đề cương chi tiết “Chiến lược Marketing – mix nhằm mở rộng thị trường cho công ty TNHH Dược phẩm Ích Nhân ” 2011 - Pdf 73

PHẦN MỞ ĐẦU?
Giữ vững và nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường là một
điều rất khó khăn, nó đòi hỏi doanh nghiệp phải có các biện pháp tiếp cận thị
trường một cách chủ động và sẵn sàng đối phó với mọi nguy cơ, đe doạ, cũng
như áp lực cạnh tranh từ phía thị trường. Để làm được điều này doanh nghiệp
phải thực hiện sản xuất kinh doanh hướng theo thị trường, theo khách hàng và
phải áp dụng các hoạt động Marketing vào thực tiễn hoạt động sản xuất kinh
doanh trên thị trường, trong đó việc xây dựng và hoàn thiện một chính sánh
Marketing-mix với những chiến lược và biện pháp cụ thể sẽ là công cụ cạnh
tranh sắc bén và hiệu quả của doanh nghiệp để đi đến thành công.
Từ nhận thức trên, trong quá trình thực tập, tìm hiểu tại Công ty TNHH
Dược phẩm Ích Nhân em đã mạnh dạn chọn đề tài:
“Chiến lược Marketing – mix nhằm mở rộng thị trường cho công ty
TNHH Dược phẩm Ích Nhân ”.
Mục tiêu của đề tài nhằm vào phân tích thực trạng ứng dụng chính sách
Marketing-mix trong công ty để tìm ra được các tồn tại và các nguyên nhân
hạn chế của nó để từ đó đưa ra một số các giải pháp hoàn thiện chính sách
Marketing-mix nhằm thực hiện chiến lược mở rộng thị trường của công ty.
Với vấn đề và mục tiêu nghiên cứu như trên thì phương pháp nghiên cứu
của đề tài là:
+ Phương pháp phân tích tổng hợp, mô hình, sơ đồ.
+ Kết hợp với các phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập dữ liệu thứ
cấp, phỏng vấn để thực hiện đề tài.
Kết cấu của đề tài gồm các chương
Chương 1 : Một số vấn đề căn bản về Marketing- mix.
Chương 2 : Thực trạng hoạt động kinh doanh và thực hiện chiến lược
Marketing-mix ở Công ty TNHH Dược phẩm Ích Nhân.
Hoàng Quý Hiển 1 Lớp: K4QTM
Chương 3: Một số biện pháp chủ yếu hoàn thiện chiến lược Marketing-
mix nhằm mở rộng thị trường của Công ty TNHH Dược phẩm Ích Nhân.
Do thời gian có hạn, sự hạn chế về kinh nghiệm và kiến thức của em

giá, khuyến mãi và phân phối sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao
đổi nhằm thỏa mãn các mục tiêu cá nhân và tổ chức.
Khái niệm này mang tính chất thực tế khi áp dụng vào thực tiễn kinh
doanh. Qua đây ta thấy nhiệm vụ của marketing là cung cấp cho khách hàng
những hàng hóa dịch vụ mà họ cần. Các hoạt động markting như việc lập kế
hoạch marketing, thực hiện chính sách phân phối và thực hiện các dịch vụ
Hoàng Quý Hiển 3 Lớp: K4QTM
khách hàng,…nhằm mục đích đưa ra thị trường những sản phẩm phù hợp và
đáp ứng được nhu cầu của khách hàng hơn hẳn đối thủ cạnh tranh thông qua
nỗ lực marketing của mình.
1.1.1.3 Khái niệm Marketing của Philip Kotler
Marketing là hoạt động của con người hướng tới thỏa mãn nhu cầu và
ước muốn của khách hàng thông qua quá trình trao đổi.
Định nghĩa này bao gồm cả quá trình trao đổi không kinh doanh như là
một bộ phận của marketing. Hoạt động marketing diễn ra trong tất cả lĩnh vực
trao đổi nhằm hướng tới thỏa mãn nhu cầu với hoạt động cụ thể trong thực
tiễn kinh doanh.
1.1.2. Vai trò của marketing trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp
Ngày nay không một doanh nghiệp nào bắt tay vào kinh doanh lại không
muốn gắn kinh doanh của mình với thị trường. Không còn thời các doanh
nghiệp hoạt động sản xuất theo hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh. Doanh nghiệp
nhận chỉ tiêu sản xuất, định mức đầu vào và hiệu quả hoạt động được thể hiện
qua mức hoàn thành kế hoạch chỉ tiêu. Sản phẩm sản xuất ra được phân phối
qua tem phiếu, do đó hoạt động của doanh nghiệp hoàn toàn tách khỏi thị
trường và hoạt động marketing không hề tồn tại.
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp tự do cạnh tranh nhau để đáp
ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. Kinh tế thị trường càng phát
triển thì mức độ cạnh tranh càng cao. Cạnh tranh vừa là động lực thúc đẩy,
vừa là công cụ đào thải, chọn lựa khắt khe của thị trường đối với doanh

