CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH HÀNG TỒN KHO TRONG
KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
1 Đặc điểm của chu trình Hàng tồn kho với tổ chức kế toán Hàng tồn kho
1.1 Những đặc điểm chung về chu trình Hàng tồn kho
Hàng tồn kho là tài sản lưu động của doanh nghiệp biểu hiện dưới dạng vật
chất cụ thể dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, hàng tồn kho thường bao gồm: Nguyên vật liệu, công cụ
dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá. Ngoài ra còn có một số vật tư
hàng hoá thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng vì những lý do khác nhau
nên không nằm trong kho như: Hàng đang đi đường, hàng gửi bán…
Chu kỳ vận động của hàng tồn kho từ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ sang
sản phẩm dở dang đến thành phẩm, hàng hoá. Quá trình vận động liên quan đến
nhiều khoản mục trên báo cáo tài chính. Đối với Bảng cân đối kế toán như: Các chỉ
tiêu nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng đang đi đường, hàng gửi bán, chi phí
sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng hoá, dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Đối với
báo cáo kết quả kinh doanh như các chỉ tiêu: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí sản
xuất chung, giá vốn hàng bán…Đây là những chỉ tiêu cơ bản để phân tích tình hình
tài chính của doanh nghiệp về hiểu quả sản xuất kinh doanh, triển vọng cũng như
những rủi ro trong sản xuất. Vì những lý do đó mà các chỉ tiêu này thường bị phản
ánh sai lệch. Để có được những hiểu biết sâu sắc về chu trình Hàng tồn kho, trước
hết phải nắm được các đặc điểm của chu trình:
- Hàng tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp.
- Các khoản mục hàng tồn kho thường rất đa dạng và có thể chịu ảnh hưởng lớn
bởi hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình thông qua các biểu hiện như bị hư hỏng
trong thời gian nhất định, dễ bị lỗi thời…
- Giá trị nhập kho của hàng tồn kho thường được cộng ( hoặc trừ) các chi phí thu
mua, khoản giảm giá bớt giá…
- Có nhiều phương pháp đánh giá và tính giá thực tế xuất hàng tồn kho, vì thế nên
khác nhau về trị giá hàng tồn kho thực tế và lợi nhuận của kỳ kinh doanh.
Những đặc điểm này của chu trình Hàng tồn kho có ảnh hưởng tới công tác
kiểm toán:
gồm các nội dung sau:
1.2.1 Tổ chức chứng từ kế toán
Tổ chức chứng từ kế toán là tổ chức vận dụng phương pháp chứng từ trong
ghi chép kế toán, bao gồm công việc thiết kế khối lượng công tác hạch toán kế toán
ban đầu trên hệ thống chứng từ hợp lý, hợp pháp theo quy trình luân chuyển nhất
định.
Quy trình luân chuyển chứng từ nhập mua:
Trong công tác tổ chức chứng từ hàng tồn kho tuỳ thuộc vào từng loại hình kinh
doanh của doanh nghiệp để xây dựng danh mục chứng từ hàng tồn kho cho phù
hợp. Song chứng từ được sử dụng trong chu trình Hàng tồn kho thường bao gồm
các loại:
Bộ phận sản xuất Phiếu xin lĩnh vật tư
Phê duyệt
T. phòng vật tư
Nhân viên P. vật tư Lập phiếu xuất kho
Xuất kho
Thủ kho
Ghi sổ và lưu chứng từ
Kế toán
Khách hàng Đơn đặt hàng
HĐ bán hàng và P. xuất kho
Bộ phận bán hàng
Gián đốc, Kế toán trưởng Phê duyệt hoá đơn
Thu tiền hoặc theo dõi nợ
Kế toán thanh toán
Thủ kho Xuất kho
Ghi sổ và lưu chứng từ
Kế toán
- Chứng từ nhập mua vật tư, hàng hoá bao gồm: Phiếu đề nghị mua hàng; hoá đơn
nhà cung cấp; phiếu kiểm nhận hàng mua; phiếu nhập kho và thẻ kho.
1.2.3 Tổ chức sổ kế toán
Tổ chức sổ kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp đối ứng tài khiản
trên sổ kế toán. Sổ kế toán là phương tiện vật chất để hệ thống hoá các số liệu kế
toán trên cơ sở các chứng từ gốc và tài liệu kế toán khác. Sổ kế toán bao gồm nhiều
loại, tuỳ thuộc và yêu cầu quản lý để tổ chức sổ kế toán cho phù hợp. Trong doanh
nghiệp thường tổ chức 2 hệ thống sổ: Sổ kế toán chi tiết và sổ kế toán tổng hợp.
Theo chế độ kế toán Việt Nam đơn vị có thể lựa chọn một hình thức kế toán trong
số các hình thức sau:
+ Theo hình thức Nhật ký chung:
- Sổ kế toán tổng hợp: Nhật ký chung, sổ các các tài khoản.
