Giải pháp Marketing –Mix nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm thạch rau câu của công ty TNHH Việt Thành - Pdf 73


LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là phương thức hoạt động
diễn ra thường xuyên, liên tục. Cạnh tranh trở thành công cụ hữu hiệu để
nuôi dưỡng các doanh nghiệp làm ăn tốt, nâng cao hiệu quả và phát triển
kinh tế. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nâng cao năng
lực cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ trở thành nhiệm vụ trọng tâm chủ
yếu để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta.
Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp nói riêng cuối cùng được thể hiện cụ thể ở khả năng cạnh
tranh của hàng hoà và dịch vụ trên thị trường trong nước và quốc tế.
Những năm đổi mới chúng ta đã hình thành nền kinh tế thị trường, tạo
ra nhiều hàng hoá và dịch vụ không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn
mở rộng xuất khẩu. Nhiều sản phẩm Việt Nam đã được thị trường trong và
ngoài nước chấp nhận, mở rộng thị phần, tăng kim ngạch xuất khẩu. Tuy
nhiên thị trường càng phát triển, hội nhập càng sâu rộng thì cạnh tranh càng
gay gắt, thách thức càng lớn. Do vậy các doanh nghiệp Việt Nam muốn
đứng vững trên thị trường và phát triển hơn nữa phải thực hiện định hướng
theo thị trường. Muốn vậy các hoạt động Marketing phải được coi trọng vì
nó có chức năng là cầu nối giữa hàng hoá với thị trường. Hoạt động
Marketing là một trong bốn chức năng quan trọng quyết định sự sống còn
của doanh nghiệp.
♠ thì việc nghiên cứu thực trạng khả năng cạnh tranh của sản phẩm
thạch rau câu, từ đó đưa ra một số giải pháp Marketing- Mix càng mang ý
nghĩa thiết thực hơn. Do vậy người viết đã chọn đề tài “Một số giải pháp
Marketing- Mix nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm thạch
rau câu của công ty TNHH Việt Thành”
Bố cụ của đề tài gồm 3 phần:
Chương I:
Tổng quan về thị trường Thạch rau câu và Marketing- Mix cho sản phẩm
Thạch rau câu ở Việt Nam.

Sản phẩm thạch chủ yếu được tiêu dùng cho điểm tâm và mang tính
chất phụ thêm thoả mãn sở thích cá nhân sau bữa ăn cũng như trong những
ngày vui như: sinh nhật, lễ hội, tết..
1.2 Cung- Đối thủ cạnh tranh.
Trên thị trường thạch Việt Nam hiện nay có nhiều nhà sản xuất, nhà
nhập khẩu phân phối các sản phẩm về thạch. Tuy nhiên theo nghiên cứu của
người viết thì có thể chia ra làm 2 phân đoạn thị trường như sau:
Thứ nhất là các nhà sản xuất và cung ứng các sản phẩm thạch phục vụ
đoạn thị trường có thu nhập thấp và trung bình. Tập trung ở đoạn thị trường
này chủ yếu là các nhà sản xuất trong nước bao gồm: công ty TNHH Long
Hải- Hải Dương, công ty TNHH Bốn Mùa-TPHCM, công ty Mỹ Liên…

2

Các công ty phục vụ đoạn thị trường này được coi là các nhà phục vụ đoạn
thị trường dưới với chất lượng của sản phẩm ở mức trung bình và giá cả
trung bình(15.000 đồng/1kg).
Thứ hai là các nhà sản xuất thạch trong nước và các nhà nhập khẩu
thạch từ nước ngoài phục vụ đoạn thị trường có mức thu nhập từ khá trở lên.
Tập trung ở đoạn thị trường này chủ yếu là các nhà nhập khẩu như: nhà nhập
khẩu và phân phối sản phẩm thạch mang thương hiệu Newchoice do công ty
Sheng Hsiang Jenfoods.,Ltd sản xuất; công ty TNHH An Gia- Nguyễn Ngọc
Nại- Thanh Xuân- Hà Nội nhập khẩu và phân phối sản phẩm thạch mang
thương hiệu Perfetty do công ty Stang Industries(Đài Loan) sản xuất; công
ty TNHH Việt Thành sản xuất và nhập khẩu phân phối sản phẩm thạch
mang thương hiệu Pokefood và ABC do công ty Stang Industries(Đài Loan)
sản xuất.
Như vậy có thể nói một vài nét tổng quan về thị trường thạch ở Việt Nam
như sau:
- Thị trường thạch Việt Nam đang trở nên sôi động trong sự cạnh