Những đặc tính hiện thời của hàng hóa còn phù hợp với hàng
hóa đó nữa không.
Hoàng Quý Hiển 5 Lớp: K4QTM
- Hàng hóa của doanh nghiệp có những ưu điểm, hạn chế gì? Có
cần phải thay đổi không? Cần thay đổi đặc tính nào? Nếu không
thay đổi thì sao? Nếu thay đổi thì sẽ gặp điều gì?
- Giá cả của hàng hóa nên qui định như thế nào, bao nhiêu? Tại
sao lại định mức giá như vậy mà không phải mức giá khác? Mức
giá trước đây còn thích hợp không? Nên tăng hay giảm? Tăng
giảm bao nhiêu, khi nào là thích hợp? Thay đổi với khách hàng
nào, hàng hóa nào?
- Doanh nghiệp nên tự tổ chức bán hàng hay dựa vào tổ chức
trung gian khác? Khi nào đưa hàng hóa ra thị trường? Đưa khối
lượng bao nhiêu?
- Làm thế nào để khách hàng biết, mua và yêu thích hàng hóa của
doanh nghiệp? Tại sao lại phải dùng cách thức này chứ không
phải cách thức khác? Phương tiện này chứ không phải phương
tiện khác?
- Hàng hóa của doanh nghiệp có cần dịch vụ sau bán hàng không?
Loại dịch vụ nào doanh nghiệp có khả năng cung cấp cao nhất?
Vì sao? Vì sao doanh nghiệp lại chọn loại dịch vụ này chứ
không phải loại dịch vụ khác?...
Đó là vấn đề mà ngoài chức năng marketing không có chức năng nào có
thể trả lời được. Dựa vào các vấn đề cơ bản trên, doanh nghiệp xây dựng cho
mình một chính sách marketing – mix phù hợp vợi thị trường, đáp ứng một
cách tốt nhất các nhu cầu khách hàng.
Nói tóm lại, chức năng quản trị marketing đóng vai trò rất quan trọng và
là một trong bốn chức năng không thể thiếu của doanh nghiệp (chức năng sản
xuất, chức năng tài chính, quản trị nhân sự, và chức năng marketing). Điều
Hoàng Quý Hiển 6 Lớp: K4QTM

đồng tâm
Thêm vào các sản phẩm hoặc dịch vụ mới
nhưng có sự liên hệ với nhau.
8 Đa dạng hoạt động kết Thêm vào các sản phẩm, dịch vụ mới không
Hoàng Quý Hiển 7 Lớp: K4QTM
khối có sự liên hệ với nhau.
9 Đa dạng hoạt động
theo chiều ngang
Thêm vào các sản phẩm, dịch vụ theo cách
cộng hòa hàng
1
0
Liên doanh Hai hay nhiều các công ty đỡ đầu hình thanh
lên một công ty độc lập vì những mục đích
hợp tác
1.1.3.2. Vai trò marketing trong hoạt động mở rộng thị trường các doanh
nghiệp
Marketing ảnh hưởng đến sự thành bại trong thực hiện chiến lược. Tuy
nhiên hai biến số quan trọng nhất trong việc thực hiện chiến lược là: Phân
khúc thị trường và định vị sản phẩm.
- Phân khúc thị trường:
Phân khúc thị trường là việc chia nhỏ thị trường thành các nhóm khách
hàng nhỏ riêng biệt theo nhu cầu và thói quen mua hàng.
Phân khúc thị trường là biến số quan trọng trong việc thực hiện chiến
lược là vì:
Thứ nhất: những chiến lược thị trường liên quan đến thị trường mới cần
được phân khúc.
Thứ hai: nó cho phép doanh nghiệp hoạt động một cách hiệu quả với
nguồn lực có hạn.
Thứ ba: nó liên quan đến việc xây dựng chính sách marketing – mix.

