THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ TẠI CÔNG TY XĂNG DẦU HÀNG KHÔNG VIỆT NAM - Pdf 73

THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ
TIÊU THỤ TẠI CÔNG TY XĂNG DẦU HÀNG KHÔNG VIỆT
NAM
1. Những đặc thù riêng có của công ty xăng dầu Hàng không Việt Nam chi
phối đến công tác tiêu thụ hàng hoá
1.1. Đặc điểm hàng hoá kinh doanh tại công ty
Hàng hóa được công ty nhập khẩu từ các thị trường quốc tế lớn như
Singapore, Trung Quốc, Trung Đông…Hàng hóa được phân làm hai loại: hàng hóa
trong ngành và hàng hóa ngoài ngành. Trong đó, các loại hàng hóa trong ngành chủ
yếu là dầu Jet và Do và các mặt hàng xăng nhớt dùng để tra nạp cho các máy bay.
Các hàng hóa ngoài ngành chủ yếu là các loại xăng, dầu dân dụng. Các mặt hàng
kinh doanh chính của công ty gồm:
* Nhiên liệu phản lực hàng không
Nhiên liệu phản lực hàng không (Jet A1) là loại nhiên liệu cần thiết chủ
yếu cho sự hoạt động của máy bay. Jet A1 đáp ứng đầy đủ yêu cầu quy định trong
“Yêu cầu chất lượng nhiên liệu Hàng không dùng cho hệ thống hoạt động chung
AFQRZOS”.
Loại nhiên liệu phản lực Hàng không này là nhiên liệu trên cơ sở dầu hoả
với một số chất phụ gia bổ sung sau: tetraetyl chì (có tác dụng để tăng điểm bắt lửa
của nhiên liệu; các chất oxi hoá để ngăn ngừa quá trình gum hoá; các chất chống
tĩnh điện; các chất ức chế ăn mòn; các chất chống đóng băng và các chất phụ gia
sinh học (hay còn gọi là biôxit). Loại nhiên liệu phản lực Hàng không này được
bơm liên tục vào buồng đốt sau khi đi qua 1 hệ thống lọc, tại đó nó được trộn lẫn,
hóa hơi trong không khí nóng, bị nén và cháy liên tục để tạo ra một hỗn hợp khí xả
để chuyển động định hướng về phía sau động cơ làm quay tuốc bin và thoát ra
thành dòng khí tốc độ cao, đẩy máy bay về phía trước
* Xăng các loại
Xăng máy bay chỉ được sử dụng trong các máy bay có sử dụng động cơ đốt
trong, các máy bay phản lực và các động cơ tuôcbin sử dụng kêrôsin làm nhiên
liệu. Xăng máy bay là nhiên liệu có chỉ số ôctan cao, có tính bay hơi thấp, đây là
thuộc tính quan trọng để sử dụng trong các độ cao lớn. Thành phần chính trong

lưu thương mại với các quốc gia trên thế giới. Từ khi thành lập đến nay, công ty đã
thiết lập được 1 văn phòng đại diện và xây dựng được hệ thống chi nhánh, xí
nghiệp trên khắp 3 miền của đất nước: Miền Bắc (tại Hà nội); miền Trung (tại Đà
nẵng, Nghệ an); miền Nam (tại TP Hồ Chí Minh). Thị trường của doanh nghiệp
được ngày càng mở rộng, các hợp đồng kinh tế được ký kết ngày càng nhiều, đem
lại một nguồn thu không nhỏ cho Ngân sách Nhà nước. Hiện nay, công ty đang độc
quyền cung cấp nhiên liệu cho tất cả các sân bay trong cả nước. Các sản phẩm của
công ty không chỉ cung cấp cho các hãng Hàng không mà còn phục vụ cho nhu cầu
nhiên liệu chạy máy của các xí nghiệp công nghiệp. Điều này cho thấy thị trường
tiêu thụ của doanh nghiệp ngày càng trở nên phong phú, đa dạng. Vài năm tới,
công ty đang có kế hoạch xin Tổng công ty Hàng không cho phép mở thêm chi
nhánh ở nước ngoài, nhằm tăng cường quan hệ hợp tác và mở rộng thị trường tiêu
thụ.