Gòn Tiếp Thị và Câu lạc bộ doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao
cho thấy :
-Doanh nghiệp nhận thức thương hiệu là quan trọng:
+Phần lớn các doanh nghiệp đều cho rằng đây là một việc quan trọng
chỉ đứng sau việc phát triển sản phẩm mới. Phần lớn nhất trí cao rằng
thương hiệu mạnh giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm tốt hơn.
+Uy tín và chất lượng sản phẩm là hai yếu tố mà các nhà doanh
nghiệp nghĩ đến đầu tiên khi nhắc đến thương hiệu(63,4%) và họ tin rằng
một thương hiệu tốt giúp cho khách hàng tin tưởng vào chất lượng sản phẩm
và yên tâm hơn khi mua và sử dụng,điều này giúp cho doanh nghiệp phân
phối sản phẩm dễ dàng hơn và dễ thu hút khách hàng mới cũng như mở rộng
thị trường mới.
*Chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm.
Cùng với tiến trình phát triển kinh tế đất nước, các nhà sản xuất và
nhập khẩu sản phẩm thạch cũng đã nâng cao chất lượng sản phẩm bằng cách
trang bị dây chuyền công nghệ hiện đại nhằm tạo ra những sản phẩm có
chất lượng tốt, mẫu mã, kiểu dáng đẹp phù hợp với thị hiếu của người tiêu
dùng đáp ứng nhu cầu đa dạng phong phú và ngày càng “ khó tính” của
người tiêu dùng. Nếu như trước đây người tiêu dùng chỉ biết đến sảnphẩm
thạch dừa thì nay đã có thêm thạch rau câu và thạch sữa chua với đủ các
chủng loại và phong phú về mẫu mã. Đây là một thành công rất lớn của sản
phẩm thạch thể hiện qua sản lượng bán ra thị trường với sản lượng bán năm
2003 là 251.072 tấn.
*Giá cả.
Hầu hết các công ty đã sử dụng phương pháp định giá dựa vào chi
phí:
Giá bán= Giá gốc+ Chi phí + Lãi

4


và vận động theo thời gian. Tuy nhiên sự vận động ấy cũng tuân theo những
quy luật và hình thành nên những xu hướng nhất định. Người viết xin nêu ra
một số xu hướng thị trường có tác động đến hoạt động sản xuất và kinh
doanh của các nhà sản xuất và cung ứng sản phẩm thạch.
Thứ nhất, xu hướng coi trọng yếu tố tinh thần. Xu hướng này được thể
hiện qua mối quan hệ giá cả- chất lượng dần chuyển sang mối quan hệ hình

5

thức- giá cả. Người tiêu dùng ngày càng chú ý hơn về hình thức, mẫu mã sản
phẩm, ít quan tâm hơn đến yếu tố chất lượng sản phẩm. Điều này không có
nghĩa là người tiêu dùng dễ dãi hơn khi chọn chất lượng sản phẩm mà vì họ
nhận thức rằng với công nghệ sản xuất thạch hiện đại thì chất lượng sản
phẩm giữa các thương hiệu không có sự khác biệt rõ ràng, hình thức nói lên
giá trị sản phẩm.
Thứ hai, xu hướng đơn giản gọn nhẹ.Ngày nay cuộc sống bận rộn,
người tiêu dùng ít có thời gian tự phục vụ bữa ăn hàng ngày, đặc biệt món ăn
được ưa chuộng. Mặt khác người dân ngày càng tham gia nhiều vào các
cuộc picnic. Nhu cầu ăn nhẹ phục vụ các chuyến picnic tăng, người tiêu
dùng ưu tiên lựa chọn cho các loại thực phẩm có tính mát,dễ mang, dễ sử
dụng… phù hợp với sở thích tiêu dùng của họ.
Thứ ba, xu hướng tăng mức tiêu dùng thạch dành cho những người ăn
có độ ngọt nhẹ…Thực tế cho thấy, kinh tế xã hội phát triển, mức sống của
con người được nâng cao, nhu cầu về dinh dưỡng đáp ứng đủ, con người
muốn trở lại thời kỳ” kham khổ’’, hạn chế mức tiêu dùng thực phẩm có chất
dinh dưỡng cao để giữ sức khoẻ và hình thể. Thạch có hàm lượng chất dinh
dưỡng không cao, đã đáp ứng được nhu cầu đó.
Thứ tư, xu hướng tự nhiên hoá món ăn.Cuộc sống bận rộn, căng
thẳng, không những làm cho người ta mong muốn trở về với khung cảnh tự
nhiên để sống và nghỉ ngơi mà còn làm cho họ tự nhiên hoá trong các món