mục tiêu đảm bảo lợi nhuận.
1.2.2. Định hướng chiến lược kinh doanh
Để có được các định hướng chiến lược kinh doanh, các doanh nghiệp
phải thực hiện phân tích hồ sơ kinh doanh để doanh nghiệp có thể thấy được
Hoàng Quý Hiển 9 Lớp: K4QTM
mình đang ở đâu, năng lực kinh doanh của mình như thế nào và sức hấp dẫn
của thị trường ra sao. Qua đó các doanh nghiệp đối chiếu với nhiệm vụ tổng
quát của mình, hoàn cảnh môi trường và thị trường để quyết định những
phương hướng phát triển kinh doanh chủ yếu trong tương lai.
1.2.3. Những vấn đề cơ bản trong việc áp dụng chiến lược marketing – mix
nhằm mở rộng thị trường của doanh nghiệp.
1.2.3.1. Khái niệm chiến lược marketing
Chiến lược marketing của công ty phải được thực hiện nhằm đáp ứng
được chiến lược chung của công ty. Bản thân nó là một chiến lược bộ phận và
nó cũng là nhân tố quan trọng góp phần vào chiến lược chung của công ty.
Một công ty định hướng theo định hướng thị trường, khách hàng thì
chiến lược marketing là tối quan trọng trong định hướng kinh doanh của công
ty. Với việc thực hiện chiến lược marketing công ty có thể đánh giá được đặc
điểm của thị trường và chiến lược của họ,…để trên cơ sở đó một chiến lược
hợp lý sẽ được đề xuất.
Chiến lược marketing phải được phát triển từ chiến lược tổng thể của
công ty và nó liên quan đến các nội dung như việc định vị cho các sản phẩm,
các chiến lược cho nhãn hiệu sản phẩm, lựa chọn các thị trường mục tiêu, các
phương pháp thâm nhập thị trường, việc sử dụng các biến số Marketing – mix
trong việc thực hiện chiến lược và nội dung khác.
1.2.3.2. Khái niệm về Marketing – mix
Marketing – mix là một tập hợp các biến số mà công ty có thể kiểm soát
và quản lý được và nó được sử dụng để cố gắng gây được phản ứng mong
muốn từ thị trường mục tiêu.
Marketing – mix là một bộ các biến số có thể điều khiển được, chúng

hỏi phải được thực hiện dựa trên những phân tích kỹ lưỡng các số liệu thị
trường, khách hàng. Đây là công việc nhận dạng nhu cầu của khách hàng và
lựa chọn các nhóm hoặc các đoạn khách hàng tiềm năng mà công ty sẽ phục
vụ mỗi sản phẩm của mình. Công ty có thể lựa chọn, quyết định thâm nhập
Hoàng Quý Hiển 11 Lớp: K4QTM
một hay nhiều khúc thị trường cụ thể. Những khúc thị trường này có thể được
phân theo các tiêu chí khác nhau trong đó có các yếu tố của môi trường vĩ mô
có nhiều ảnh hưởng đến sự phân chia thành các khúc nhỏ hơn. Như vậy, để
lựa chọn thị trường mục tiêu cho công ty đòi hỏi phải nghiên cứu, phân tích
kỹ lưỡng các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô, vi mô của công ty. Những yếu
tố này làm cơ sở cho việc đánh giá và phân khúc các khuc thị trường khác
nhau, công ty sẽ phải quyết định nên phục vụ bao nhiêu và những khúc thị
trường nào.
Bước 3: Xây dựng các định hướng chiến lược
Trước khi thiết lập chiến lược marketing – mix cho sản phẩm ở thị
trường mục tiêu, công ty phải đề ra các định hướng chiến lược cho sản phẩm
cần đạt tới ở thị trường mục tiêu. Những định hướng này cung cấp đường lôi
cụ thể cho chiến lược marketing – mix.
Bước 4: Hoạch định chiến lược marketing – mix
Nội dung chiến lược marketing – mix bao gồm 4 chính sách cơ bản.
Công ty cần phải dựa vào những phân tích ban đầu về môi trường marketing,
thị trường, khách hàng và các mục tiêu chiến lược của mình để thiết lập một
bộ phận 4 biến số P phù hợp nhất nhằm thỏa mãn thị trường mục tiêu và đạt
được các mục tiêu của tổ chức.
Bước 5: Xây dựng các chương trình marketing
Chiến lược marketing phải được thực hiện thành các chường trình
marketing, chiến lược mới chỉ thể hiện những nét chính của marketing nhằm
đạt được mục tiêu. Vì vậy công ty cần phải xây dựng các chương trình hành
động để thực hiện các chiến lược marketing – mix, đó là sự cụ thể hóa chiến
lược marketing bằng các biến số marketing được kế hoạch hóa chi tiết ở thị