1.3. Đặc điểm các phương thức bán hàng
Hàng hóa mua về nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ. Quá trình
bán hàng là để tìm kiếm lợi nhuận từ lượng hàng nhập về. Chính vì vậy, việc xây
dựng các phương thức bán cũng như các kênh phân phối là điều kiện tiên quyết
đem lại thành công cho công ty. Công ty thực hiện bán hàng theo hai phương thức
chủ yếu sau:
* Phương thức bán buôn trực tiếp cho khách hàng: theo phương pháp này,
hàng hoá có thể xuất cho khách hàng tại kho công ty hoặc xuất cho khách hàng tại
các kho cảng đầu nguồn. Hàng hoá công ty bán buôn trực tiếp cho khách thường
chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng doanh thu bán hàng.
+ Bán buôn qua kho: công ty có thể bán buôn giao hàng trực tiếp cho khách
hàng hoặc bán buôn theo phương thức vận chuyển hàng. Trường hợp bán buôn
giao hàng trực tiếp cho khách, thủ kho sau khi nhận được lệnh xuất kho của phòng
kinh doanh xuất nhập khẩu chuyển đến, tiến hành xuất hàng cho khách hàng. Hàng
hoá sẽ được khách hàng nhận tại kho, mọi chi phí vận chuyển bên mua chịu.
Trường hợp bán buôn theo phương thức vận chuyển hàng, căn cứ vào yêu cầu hàng
hoá của khách, công ty vận chuyển hàng tới kho của khách hàng qua đội xe chuyên

Phương thức thanh toán bằng chuyển khoản được áp dụng đối với các hãng
Hàng không trực tiếp ký hợp đồng với công ty. Có thể hàng được bán trực tiếp tại
kho cảng của công ty hoặc uỷ nhiệm cho các xí nghiệp bán theo hợp đồng. Tuy
nhiên, tiền khách hàng trả được chuyển khoản về tài khoản của công ty. Thường
đây là những khách hàng thường xuyên, có mối quan hệ hợp tác lâu năm với công
ty.
2. Quy trình kế toán toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ tại công ty
xăng dầu Hàng không Việt nam
2.1. Chứng từ và trình tự luân chuyển chứng từ
Chứng từ được sử dụng tại công ty theo một quy định thống nhất, chặt chẽ.
Các chứng từ được lập trên cơ sở quy định chung của Nhà nước đồng thời bổ sung
thêm một số khoản mục đáp ứng yêu cầu hạch toán và quản lý. Công ty bán hàng
theo hai phương thức, chính vì vậy các chứng từ cũng có những đặc điểm riêng
biệt:
* Theo phương thức bán buôn trực tiếp cho khách hàng:
Trường hợp công ty bán buôn trực tiếp cho khách hàng là không nhiều và
không thường xuyên. Sau khi các hợp đồng kinh tế được ký kết, phòng kinh doanh
xuất nhập khẩu trên cơ sở đó tiến hành lập lệnh xuất hàng và hoá đơn GTGT giao
cho thủ kho để làm thủ tục xuất hàng. Sau khi nhận được lệnh xuất hàng, thủ kho
tiến hành xuất hàng, lập phiếu xuất kho và giao hoá đơn cho khách, đồng thời lập
biên bản giao nhận hàng hoá. Biên bản giao nhận hàng hoá kèm theo phiếu xuất
kho được chuyển cho phòng kinh doanh xuất nhập khẩu đối chiếu, kiểm tra trước
khi chuyển lên cho kế toán làm căn cứ hạch toán.