vì muốn con mình vui nên trong giới hạn nhất định cũng thường đáp ứng
những yêu cầu của các em, trong đó có sản phẩm thạch.
Lứa tuổi này đa số thích tiêu dùng sản phẩm thạch vì những hình ảnh
ngộ nghĩnh được trang trí trên bao gói và các hộp bảo vệ sản phẩm như: hình
búp bê, hình các con vật poke, pikachu…Thêm vào đó là màu sắc, kiểu
dáng bắt mắt của sản phẩm cùng với tính mát dễ ăn và không nhanh chán
bởi độ ngọt dịu của sản phẩm.
Nhưng các em thường chưa mua được. Bố mẹ là người ra quyết định
có đáp ứng thoả mãn yêu cầu của các em không. Tuy nhiên bố mẹ thường
chấp nhận mua để cho các em vui.
- Lứa tuổi từ 6-15:
Lứa tuổi này các em được đến trường sống trong môi trường tập thể ,
vui chơi cùng bạn bè và phải tự rèn luyện bản thân theo chỉ dẫn của thầy cô

7

giáo nên ý thức cá nhân độc lập được hình thành. Việc mua sản phẩm tiêu
dùng cho bản thân của các em đã có sự can thiệp, đưa ra ý kiến nhiều hơn và
bố mẹ các em cũng tôn trọng ý kiến của các em . Nhiều em đã tự mua sắm
đồ dùng cho bản thân và thoả mãn, sở thích của mình trong giới hạn về tài
chính. Trong đó, thạch là món ăn mà các em thường ưa thích.
Đa số các em đòi bố mẹ mua theo ý mình và ưu tiên chọn lựa các loại
thạch có hình ảnh ngộ nghĩnh, được quảng cáo nhiều, có chương trình
khuyến mãi hấp dẫn như: tặng tập vở, bút, bó xếp hình…Tuy nhiên, các em
cũng tự mua các loại thạch đó, song thường là mua lẻ một vài chiếc hoặc
gói nhỏ.
- Lứa tuổi 15- 24:
Đây là lứa tuổi bắt đầu trưởng thành. Hầu hết họ tự mua sắm đồ dùng
cho mình, thích màu sắc tươi sáng, thích các hàng hoá liên quan đến các ban
nhạc, các đội thể thao, vận động viên nổi tiếng, thích giao lưu gặp gỡ bạn bè

Thứ nhất, khúc thị trường mục tiêu nhằm vào đối tượng khách hàng
có thu nhập từ khá trở lên. Với khúc thị trường này công ty đã đưa ra thị
trường sản phẩm thạch rau câu mang thương hiệu: ABC và Poke ngoại
được nhập khẩu từ Đài Loan.
Thứ hai, khúc thị trường mục tiêu nhằm vào đối tượng khách hàng có
thu nhập từ mức trung bình đến mức khá. Với khúc thị trường này công ty
đã đưa ra sản phẩm Thạch tau câu thương hiệu là Poke nội được sản xuất tại
Việt Nam theo dây chuyền công nghệ Đài Loan.
* Nhận xét.
Qua việc khảo sát thị trường và nghiên cứu tài liệu người viết nhận
thấy quyết định lựa chọn khúc thị trường mục tiêu của công ty Việt Thành là
đúng đắn. Nó đúng đắn ở chỗ không chỉ là việc phát hiện ra khoảng thị
trường còn trống ở mức giá từ 15.000đồng/1kg đến 20.000đồng/1kg mà còn
theo kịp các xu hướng tiêu dùng sản phẩm của người dân về chất lượng an
toàn vệ sinh thực phẩm và đảm bảo chất lượng cuộc sống.
Người viết xin đưa ra sơ đồ phân đoạn thị trường theo giá và chất
lượng về sản phẩm thạch rau câu của công ty TNHH Việt Thành như sau:
Giá ( nghìn đồng/kg)
20 New Choice, ABC, Poke nhập khẩu
17 Poke nội