và khả năng cạnh tranh giành khách hàng cho công ty. Chính sách sản phẩm
được thực hiện thông qua các quyết định sau:
- Quyết định về chủng loại và danh mục hàng hóa
- Quyết định về chất lượng sản phẩm
Hoàng Quý Hiển 14 Lớp: K4QTM
Giá quy định
Chiết khấu
Bớt giá
Kỳ hạn
Thanh toán
Điều kiện trả
chậm
Kích thích
tiêu thụ
Quảng cáo
Lực lượng
bán
Quan hệ với
công chúng
Marketing
trực tiếp
Giá cả
(Price)
Xúc tiến
khuyếch
trương
(Promotion)
Marketing
mix
Nội dung 4P của Marketing- mix

phẩm hàng hóa khác nhau. Những lựa chọn đều phụ thuộc vào mục đích mà
doanh nghiệp theo đuổi.
Công ty theo đuổi mục tiêu cung cấp một chủng loại sản phẩm đầy đủ
hay phấn đấu để chiếm lĩnh thị trường hoặc mở rộng thị trường thì thường có
chủng loại sản phẩm rộng. Để làm được như vậy, công ty cần phải đặt ra vấn
đề là mở rộng và duy trì bề rộng của chủng loại sản phẩm như thế nào? Giải
quyết vấn đề này công ty có hai hướng lựa chọn:
Một là: Phát triển chủng loại sản phẩm trên cơ sở các cách thức sau: Phát
triển hướng xuống dưới, phát triển hướng lên trên và phát triển cả hai hướng
trên.
Hai là: Bổ sung chủng loại sản phẩm. Có nghĩa là công ty cố gắng đưa
thêm những mặt hàng mới vào chủng loại sản phẩm sẵn có.
+ Quyết định về danh mục hàng hóa
Danh mục sản phẩm là một tập hợp tất cả các nhóm chủng loại sản phẩm
và các đơn vị sản phẩm do một nhà cung cấp cụ thể đem chào bán cho người
mua
Hoàng Quý Hiển 15 Lớp: K4QTM
Danh mục sản phẩm của một công ty sẽ có chiều rộng, chiều dài, chiều
sau, mức độ phong phú và hài hòa nhất định phụ thuộc vào mục đích mà công
ty theo đuổi. Chiều rộng danh mục sản phẩm thể hiện công ty có bao nhiêu
nhóm chủng loại sản phẩm khác nhau do công ty sản xuất. Chiều dài của danh
mục sản phẩm là tổng số mặt hàng trong danh mục sản phẩm. Chiều sâu của
danh mục sản phẩm thể hiện tổng số các sản phẩm cụ thể được chào bán trong
từng mặt hàng riêng của nhóm chủng loại sản phẩm. Mức độ hài hòa của danh
mục sản phẩm phản ánh mức độ gần gũi của hàng hóa thuộc các nhóm chủng
loại khác nhau xét theo góc độ mục đích sử dụng cuối cùng, những yêu cầu về
tổ chức sản xuất, các kênh phân phối hay một tiêu chuẩn nào đó.
Các thông số đặc trưng trên danh mục sản phẩm mở ra cho công ty các
chiến lược mở rộng danh mục sản phẩm:
+ Mở rộng danh mục sản phẩm bằng cách bổ xung sản phẩm mới.