Các hoá đơn bán hàng trong trường hợp này được lập làm 5 liên: 1 liên lưu
tại phòng kinh doanh, 1 liên thủ kho giữ, 1 liên gửi lên phòng TC - KT, 1 liên giao
cho khách hàng và 1 liên gửi lên phòng thống kê - tin học. Liên được gửi lên
phòng kế toán được dùng làm căn cứ hạch toán. Liên được gửi lên phòng thống kê
tin học để phục vụ cho tổng hợp thông tin về tình hình kinh doanh trong kỳ, lập các
báo cáo tổng hợp theo yêu cầu quản lý. Liên thủ kho giữ làm căn cứ đối chiếu
trong trường hợp cần thiết.

Đơn giá
đồng/tấn
Thành tiền
A
B
C
1
2
CÔNG TY XĂNG DÂU HK VIỆT NAM
XÍ NGHIỆP XĂNG DẦU HK MIỀN BẮC
Phát hành theo công văn số 3511 TCT/AC
Ngày 14/10/1998 của Tổng cục Thuế
Mẫu số: 05
Ký hiệu: MB/99
Số: 017705
PHIẾU XUẤT KHO KIÊM VẬN CHUYỂN NỘI BỘ
Liên 2: Giao cho người vận chuyển
Ngày 02 tháng 11 năm 2007
Điện thoại: 04.8840094 Số TK: 3611-0047 MST: 01001107638-1-001
- Căn cứ vào lệnh điều động số: 1173 Ngày 30 tháng 10 năm 2007 của công ty xăng dầu Hàng không về việc: Điều
động
Họ tên người vận chuyển: Hứa Minh Sâm
Hợp đồng số: giấy gt số 220 /VTXD ngày 01/11/2007 Phương tiện vận chuyển: 80H-1047
Xuất hàng tại kho: N2 Nhập hàng tại kho: sân bay Vinh
STT
Tên sản phẩm, vật tư, hàng hoá
ĐV
tính
Số lượng
Đơn giá

khách hàng công ty ký hợp đồng, công ty thu tiền, xí nghiệp cũng gửi hoá đơn về
công ty để công ty tập hợp, phân loại và gửi cho khách hàng. Căn cứ vào lượng
thực xuất, kế toán xí nghiệp lập hoá đơn kiêm phiếu xuất kho cho từng lần bán
hàng theo mẫu như trong phụ lục III.
Khi các chi nhánh bán lẻ bán cho khách hàng ngoài ngành hàng không, có hai
phương thức bán, đó là bán buôn và bán lẻ. Các khách hàng này là do xí nghiệp ký hợp
đồng, chính vì vậy, trong trường hợp bán buôn, chi nhánh lập hoá đơn, hoá đơn được
chia làm 3 liên, trong đó, 1 liên được gửi cho khách hàng, 1 liên kế toán xí nghiệp giữ
và 1 liên thủ kho giữ. Trong trường hợp bán lẻ, các cửa hàng cũng lập hoá đơn và bảng
kê hàng hoá bán lẻ, các hoá đơn cũng được gửi trực tiếp cho khách hàng. Xí nghiệp
không gửi các hoá đơn này cho công ty mà trực tiếp quản lý. Cuối tháng, chỉ tập hợp
doanh thu bán cho khách ngoài Hàng không, lập bảng kê hàng bán ra và các bảng tổng
hợp hàng hoá bán lẻ gửi cho kế toán văn phòng công ty làm căn cứ hạch toán.
Cuối tháng, tại công ty, trên cơ sở bảng kê hàng hoá bán được tại xí nghiệp,
phòng kinh doanh xuất nhập khẩu tiến hành lập hoá đơn luân chuyển nội bộ. Hoá
đơn này là căn cứ để theo dõi khoản thanh toán giá vốn hàng giao giữa công ty và
xí nghiệp, đồng thời cũng là căn cứ để xác định thuế GTGT đầu ra tại công ty, thuế
GTGT đầu vào được khấu trừ tại xí nghiệp. Hoá đơn được lập làm 3 liên, 1 liên
lưu, 1 liên giao cho phòng kế toán, 1 liên gửi cho xí nghiệp.