15 Long Hải, TenTen, Mỹ Liên...
0 TB khá cao Chất lượng
Phân đoạn thị trường theo giá và chất lượng

910


họ đều chưa chú trọng nhiều vào việc hoàn thiện chất lượng sản phẩm, các
chương trình Marketing còn thiếu hiệu quả. Điều này xuất phát từ rất nhiều
nguyên nhân :
- Tiềm lực tài chính.
- Coi thạch không phải là sản phẩm chính trong chiến lược mở rộng
danh mục sản phẩm của công ty.
Doanh số
Long Hải
Poke
Newchoice
ABC
0 Thấp TB Cao Lượng bán
Phân đoạn thị trường theo doanh số và lượng bán
3.Phân tích một số đối thủ cạnh tranh chính của công ty TNHH Việt
Thành
3.1. Đối với Newchoice
Như đã nói ở trên, Newchoice hiện đang là thương hiệu số 1 tại thị
trường thạch ở Việt Nam. Nó là sản phẩm nhập ngoại chiếm lĩnh thị trường
thạch ở Việt Nam từ rất sớm. Tuy nhiên nó là sản phẩm cao cấp, phục vụ
đoạn thị trường trên, do đó cho đến nay thị phần của Newchoice trên thị
trường Việt Nam chỉ chiếm 18% trong tổng dung lượng thị trường. Cùng với
thời gian xâm nhập sớm vào thị trường Việt Nam Newchoice đã khắc hoạ
được một hình ảnh về 1 thương hiệu có chất lượng cao và uy tín trong tâm
trí người tiêu dùng. Điều đó được phản ánh rất rõ trong việc quan sát hành vi
mua của người tiêu dùng ở các điểm bán và qua việc hỏi họ về mức độ biết

12

đến cũng như đánh giá sản phẩm Newchoice trên các khía cạnh:chất lượng,
mẫu mã,giá cả, ...

triển của công ty, công ty luôn coi đối tượng khách hàng mục tiêu là những
người dân có thu nhập thấp và trung bình. Do vậy công ty đã lựa chọn giải
pháp bao phủ thị trường rất rộng và kết quả đạt được là thị phần khá
cao( khoảng 30%) Là một công ty trong nước Long Hải rất nhạy cảm trong
việc đưa ra chính sách giá phù hợp với phần lớn thu nhập của người dân
Việt Nam, đặc biệt là khu vực nông thôn. Đây là một hướng đi đúng đắn dựa
trên cơ sở phân tích về vấn đề thu nhập. Tuy nhiên sẽ là rất khó khăn nếu

13

như công ty có ý định cho ra những sản phẩm có chất lượng tốt, giá cao tức
là thay đổi định vị cho sản phẩm thạch của mình.
Công ty cũng rất chú trọng đến việc phát triển danh mục sảnphẩm với
chủng loại đa dạng, mẫu mã, bao bì đa kích cỡ…
* Hạn chế:
Việc lựa chọn giải pháp chất lượng trung bình và giá cả thấp sẽ là
không phù hợp khi mức sống của người dân ngày càng được nâng cao. Sẽ là
rất khó khăn cho việc phát triển những danh mục sản phẩm có chất lượng
cao để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của người dân vì hình ảnh của công
ty đã được ghi nhận với sản phẩm có chất lượng trung bình.
Giải pháp phân phối rộng là phù hợp khi thu nhập của người dân còn ở mức
thấp và rủi ro của việc phân phối rộng là khả năng kiểm soát và giải quyết
các mâu thuẫn giữa các thành viên trong kênh sẽ không thoả đáng vì bị phân
tán về nguồn lực.
Các chương trình xúc tiến khuếch trương tuy bước đầu đạt được những
thành công nhất định. Nhưng trong dài hạn sẽ gặp rất nhiều khó khăn, đặc
biệt là chưa coi trọng vấn đề xây dựng và củng cố thương hiệu.
4. Phân tích SWOT đối với công ty TNHH Việt Thành
4.1 Điểm mạnh
- Chất lượng sản phẩm thạch của công ty TNHH Việt Thành được