khả năng sinh lời của công ty có một mốt liên hệ mật thiết. Mức chất lượng
càng cao thì mức độ thỏa mãn khách hàng cũng càng cao, trong khi đó có thể
tính giá cao hơn.
Chất lượng sản phẩm là thuộc tính đầu tiên và quan trọng nhất mà khách
hàng chú ý đến trong khi lựa chọn người cung ứng sản phẩm cho mình. Chất
lượng sản phẩm của công ty được thể hiện qua thông số sau:
1) Độ bền của sản phẩm: Nó bao gồm các yếu tố như tuổi thọ sản
phẩm, khả năng chịu đựng của các điều kiện tự nhiên, mức độ quá
tải hàng sản xuất…
2) Hệ số an toàn: khả năng đảm bảo an toàn trong sản xuất, trong sử
dụng…
Hoàng Quý Hiển 17 Lớp: K4QTM
3) Đảm bảo thiết kế kỹ thuật: các sản phẩm được sản xuất phải đảm
bảo được đúng các thiết kế kỹ thuật, các thông số kỹ thuật…
4) Khả năng thích ứng sản phẩm: sản phẩm dễ sử dụng, dễ sửa chữa,
dễ thay thế, bảo dưỡng,…
Để đánh giá được chất lượng sản phẩm thông thường các kỹ sư thường
dùng phương pháp đánh giá và cho điểm, xếp loại đánh giá sản phẩm của
mình.
Như vậy, để đảm bảo cho sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi công ty phải
chú ý đến thiết kế kỹ thuật và chất lượng của quá trình chế tạo sản phẩm. Việc
sản xuất ra sản phẩm chất lượng cao sẽ đảm bảo cho công ty thu hút được
nhiều khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
* Dịch vụ sau bán hàng
Đây cũng là công cụ quan trọng để tăng lợi thế cạnh tranh của công ty.
Dịch vụ bán hàng được thực hiện tốt sẽ làm tăng lợi ích nhận được của khách
hàng và làm tăng sự hài lòng. Nó là công cụ đắc lực trong việc tạo ra sự khác
biệt cho sản phẩm. Đối với những sản phẩm có tính chất tổng hợp về kỹ thuật,
về kinh tế và nó mang tính chất cá biệt, do vậy nó cần có các dịch vụ khách
hàng, bao gồm

Thứ năm: Lựa chọn phương pháp định giá, nó bao gồm các phương
pháp: Định giá theo phụ giá, định giá theo lợi nhuận mục tiêu, định giá theo
giá trị cảm nhận của khách hàng, định giá theo giá trị, định giá theo giá cả
hiện hành, định giá đấu thầu.
Thứ sáu: Công ty lựa chọn giá cuối cùng của mình, phối hợp với các yếu
tố khác của Marketing – mix.
Hoàng Quý Hiển 19 Lớp: K4QTM
Do vấn đề cạnh tranh và sự thay đổi của thị trường kéo theo công ty phải
thay đổi, điều chỉnh giá cho thích hợp, có thể có các chiến lược điều chỉnh
sau: Định giá theo nguyên tắc địa lý, chiết giá và bớt giá, định giá khuyến
mãi, định giá phân biệt và định giá cho danh mục sản phẩm.
Khi thực hiện việc thay đổi, điều chỉnh giá công ty cần phải xem xét thận
trọng những phản ứng của thị trường, khách hàng và đối thủ cạnh tranh.
c. Chính sách phân phối
Phân phối cũng là một công cụ then chốt trong marketing – mix, nó bao
gồm những hoạt động khác nhau mà công ty cần phải tiến hành nhằm đưa sản
phẩm đến những khách hàng mục tiêu có thể tiếp cận mua chúng.
Hầu hết những người sản xuất đều cung cấp sản phẩm của mình cho thị
trường thông qua những người trung gian marketing. Do vậy, nhà sản xuất sẽ
phải quan hệ, liên kết với một số tổ chức, lực lượng bên ngoài nhằm đạt được
mục tiêu phân phối của mình.
Những quyết định quan trọng nhất trong chính sách phân phối là các
quyết định về kênh marketing. Kênh marketing được tạo ra như một dong
chảy có hệ thống được đặc trung bởi số các cấp của kênh bao gồm: người sản
xuất, các trung gian và người tiêu dùng. Kênh marketing thực hiện việc
chuyển sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng, vượt qua những
ngăn cách về thời gian, không gian và quyền sở hữu xen giữa hàng hóa và
dịch vụ với người sử dụng chúng. Các quyết định cơ bản về kênh bao gồm:
+ Quy định về thiết kế kênh
+ Quy định về quản lý kênh