Biểu số 6: HOÁ ĐƠN LUÂN CHUYỂN NỘI BỘ
CÔNG TY XĂNG DẦU HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
Phát hành theo Công văn
Số 5603 TCT/AC ngày 14/12/2000
của Tổng cục Thuế
Mẫu số: 01 GTKT-3LL-02
Ký hiệu: CT/2007T
Số: 01163
HOÁ ĐƠN (GTGT)
Liên 3: lưu
Ngày 31 tháng 12 năm 2007

Đối với các nghiệp vụ phát sinh tại công ty, hàng ngày, các hoá đơn và phiếu
xuất kho được gửi lên phòng tài chính - kế toán cuả công ty, sau khi đã được kiểm
tra, xem xét đảm bảo độ trung thực, chính xác của thông tin, kế toán xác định tài
khoản ghi có, tài khoản ghi nợ để nhập dữ liệu vào phần mềm qua màn hình nhập
liệu. Đối với các nghiệp vụ phát sinh tại xí nghiệp, cuối tháng sau khi nhận được
bảng tổng hợp hàng hóa bán ra của các xí nghiệp gửi về, kế toán mới cập nhật số
liệu vào cửa sổ nhập liệu. Từ cửa sổ nhập liệu, số liệu sẽ được kết chuyển tự động
vào các sổ chi tiết và sổ tổng hợp, làm căn cứ lên báo cáo.
Định kỳ cuối mỗi quý và mỗi năm, kế toán thực hiện thao tác khoá sổ, lập
báo cáo tài chính quý, báo cáo tài chính năm. Số liệu kế toán giữa sổ tổng hợp chi
tiết, sổ cái từng tài khoản và các báo cáo tài chính luôn phải đảm bảo sự khớp
đúng. Nếu có sai sót, đó là do lỗi của kế toán viên, vì vậy, kế toán công ty luôn
kiểm tra kỹ lưỡng số liệu trước khi in báo cáo tài chính trình kế toán trưởng và ban
giám đốc.
Hệ thống sổ được thiết kế phù hợp với hình thức nhật ký chung, bao gồm
các sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết. Hệ thống sổ kế toán tổng hợp bao
gồm sổ nhật ký và sổ cái. Hệ thống sổ kế toán chi tiết bao gồm các sổ, thẻ kế toán
chi tiết.
Số liệu cập nhật hàng ngày vào cửa sổ nhập liệu (được xem như nhật ký
chung chi tiết). Cửa sổ nhập liệu được thiết kế như sau:
Số Ngày Nội dung ĐV TK Mã TK Mã $ Tỷ Số
CT CT CT tính Nợ QL có QL giá tiền
Theo đó, mỗi tài khoản được sử dụng có một mã quản lý riêng, tạo điều kiện
thuận lợi cho công tác đối chiếu kiểm tra khi cần thiết. Nếu khách hàng thanh toán
bằng USD, kế toán căn cứ vào tỷ giá thích hợp tiến hành quy đổi ra tiền Việt Nam.
Số liệu sau khi cập nhật tự kết chuyển vào các sổ liên quan.
Các sổ cái trong quy trình tiêu thụ gồm: sổ cái TK 131, sổ cái TK 511, sổ cái
TK 512, sổ cái TK 521, sổ cái 632, sổ cái TK 641, sổ cái TK 642, sổ cái TK 911.