kinh tế Việt Nam có những bước tăng trưởng khá cao, mức sống
người dân được nâng cao cùng với quy mô dân số lớn đã tạo ra
một dung lượng thị trường rất lớn, đây là một cơ hội tốt cho ngành
sản xuất và kinh doanh thực phẩm nói chung và sản phẩm thạch
nói riêng.
- Quá trình hội nhập AFTA tạo điều kiện mở rộng thị trường đồng
thời mua được nguyên liệu và dây chuyền công nghệ hiện đại với
giá rẻ.
4.4. Thách thức:
- Việt Nam gia nhập AFTA vào tháng 7/2003: Thị trường Việt Nam
sẽ xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh mới. Thách thức đặt ra cho
Việt Thành là công ty không những phải cạnh tranh với đối thủ
cạnh tranh trong nước mà còn có sự gia nhập của các đối thủ trong
khu vực ASEAN.
- Sự biến động của giá cả tiền tệ, đặc biệt là tỷ giá hối đoái sẽ tác
động rất lớn đến việc nhập khẩu nguyên vật liệu dùng cho sản xuất
thạch cũng như việc nhập khẩu sản phẩm thạch để phân phối.
*ý nghĩa của phân tích SWOT.
Phân tích SWOT giúp chúng ta lựa chọn được những chiến lược kinh
doanh dựa trên cơ sở tìm kiếm được những lợi thế và bất lợi nhờ việc phân
tích các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài và các yếu tố thuộc môi trường
bên trong doanh nghiệp.
* Mục đích của phân tích SWOT
Giúp chúng ta đề xuất chiến lược kinh doanh có hiệu quả dựa trên cơ
sở phân tích môi trường bên trong và môi trường bên ngoài doanh nghiệp.
Sơ đồ phân tích SWOT như sau:15


16

nó, đặc biệt là chức năng Marketing của công ty nhằm xem xét vấn đề thiết
lập, tổ chức, giám sát và kiểm tra các hoạt động Marketing.

17

VTC - Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Nhìn vào sơ đồ cơ cấu tổ chức ta thấy công ty TNHH Việt Thành
chưa có phòng Marketing riêng biệt. Hoạt động Marketing chủ yếu do ban

18
Tổng giám đốc
GĐ bán hàng
GĐ tài chính GĐ sản xuất
TP bán
hàng miền
Đông Bắc
TP bán
hàng miền
Nam
TP bán
hàng miền
Tây Bắc
Tp bán
hàng miền
Trung
TP phụ
trách kem
Wall

- Những thương hiệu mạnh sẽ có cách quyết định xử lý các sản
phẩm giá thấp và không hiệu quả.
- Thương hiệu có thể khuyến khích người mua bớt lưỡng lự trong
việc quyết định lựa chọn và làm giảm rủi ro về nhận thức của họ
đối với sản phẩm.

19

- Duy trì được sự nhận thức cao về sản phẩm của doanh nghiệp
mình.
- Thương hiệu được dùng như một đòn bẩy khi giới thiệu sản phẩm
mới.
- Thường xuyên được giải thích như là một chỉ báo của chất lượng.
- Thương hiệu có giá trị cao sẽ tạo nên sự đảm bảo cho sản phẩm
của doanh nghiệp mình trong lòng người tiêu dùng.
- Thương hiệu của doanh nghiệp mình có thể được gắn liền với hình
ảnh về chất lượng mà người tiêu dùng muốn đồng hành cùng với

- Cung cấp một khả năng bảo vệ mạnh mẽ cho sản phẩm mới và
trước các đối thủ cạnh tranh mới.
- Có thể giúp cho sản phẩm bán được nhiều hơn do người tiêu dùng
đã nhận thức được nhãn hiệu của doanh nghiệp mình, chấp nhận
hình ảnh hay danh tiếng của sản phẩm và tin tưởng vào chất lượng
của nó.
- Thương hiệu là tài sản của doanh nghiệp cần đầu tư vào đó, cần
bảo vệ và nuôi dưỡng vó để tạo nên giá trị dài hạn lớn nhất của
doanh nghiệp.
Nhận thức và nắm bắt được tầm quan trọng của thương hiệu là tài sản
vô hình trong doanh nghiệp. Công ty TNHH Việt Thành đã huy động và tập
trung nỗ lực của mình để xây dựng thương hiệu Poke Foods cho riêng mình.