chiến lược đẩy và kéo, giai đoạn sẵn sàng của người mua, giai đoạn trong cu
kỳ sống của sản phẩm.
Hoàng Quý Hiển 21 Lớp: K4QTM
Thực hiện nội dung của các hình thức trên thì công ty cần chú ý đến các
vấn đề sau:
+ Xác định ai là khách hàng của công ty.
+ Hình thức nào phù hợp nhất.
+ Nội dung gì cần nhấn mạnh ở sản phẩm.
+ Thời gian và tần suất sử dụng hình thức này.
1.3. Thị trường dược phẩm Việt Nam và một số vấn đề Marketing cần
lưu ý với các nhà sản xuất.
Có rất nhiều cách đánh giá nhận xét tình hình dược phẩm. Nhưng ở đây
ta sẽ đưa ra một số đánh giá về thị trường dược phẩm Việt Nam theo phân
tích SWOT
* Điểm mạnh:
- Tiềm năng phát triển lớn, 88 triệu người/ 2009 và sẽ tăng lên 100 triệu
người vào năm 2019.
- Sự cam kết của chính phủ về việc nâng cao sức khỏe cho toàn dân.
- Các nhà sản xuất thuốc Generic trong nước đã phát triển đáng kể.
- Khá dồi dào phong phú trong lĩnh vực đông dược với tiềm năng phát
triển các thuốc thuộc phạm vi không kê đơn (OPC)
* Điểm yếu
- Là một trong những thị trường dược phẩm kém phát triển nhất ở châu
Á hiện nay, thể hiện qua giá trị tiêu thụ bình quân đầu người kha thấp.
- Luật bảo hộ bản quyền và sở hữu trí tuệ đang nằm ở chuẩn thấp hơn
nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế.
- Thuốc giả chiếm một lượng đáng kể trong thành phần các thuốc đang
lưu hành trên thị trường.
Hoàng Quý Hiển 22 Lớp: K4QTM
- Hầu như không có sự phân biệt giữa các thuốc kê đơn hay không kê

luật bảo hộ bản quyền và sỡ hữu trí tuệ.
- Sự can thiệp đáng kể của Nhà nước vào nghành công nghiệp dược, có
phần thiên vị các công ty địa phương thông qua các hình thức thuế quan và hỗ
trợ.
- Hiện tượng “nhập khẩu song song – parallel import” có thể ảnh hưởng
tiêu cực đến những thuốc còn bảo hộ độc quyền.
- Chính sách mới về bảo hiểm làm giảm khả năng tiếp cận và sử dụng
thuốc.
Thị trường dược phẩm Việt Nam:
Vì những yếu tố tác động tiêu cực tác động như (thị trường thuốc giả
hoạt động, chính sách kém về luật bảo hộ độc quyền trí tuệ khiến các doanh
nghiệp nước ngoài không dám gia nhập thị trường…) nên thị trường tiêu dùng
năm 2010 chiếm khoảng 1,7% GDP và sẽ là 2% năm 2014. Việc WHO
khuyến khích các doanh nghiệp trong nước sản xuất theo mô hình GMP đồng
thời gia nhập WTO sẽ giúp ích cho việc chuẩn hóa các thuốc thành phẩm khi
sản xuất đồng thời giảm thiểu được tối đa các loại thuốc giả được sản xuất
trong nước và tạo điều kiện cho thuốc thành phẩm Việt Nam có cơ hội xuất
khẩu sang nước khác.
Thuốc ETC vẫn tiếp tục phát triển, chủ yếu theo xu hướng phục vụ cho
các loại bệnh mãn tính như tiểu đường, tim mạch,…Thị trường thuốc OTC
cũng được khuyến khích đẩy mạnh phát triển tuy nhiên vẫn còn lùng nhùng vì
chính sách phân biệt lẫn lộn giữa thuốc OTC và ETC.
Hoàng Quý Hiển 24 Lớp: K4QTM
Thị trường sản xuất dược phẩm trong nước hiện nay đáp ứng khoảng
60% nhu cầu sử dụng thuốc người dân. Hiện nay đã có hơn 10000 loại thuốc
được đăng ký từ bộ y tế, trong đó có khoảng 60% thuốc được sản xuất ở Việt
Nam. Thị trường thuốc sản xuất theo hướng truyền thống (thuốc đông tây y
kết hợp) đang được chú ý và phát triển trong thời gian gần đây tuy nhiên vẫn
còn bị hạn chế khá nhiều do quá trình hội nhập WTO.
Tình hình quảng cáo dược phẩm tại Việt Nam: thuốc ETC bị giới hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status