảo quản tập trung tại hòm thẻ trong đó chia thành nhiều ngăn để xếp theo yêu cầu

Địa điểm giao nhận TSCĐ:
Xác nhận việc giao nhận TSCD như sau :
ST
T
tên ký mã
hiệu qui
cách cấp
hạng
TSCĐ
số hiệu
TSCĐ
nước
sản
xuất,
xây
dựng
năm
sản
xuất
năm
đưa
vào sử
dụng
công
xuất
( diện
tích
thiết kế
tính nguyên giá TSCĐ tỷ lệ
hao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status