chiếm 38%, thạch Poke nhập chiếm 8,9%,thạch Poke sản xuất chiếm 6.9%,
thạch dừa cocovina chiếm 9,2%.
Việt Thành thực hiện chiến lược đa dạng hoá sản phẩm, các sản phẩm
chính của công ty gồm kem và thạch rau câu với các kiểu phân loại đóng gói
và trọng lượng khác nhau đáp ứng các nhu cầu khác nhau cho các đối tượng

21

khác nhau, đồng thời tạo sự phong phú và nhiều sự lựa chọn cho khách
hàng.
Bảng chủng loại thạch rau câu mang thương hiệu ABC.
Số thứ tự Chủng loại Hình thức đóng gói
1 Túi 23 viên khoai môn Túi
2 Túi 23 tổng hợp Túi
3 Bút chì 5 cây Túi
4 Sữa chua 6 viên Gói
5 Sữa chua lẵng Lẵng
6 Hũ 1,5kg khoai môn Hũ
7 Hũ 1.5kg tổng hợp Hũ
8 Hũ dứa 1,1kg Hũ
9 Hũ gấu 1,35kg Hũ
10 Hũ búp bê Hũ
11 Bút chì cốc 22 cây Cốc
12 Bút chì 20 cây Túi
13 Hũ gấu 1,5kg Hũ
Bảng chủng loại sản phẩm thạch rau câu mang thương hiệu Poke.
Số thự tứ Chủng loại Hình thức đóng gói
1 Túi 0.5kg khoai môn Túi
2 Túi 0.5kg tổng hợp Túi
3 Túi 1.kg khoai môn Túi

đã minh chứng cho hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty 2 tháng cuối
năm.
*Về chất lượng sản phẩm.
Sản phẩm thạch của công ty Việt Thành người tiêu dùng biết đến và
đánh giá là sản phẩm chất lượng tốt. Để làm được điều đó ban lãnh đạo của
công ty đã phải tốn không biết bao nhiêu công sức và tiền của mặc dù đây là
lĩnh vực kinh doanh tương đối mới của công ty. Theo ban lãnh đạo của công
ty thì để đánh giá chất lượng của sản phẩm thạch cần đánh giá nó thông qua
các tiêu chí sau:
Thứ nhất là tập quán và thói quen tiêu dùng:

23

Đối với người tiêu dùng miền Nam họ có thói quen là ưa thích độ ngọt
cao còn với người tiêu dùng miền Bắc thì ưa dùng những sản phẩm có độ
ngọt thấp hơn.
Thứ hai là độ dai, độ giòn, hương thơm, vị chua,độ chua, màu sắc…
Hiện tại công ty đang sử dụng cách phân chia màu sắc dựa vào màu
sắc thiên nhiên của các loại trái cây.Công ty đã chia thành 2 màu sắc chủ đạo
là màu đục (gồm: khoai môn, chuối, ngô, dừa) và màu trong (bao gồm: dứa,
cam, dâu, ổi, vải, na…). Như vậy với cách phân chia này hiện tại công ty
đang có các loại sản phẩm chủ đạo như:thạch khoai môn và thạch tổng hợp.
Tuy nhiên sản phẩm thạch của công ty cũng cần phải khắc phục các tình
trạng: chảy nước, xì, mùi vị lạ, mất màu…Nguyên nhân của các rủi ro này
chủ yếu là do các chất được sử dụng trong sản xuất sản phẩm có thể chịu tác
động của ánh sáng mặt trời gây ra hiện tượng mất màu đối với sản phẩm, lớp
bọc sản phẩm có thể bị hở…
*Về mặt thiết lập, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát đánh giá sản
phẩm của công ty.
+ Về sản xuất: Hiện nay công ty có một giám đốc sản xuất, một trưởng

* Xét trên giác độ là nhà nhập khẩu phân phối sản phẩm thạch ABC
Hiện tại công ty TNHH Việt Thành đang phân phối sản phẩm thạch ABC
của nhà sản xuất Stanglin- Đài Loan. Việc tổ chức nhập khẩu và phân phối
thạch ra thị trường được công ty Việt Thành thực hiện trên cơ sở phân tích
nhu cầu của khách hàng tại Việt Nam. Từ đó có những điều chỉnh cho phù
hợp về sản phẩm đối với nhà sản xuất.
5.2.Giá

25

Trích đoạn Loại sảnphẩm Năm 2002/2001 Số Năm 2003/2002 tuyệt Lợi nhuận bất thường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status