- Sổ kế toán chi tiết: Sổ chi tiết nhập (xuất) vật tư, hàng hoá; Sổ chi tiết chi phí sản
xuất; sổ chi tiết bán hàng…
+ Theo hình thức Nhật ký chứng từ:
- Nhật ký chứng từ, bảng kê, sổ các các tài khoản.
- Một số sổ chi tiết khác.
+ Theo hình thức Chứng từ ghi sổ:
- Sổ kế toán tổng hợp: Sổ cái, chứng từ ghi sổ, sổ đăng ký chứng từ ghi sổ.
- Sổ kế toán chi tiết: Sổ chi tiết nhập (xuất) vật tư, hàng hoá; Sổ chi tiết chi phí sản
xuất; sổ chi tiết bán hàng…
1.2.4 Phương pháp tính giá và quy trình hạch toán hàng tồn kho
♦ Các phương pháp tính giá:
Hàng ngày vật tư, hàng hoá nhập kho được kế toán ghi nhận theo giá thực tế
nhưng đơn giá các lần nhập khác nhau là khác nhau và thời điểm nhập là khác
nhau. Do đó kế toán có nhiệm vụ xác định giá thực tế vật tư, hàng hoá, thành phẩm
mỗi lần xuất kho. Theo chế độ kế toán Việt Nam hiện hành doanh nghiệp có thể sử
dụng một trong các phương pháp tính giá sau để áp dụng cho việc tính giá thực tề
xuất kho cho tất cả các loại hàng tồn kho hoặc cho riêng từng loại:
- Phương pháp tính giá thực tế đích danh
- Phương pháp giá bình quân gia quyền
- Phương pháp giá nhập trước xuất trước (FIFO)
2.1 Chức năng cơ bản của chu trình Hàng tồn kho
Một doanh nghiệp có hệ thống kiểm soát nội bộ tốt đối với hàng tồn kho đòi
hỏi phải xây dựng các bộ phận (hoặc cá nhân) riêng biệt thực hiện những công việc
cơ bản như: Mua hàng, kiểm nhận hàng, nhập và lưu kho, xuất cho sản xuất và tiêu
thụ. Tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị để tổ chức
các phòng ban cho phù hợp, tuy nhiên phải đảm bảo tính độc lập hoạt động của các
bộ phận (hay cá nhân) nhằm đảm bảo công tác kiểm tra, kiểm soát của các cấp
quản lý đối với từng bộ phận, từng cá nhân. Có nhiều cách thức tổ chức các phòng
ban khác nhau song chung quy lại chu trình hàng tồn kho bao gồm 3 chức năng
sau.
2.1.1 Chức năng nhập mua vật tư, hàng hoá
Trong chức năng này gồm các công việc sau:
- Mua vật tư hàng hoá: Khi có nhu cầu mua hàng thì các bộ phận có liên quan sẽ
lập phiếu đề nghị mua hàng. Sau khi phiếu đề nghị mua hàng được phê chuẩn bộ
phận cung ứng sẽ lập đơn đặt hàng và gửi cho nhà cung cấp đã lựa chọn:
+ Phiếu yêu cầu mua hàng: Do bộ phận có trách nhiệm lập (như bộ phận vật tư).
Phiếu được lập theo kế hoạch sản xuất hoặc lập đột xuất.
+ Đơn đặt hàng: Căn cứ vào phiếu đề nghị mua hàng đã được phê chuẩn của Giám
đốc (hoặc người phụ trách) bộ phận mua hàng lập đơn đặt hàng để gửi cho nhà
cung cấp. Mẫu của đơn đặt hàng được thiết kế sẵn có đầy đủ các cột cần thiết nhằm
hạn chế tối đa các sai sót.
- Nhận hàng: Khi bên nhà cung cấp giao hàng bộ phận nhận hàng sẽ dựa trên đơn
đặt hàng để kiểm tra về mẫu mã, số lượng, chủng loại, quy cách, phẩm chất và thời
gian giao hàng, cuối cùng trưởng nhóm phải lập biên bản kiểm nhận hàng. Bộ phận
nhận hàng phải độc lập với bộ phận kho và bộ phận kế toán.
- Sau khi hàng được kiểm nhận bộ phận cung ứng viết phiếu nhập kho dựa trên
biên bản kiểm nhận hàng. Hàng được giao xuống kho và lưu kho. Phiếu nhập kho
được lập nhiều liên để lưu cuống, nhập kho và kế toán ghi chép sổ sách.
2.1.2 Chức năng xuất kho
Đối với một đơn vị sản xuất thì xuất kho có 2 lý do cơ bản là xuất cho nội bộ
coi và phải ghi chép để theo dõi về số lượng vật tư, hàng hoá, thành phẩm nhập-
xuất- tồn kho.