Sổ cái của công ty không có cột đối chiếu với nhật ký chung, không có cột ngày
tháng ghi sổ, ngày tháng chứng từ và số hiệu chứng từ, tuy vẫn đảm bảo cung cấp

* TK 131 - Phải thu khách hàng: Các khoản phải thu khách hàng được chi
tiết theo từng đối tượng khách hàng. Trong đó:
131 01: Phải thu Vietnamairlines
131 02: Phải thu Pacific airlines
131 03: Phải thu công ty bay dịch vụ Vasco
131 04: Phải thu World fuel services
131 05: Phải thu Airfrance
131 06: Phải thu Aeroflot
131 07: Phải thu khách hàng ngoài Hàng không
* TK 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Tài khoản này được
mở để phản ánh tổng doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp trong kỳ.
Doanh nghiệp bán hàng và theo dõi doanh thu theo từng mặt hàng:
511 01: Doanh thu bán Jet A1
511 02 : Doanh thu bán Do
511 03: Doanh thu bán Fo
511 04: Doanh thu bán A83
511 05: Doanh thu bán A92
511 06: Doanh thu bán xăng nhớt
* TK 512 – Doanh thu bán hàng nội bộ: Tài khoản này chỉ có tác dụng theo
dõi khoản phát sinh trong nội bộ công ty, không có tác dụng xác định kết quả trong
kỳ.
TK này cũng được chi tiết theo doanh thu từng mặt hàng:
512 01: Doanh thu bán Jet A1
512 02: Doanh thu bán Do
512 03: Doanh thu bán Fo
512 04: Doanh thu bán A83
512 05: Doanh thu bán A92
512 06: Doanh thu bán xăng nhớt
* TK 136 - Phải thu nội bộ: Đây là tài khoản theo dõi phần doanh thu nội bộ
tại xí nghiệp, còn gọi là “thanh toán vốn hàng giao”. Tài khoản này dùng để theo

2.4. Hạch toán tiêu thụ sản phẩm
2.4.1. Kế toán doanh thu tiêu thụ hàng hoá
2.4.1.1. Doanh thu nội bộ
Hàng hoá được chuyển về cho các xí nghiệp để phục vụ quá trình tiêu thụ.
Theo quy định của công ty, trừ một số mặt hàng là xí nghiệp được kinh doanh và
hạch toán xác định kết quả riêng, còn lại các mặt hàng kinh doanh chính xí nghiệp
phải hạch toán phụ thuộc. Để theo dõi nội bộ, cả công ty và xí nghiệp đều phải mở
tài khoản doanh thu nội bộ. Doanh thu nội bộ được xác định trên cơ sở hóa đơn
luân chuyển nội bộ và không phải là căn cứ để xác định kết quả kinh doanh tại
công ty. Hóa đơn luân chuyển nội bộ được lập cho từng đối tượng khách hàng.
Trong trường hợp khách hàng là các hãng Hàng không bay tuyến nội địa và các
khách hàng mua lẻ, hóa đơn luân chuyển nội bộ được ghi rõ tiền hàng, thuế GTGT,
và tổng số tiền thanh toán. Còn đối với các hãng Hàng không bay tuyến quốc tế,
hóa đơn luân chuyển nội bộ chỉ ghi số tiền bằng tổng số tiền thanh toán, không có
thuế GTGT.
Doanh thu nội bộ thể hiện giá trị hàng hoá mà công ty điều chuyển cho xí
nghiệp và là căn cứ để hạch toán thuế GTGT đầu vào tại các xí nghiệp và thuế
GTGT đầu ra tại công ty. Công ty xác định doanh thu nội bộ sau khi nhận được
bảng kê hàng hoá bán ra của các xí nghiệp gửi lên.
Doanh thu nội bộ tại công ty được xác định như sau:
Doanh thu
nội bộ
= Sản lượng thực tế bán ở các XN *
Đơn giá thuần
luân chuyển nội bộ
Trong đó:
Sản lượng thực tế bán ở các XN: công ty xác định căn cứ vào báo cáo sản
lượng hàng hoá bán ra của các xí nghiệp gửi lên.
Đơn giá luân chuyển nội bộ: là đơn giá ghi rõ trong hoá đơn luân chuyển nội
bộ và được xác định trên cơ sở giá vốn hàng nhập về.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status