2.2 Mục tiêu kiểm toán chu trình Hàng tồn kho
2.2.1 Mục tiêu hợp lý chung
Mục tiêu hợp lý chung bao hàm việc xem xét, đánh giá tổng thể số tiền ghi
trên các khoản mục trên cơ sở cam kết chung về trách nhiệm của nhà quản lý và
thông tin thu được qua khảo sát thực tế ở khách thể kiểm toán. Do đó đánh giá sự
hợp lý chung hướng tới khả năng sai sót củ thể của các số tiền trên khoản mục
(Theo giáo trình Kiểm toán tài chính). Đối với chu trình hàng tồn kho có thể củ thể
hoá mực tiêu hợp lý chung như sau: Tất cả hàng tồn kho đều biểu hiện hợp lý trên
thẻ kho và bảng cân đối kế toán; hay có thể nói: Các số dư hàng tồn kho trên bảng
cân đối kế toán và bảng liệt kê hàng tồn kho là hợp lý.
2.2.2 Mục tiêu chung khác
Trong mục tiêu chung khác bao gồm: Mục tiêu hiệu lực, mục tiêu trọn vẹn,
mục tiêu quyền và nghĩa vụ, mục tiêu định giá và phân bổ, mục tiêu chính xác cơ
học và mục tiêu phân loại và trình bày. Các mục tiêu này được củ thể hoá cho chu
trình Hàng tồn kho:
- Tất cả hàng tồn kho ghi trên sổ đều tồn tại thực tế vào ngày lập Bảng cân đối kế
toán (Hiệu lực).
- Mọi hàng hoá, tài sản tồn kho đều bao hàm trong Bảng cân đối kế toán (Trọn
vẹn).
- Các tài sản ghi trong mục hàng tồn kho thuộc sử hữu của đơn vị và không thuộc
tài sản thế chấp, cầm cố hoặc tạm vay (Quyền và nghĩa vụ).
- Thứ nhất: Giá trị hàng tồn kho phù hợp với hiện vật. Thứ hai: Giá cả hàng hoá
được tính theo giá thực tế. Các lần điều chỉnh giá được phản ánh đúng và hàng hoá
mất giá được điều chỉnh (Định giá và phân bổ)
- Số tổng cộng các khoản mục hàng tồn kho (Tính chính xác cơ học)
- Thứ nhất: Phân loại đúng hàng tồn kho theo các nhóm: Nguyên vật liệu, công
trình dở dang, thành phẩm và chi tiết theo quy định. Thứ hai: Thuyết trình rõ các
hàng hoá cầm cố, chuyển nhượng, tạm gửi hoặc giữ hộ (Phân loại và trình bày).
phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng
yếu của cuộc kiểm toán, đảm bảo phát hiện những vấn đề tiềm ẩn và cuộc kiểm
toán được hoàn thành đúng hạn". Do đó việc lập kế hoạch kiểm toán được triển
khai qua các bước:
(1) Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Trong quá trình chuẩn bị cho 1 cuộc kiểm toán báo cáo tài chính công ty
kiểm toán tiến hành các công việc cần thiết như: Đánh giá khả năng chấp nhận
kiểm toán, nhận diện các lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngụ nhân viên kiểm toán và
ký hợp đồng kiểm toán.
(2) Thu thập thông tin cơ sở
Sau khi đánh giá khả năng kiểm toán của khách hàng và thực hiện các công
việc chuẩn bị, kiểm toán viên bắt đầu lập kế hoạch tổng quát. Theo chuẩn mực
kiểm toán Việt nam chuẩn mực số 300 quy định kiểm toán viên cần hiểu biết về
nghành nghề, công việc kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu hệ thống kế toán,
kiểm soát nội bộ và các bên liên quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán.
Trong giai đoạn này kiểm toán viên thực hiện các công việc sau:
- Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng.
- Xem xét lại kết quả kiểm toán của lần kiểm toán trước
- Tham quan nhà xưởng.
- Nhận diện các bên có liên quan.
- Dự kiến nhu cầu chuyên gia.
(3) Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng như xem xét: Giấy
phép kinh doanh, điều lệ công ty, biên bản các cuộc họp hội đồng quản trị và ban
Giám đốc, xem xét các hợp đồng, các cam kết quan trọng…
(4) Sử dụng các thủ tục phân tích
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam chuẩn mực số 520 quy định: "Kiểm
toán viên phải thực hiện các thủ tục phân tích khi lập kế hoạch kiểm toán và giai
đoạn soát xét tổng thể báo cáo tài chính". Sau khi có các bằng chứng về tình hình
hoạt động kinh doanh của khách hàng thông qua thu thập thông tin cơ sở và thông
tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, kiểm toán viên sử dụng các thủ tục phân
phẩm dở dang, thành phẩm (hàng hoá), hàng mua đang đi đường, hàng gửi bán so
với số dư kỳ trước, để tìm hiểu những biến động bất thường và tìm ra sai phạm
trong tài khoản đó. Giả sử trị giá hàng tồn kho cuối kỳ này tăng đáng kể so với
những kỳ trước đó thì kiểm toán viên phải xem xét đến những khoản mục chi tiết
để tìm ra nguyên nhân của sự bất thường đó.
Tuy nhiên khi so sánh số dư hàng tồn kho giữa các kỳ thì cần phải loại trừ ảnh
hưởng của biến động giá. Nếu sau khi đã loại trừ sự biến động của giá mà số dư
hàng tồn kho kỳ này vẫn thay đổi bất thường so với kỳ trước thì phải xem xét lại
nguyên nhân cụ thể.
- Phân tích dọc (phân tích tỉ suất):
+ So sánh số dư hàng tồn kho trên doanh thu hoặc số dư hàng tồn kho trên giá vốn
hàng bán của năm nay so với năm trước.
+ Xác định tỷ trọng của sản phẩm dở dang trên tổng số hàng tồn kho để so sánh
năm nay với năm trước.
+ Kiểm toán viên có thể so sánh tỷ trọng của hàng tồn kho trên tổng tài sản lưu
động giữa kỳ này và các kỳ trước để xem có sự biến động lớn nào không.
Tỷ trọng hàng
tồn kho trong
tài sản lưu động
=
Trị giá hàng tồn kho
Tổng tài sản lưu động
+ So sánh hệ số quay vòng hàng tồn kho với các kỳ trước: Thủ tục này được áp
dụng đối với khoản mục hàng hoá và thành phẩm tồn kho. Nếu được áp dụng nhằm
mục đích phát hiện những hàng tồn kho cũ kỹ và lạc hậu hoặc phát hiện những bất
thường trong kinh doanh liên quan đến hàng tồn kho.
Số vòng
luân chuyển
hàng tồn kho
=
- Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu ở trên cho các khoản mục
trong đó có các khoản mục thuộc chu trình hàng tồn kho, đối với khoản mục số dư
nguyên vật liệu mức trọng yếu được phân bổ là 5.000 $ và tổng số dư nguyên vật
liệu trên bảng cân đối kế toán là 161.290 $.
- Ước tính sai số và so sánh với quy mô về tính trọng yếu đã được phân bổ
cho từng khoản mục. Cũng với ví dụ trên, trong quá trình kiểm toán chu trình Hàng
tồn kho kiểm toán viên tìm thấy 320 $ sai số thừa trong tổng thể kiểm tra là 11.430
$ và từ đây ta có thể ước tính sai số là = (320
$
/11.430) x 161.290
$
= 4.515,56 $.
Với quy mô sai số ước tính là 4.515,56 $ so với quy mô sai sót cho phép được
phân bổ ở trên là 5.000 $ thì có thể thấy đây không phải là khoản mục sai phạm
trọng yếu.
- Khi tổng hợp các bằng chứng để kết thúc kiểm toán, chủ nhiệm kiểm toán
tiến hành so sánh sai số tổng hợp ước tính với ước ượng ban đầu hoặc xem xét lại
ưóc lượng ban đầu về tính trọng yếu.
Trong giai đoạn lập kế hoạch này thì bước 1 và bước 2 được tiến hành còn 2
bước sau thì được tiến hành trong khi kiểm toán các chu trình và khi kết thúc kiểm
toán.
Xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau, khả năng kiểm toán viên đưa ra
nhận xét không xác đáng về báo cáo tài chính của doanh nghiệp là điều luôn có thể
xảy ra, khả năng đó được gọi là rủi ro kiểm toán. Rủi ro cũng được đề cập tới rất
nhiều lĩnh vực khác liên quan đến rủi ro kiểm toán như: rủi ro tiềm tàng, rủi ro
kiểm soát, rủi ro phát hiện. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam quy định trong
giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định rủi ro kiểm toán.
Chuẩn mực kiểm toán số 320 cho thấy mức độ trọng yếu và rủi ro kiểm toán có
mối quan hệ ngược chiều nhau: Nếu mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán
càng thầp và ngược lại. Xác định mức trọng yếu và rủi ro là công việc phức tạp đòi
nghiệp vụ không có thực mà vẫn ghi sổ hoặc các nghiệp vụ nhập xuất kho đã pháp
sinh đều được ghi sổ đúng đắn.
♦ Các thủ tục kiểm soát:
- Xem xét công ty khách hàng có xây dựng hệ thống quy chế kiểm soát về hàng tồn
kho không?
- Các quy chế có phù hợp không và có đầy đủ không? Điều này được thể hiện các
thủ tục này được xây dựng có dựa trên các nguyên tắc của thủ tục kiểm soát: