Kế hoạch ngoại thương của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020.
Ngày 25/7/2012, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã ký Quyết định
số 950/QĐ-TTg ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược xuất
nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 - 2020, định hướng đến năm 2030. Chiến lược
này đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2471/QĐ-TTg
ngày 28/12/2011.
Mục tiêu của Chương trình hành động thực hiện Chiến lược xuất nhập
khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030 (gọi tắt là Chương
trình hành động) hướng tới mục tiêu gồm: Tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa bình
quân 11% - 12%/năm trong thời kỳ 2011-2020; Tăng trưởng nhập khẩu hàng
hóa bình quân tăng 10% - 11%/năm trong thời kỳ 2011 -2020; Giảm dần thâm
hụt thương mại, kiểm soát nhập siêu khoảng 10% kim ngạch xuất khẩu vào năm
2015 và tiến tới cân bằng cán cân thương mại vào năm 2020. Phấn đấu cán cân
thương mại thặng dư thời kỳ 2021 – 2030.
Chương trình hành động gồm các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Một là, Phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Triển khai thực hiện Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm
2020…; Xác định cụ thể các mặt hàng xuất khẩu có tiềm năng. Xây dựng và
ban hành cơ chế, chính sách nhằm phát triển sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có
tiềm năng, có lợi thế cạnh tranh cấp quốc gia, có tốc độ tăng trưởng và giá trị
gia tăng cao thuộc các nhóm hàng vật liệu xây dựng, sản phẩm hóa dầu, sản
phẩm cao su, sản phẩm chất dẻo, điện tử, điện thoại di động…Thường xuyên
nắm tình hình áp dụng các biện pháp bảo hộ mậu dịch, hàng rào kỹ thuật của
nước nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là các mặt
hàng nông, lâm, thủy sản…
Hai là, Phát triển thị trường, xúc tiến thương mại
Khẩn trương xây dựng trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Chiến lược
đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) đến năm 2020, tập trung các
nguồn lực để đàm phán FTA vào các thị trường, khu vực thị trường trọng điểm,
nhiều tiềm năng; Xây dựng đề án phát triển, đẩy mạnh xuất khẩu đối với từng
khu vực thị trường nhằm đa dạng hóa mặt hàng và thị trường xuất nhập khẩu,
Đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông, kho tàng bến bãi tại các cảng
biển lớn và các địa điểm thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu để đáp ứng nhu
cầu xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Xây
dựng và hoàn thiện khung khổ pháp lý, chính sách phát triển dịch vụ logistics,
đồng thời chuẩn hóa quy trình dịch vụ, nâng cấp cơ sở hạ tầng và chất lượng
nguồn nhân lực; Xây dựng cơ chế, chính sách nâng cao năng lực, hiệu quả cung
cấp và phát triển dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu của Việt Nam.
Năm là, Đào tạo phát triển nguồn nhân lực
Xây dựng, cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp,
hiệp hội ngành hàng đầu tư, tham gia vào lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực phục
vụ các ngành hàng sản xuất, xuất khẩu; Tăng cường đào tạo, phổ biến kiến thức
và chính sách, pháp luật thương mại của các nước cho các địa phương, doanh
nghiệp để tận dụng các ưu đãi trong các cam kết quốc tế và có biện pháp tích
cực, chủ động phòng tránh các hàng rào trong thương mại để phát triển xuất
khẩu các mặt hàng chủ lực, mặt hàng mới của Việt Nam…
Sáu là, Kiểm soát nhập khẩu:
Quy hoạch sản xuất nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu thiết yếu nhập
khẩu phục vụ cho sản xuất và gia công xuất khẩu, tập trung các sản phẩm trong
nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu trong
nước; Xây dựng lộ trình đàm phán, thỏa thuận về trao đổi thương mại cấp Chính
phủ nhằm cải thiện cán cân thương mại với các đối tác thương mại một cách
hợp lý, phù hợp với nhu cầu, trình độ sản xuất trong nước và các cam kết quốc
tế, nhất là các nước mà Việt Nam có tỷ lệ nhập siêu cao; Tăng cường sử dụng
hàng hóa trong nước đã sản xuất được để góp phần kiềm chế nhập siêu; đẩy
mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại trong nước nhằm tạo cơ hội kết nối
giữa các doanh nghiệp sản xuất máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên phụ liệu với
các doanh nghiệp sử dụng các loại máy móc, thiết bị và vật tư này; xây dựng cơ
chế khuyến khích sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước trong đấu thầu
các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; Tăng cường các biện pháp quản lý
nhập khẩu phù hợp các cam kết quốc tế, kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn
Việt Nam tiếp tục đà tăng
trưởng mạnh với giá trị
năm 2011 đạt gần 2,4 tỷ
USD, trong đó XK tôm sú
chiếm 59,7% tổng giá trị, XK tôm chân trắng chiếm 29,3%, còn lại là tôm các
loại khác.
Giá trị XK cá tra năm 2011 đạt khoảng 1,805 tỷ USD, tăng gần 26,5%,
với khối lượng XK trên 600.000 tấn, tăng 3% so với năm 2010. Năm 2011, đã
có hơn 230 DN XK cá tra đến hơn 130 thị trường trên thế giới, trong đó 10 thị
trường lớn nhất chiếm 73% về giá trị, tăng so với mức trên 70% của cùng kỳ
năm ngoái.
Giá trị XK cá ngừ năm 2011 đạt 379,4 triệu USD, so với cùng kỳ năm
ngoái tăng 29,4% so với năm 2010. Giá XK cá ngừ tăng khá mạnh và tăng
mạnh nhất tại thị trường Nhật Bản với hơn 100%, các thị trường khác như
Canađa, Ixraen, Mỹ, Thụy Sỹ... cũng tăng từ 50 - 80%.
Năm 2011, giá trị XK mực, bạch tuộc của cả nước đạt 520,3 triệu USD,
tăng 31% so với cùng kỳ năm ngoái. Thị trường NK mực, bạch tuộc Việt Nam
năm 2011 tăng lên con số 76 so với 66 của năm 2010. Các thị trường NK hàng
đầu là Hàn Quốc, EU, Nhật Bản và ASEAN không thay đổi thứ hạng so với
năm ngoái và đều tăng trưởng khả quan từ gần 30% đến hơn 40%.
XK nhuyễn thể hai mảnh vỏ cả năm 2011 đạt gần 82 triệu USD.Đây là
mặt hàng duy nhất trong nhóm hàng hải sản giảm sút về giá trị XK so với năm
trước.Năm 2011, nguồn nguyên liệu nghêu (đặc biệt là nghêu trắng) bị thiệt hại
nặng tại nhiều địa phương ở ĐBSCL, ảnh hưởng lớn đến hoạt động XK mặt
hàng này.
Từ những kết quả đạt được trong năm 2011, tại Hội nghị Tổng kết thực
hiện kế hoạch năm 2011 và triển khai kế hoạch năm 2012, Bộ NN và PTNT đặt
mục tiêu năm 2012, cả nước phấn đấu đạt tổng kim ngạch XK thủy sản 6,5 tỷ
USD. Xa hơn nữa, cộng đồng DN thủy sản Việt Nam bắt đầu hướng tới mục
tiêu nêu ra trong Chiến lược Phát triển XK thủy sản giai đoạn 2010 - 2020 của
sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước./.
(Nguồn: http://www.lefaso.org.vn/default.aspx?
portalid=18&tabid=328&itemid=2318)
Ngành Dệt may:
Việt Nam hiện đứng thứ 10 thế giới về xuất khẩu hàng dệt may. Do tác
động của suy thoái kinh tế toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm
2009 chỉ đạt 9.01 tỷ đô la Mỹ, giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Điều này có
thể được xem như là một thành công của Việt Nam vì dệt may là ngành duy
nhất vẫn đạt được kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong khi kim ngạch xuất khẩu
chung bị sụt giảm. Nguyên nhân chính là hàng dệt may Việt Nam vẫn đứng
vững tại các thị trường xuất khẩu truyền thống (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản) và mở
rộng thêm nhiều thị trường mới (Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Đông, Singapore)
cũng như thị trường trong nước. Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) đã đặt ra
mục tiêu đầy tham vọng với kim ngạch xuất khẩu năm 2010 là 10,5 tỷ đô la Mỹ
và năm 2020 là 20 tỷ đô la Mỹ.
(Nguồn:http://vaisoiphuloc.vn/Default.aspx?
tabid=330405&articleId=10843&articleType=ArticleView&SkinSrc=%5BG
%5DSkins%2F_default%2FNo+Skin&ContainerSrc=%5BG%5DContainers
%2F_default%2FNo+Container)
Bảng số liệu và dự báo tình hình xuất nhập khẩu dệt may của Việt Nam
giai đoạn 2010-2013
Năm 2010 2011 2012 2013
Kim ngạch XK hàng dệt (triệu USD) 1.553,5 1.798,8 1.942,7 2.212,7
Kim ngạch NK hàng dệt (triệu USD) 5.056,9 5.166,8 4.990,7 5.096,5
Cán cân thương mại ngành dệt (triệu USD) -3.503,4 -3.368,0 -3.048,0 -3.183,8
Kim ngạch XK hàng may mặc (triệu USD) 9.665,4 11.198,6 12.989,0 13.805,3
Kim ngạch NK hàng may mặc( triệu USD) 379,8 414,0 451,3 497,3
Cán cân thương mại ngành may mặc (triệu
USD)
9.285,6 10.784,6 12.538,7 13.408,0
Định hướng phát triển cây cà phê bằng các hình thức kinh tế hợp tác giữa doanh
nghiệp và nông dân, tăng tỷ lệ cà phê được chế biến ở quy mô công nghiệp từ
20% năm 2010, lên đến 40% năm 2015 và 70% năm 2020.
Đối với cây cao su, định hướng giữ nguyên mục tiêu ổn định diện tích
800 ngàn ha.Sau năm 2015, trên cơ sở đánh giá hiệu quả diện tích cao su đã
trồng và quỹ đất của các vùng để xem xét điều chỉnh quy mô diện tích cao su
phù hợp, hiệu quả và bền vững.
Về chế biến cao su, sẽ cải tiến công nghệ, tạo cơ cấu sản phẩm hợp lý để
nâng cao giá trị xuất khẩu. Từ nay đến năm 2020, phải đầu tư tăng thêm công
suất chế biến là 500.000 tấn mủ khô/năm. Xây dựng các nhà máy sản xuất săm,
lốp ô tô, xe máy… đưa tỷ trọng sử dụng mủ cao su trong nước lên tối thiểu 30%
vào năm 2020.
( Nguồn: http://www.thiennhien.net/2012/02/06/giu-on-dinh-3-8-trieu-ha-dat-
lua-tu-2020/)
Ngành chế biến nhân điều thô:
Trong “Chiến lược phát triển bền vững ngành điều Việt Nam giai đoạn
2010-2020”, ngành điều cũng hướng tới phát triển bền vững trong tất cả các
khâu trồng, thu mua, chế biến, tiêu thụ trong và ngoài nước. Ngành điều còn đặt
mục tiêu giữ vững vị trí số 1 thế giới về xuất khẩu điều, đến năm 2015 chế biến
được 190.000 tấn nhân điều thô, trong đó có 40.000 tấn chế biến sâu; xuất khẩu
150.000 tấn nhân thô và 30.000 tấn chế biến sâu.
Đến năm 2020, phấn đấu chế biến được 220.000 tấn nhân thô, trong đó có
100.000 tấn chế biến sâu; xuất khẩu 120.000 tấn nhân thô, tiêu dùng trong nước
35.000 tấn. Để đáp ứng nhu cầu sản xuất này, Hiệp hội Điều Việt Nam cho rằng
sẽ giữ vững quy hoạch 3 vùng trồng điều Đông Nam bộ, Tây Nguyên, Duyên
hải Nam Trung bộ.
Được biết thời gian qua, xuất khẩu điều của Việt Nam luôn giữ vị trí cao
trên thị trường thế giới. Trong năm 2010, ngành điều đạt kim ngạch xuất khẩu
1,135 tỷ USD và là năm thứ 4 giữ vị trí xuất khẩu hàng đầu thế giới, chiếm tỷ
trọng 50% tổng sản lượng nhân điều xuất khẩu toàn cầu.
các cam kết, thỏa thuận kinh tế - thương mại quốc tế nhằm đẩy mạnh xuất khẩu
vào các thị trường hiện có mức nhập siêu lớn.
Hơn nữa, phải đẩy nhanh quá trình xây dựng và sử dụng hợp lý, phù hợp
cam kết quốc tế các hàng rào kỹ thuật.
Một số mục tiêu cụ thể được đề ra trong giai đoạn 2010-2020 là: Phấn
đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7-
8%/năm; GDP năm 2020 theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm
2010, GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD.
(Nguồn: http://www.baomoi.com/2020-Viet-Nam-phan-dau-GDP-binh-quan-
dau-nguoi-dat-3000-USD/122/5539217.epi và
http://dinhkhue.com/tintuc_ct.asp?Id_danhmuc=2&Id=59)
A- NÂNG CAO HIỆU QUẢ XUẤT KHẨU VIỆT NAM TRONG
GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ
I. Kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển ở châu Á
Trên thế giới ngày nay, xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế là đàm phán
đối thoại, hợp tác cùng phát triển.Viêt Nam cũng không nằm ngoài xu thế
đó.Bước vào thời kì đổi mới, đất nước ta đứng trước những thách thức của thời
vận mới, đòi hỏi có những chính sách ngoại thương phù hợp, nhạy bén và linh
hoạt hơn. Việc học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm ngoại thương của các nước trong
khu vực và trên thế giới đã mang lại những thành tựu to lớn. Trong đó không
thể không kể đến việc gia nhập ASEAN. Ngày 28 tháng 7 năm 1995, sự kiện
Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á đã mở ra một trang mới không chỉ trong quan hệ với các quốc gia thành viên
mà còn ngay trong chính đường lối phát triển kinh tế của Việt Nam. Bỏ qua
những mâu thuẫn và bất đồng trước đây, Việt Nam đã ngày càng khẳng định vị
trí và tầm quan trọng của mình trong tổ chức. Trong bài tiểu luận này, chúng tôi
chỉ tập trung phân tích những bài học kinh nghiệm ngoại thương của các nước
phát triển và đang phát triển ở châu Á như : Trung Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc,
ASEAN…
I.1. Asean
thành nước chiếm lĩnh ngôi độc tôn trên thị trường gạo thế giới.
Lợi thế vị trí địa lý của Thái Lan:
-Điều kiện khí hậu thiên nhiên của Thái Lan được trời ban tặng giống
như nhiều nước trồng lúa nước trong khu vực. Xét về truyền thống canh tác,
Thái cũng mang màu sắc thuần nông giống như các nước khác, nhưng vì sao
Thái Lan diện tích đất nước chỉ 513.100 Km2 lại bứt lên nhanh chóng trở
thành nước xuất khẩu gạo lớn nhất trên thê giới. Năm 2011 mặc dù bị thiên
tai lũ lụt lớn nhất trong lịch sử, xuất khẩu gạo của Thái Lan vẫn đạt 10,6
triệu tấn, thu nhập 200 tỉ Bạt. Từ tháng 1 tới tháng 4/2012, cho dù nhiều
nước khác bắt đầu xuất khẩu gạo như Ấn Độ, nhưng lượng xuất khẩu gạo
của Thái vẫn đạt 2,7 triệu tấn, đứng số 1 thế giới.
Theo như lịch sử trước thập kỷ 60 Thế kỉ 20, Thái Lan vẫn là nước
nông nghiệp lạc hậu, sản xuất lúa gạo vẫn bình thường như nhiều nước
khác, xuất khẩu gạo vẫn ở mức trung bình, nhưng từ đầu Thập kỷ 70 và nhất
là thời gian khi bước vào Thập kỷ 80 Thế kỷ 20 tới nay, Thái Lan bứt lên và
trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới với số lượng hàng năm trên
10 triệu tấn.
Thành công này của Thái Lan trước tiên phải kể tới vai trò của nhà
nước do đã định hướng chiến lược phát triển kinh tế quốc dân đúng đắn,
biết khai thác và khơi dậy tiềm năng về thế mạnh của đất nước. Nhận thức
rõ thế mạnh của mình, Nhà nước Thái Lan xác định lấy ưu tiên phát triển
nông nghiệp làm chiến lược cơ bản cho phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc
dân. Năm 1982, Chính phủ Thái Lan định ra “Chiến lược phát triển kinh tế
quốc dân lấy hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp làm mục tiêu”. Tiếp đó,
năm 1995, Nhà nước lại ban hành “Quy hoạch tăng cường phát triển cơ giới
hóa nông nghiệp và ứng dụng kỹ thuật mới vào nông nghiệp”.Năm 2000,
Nhà nước lại ban hành “Chiến lược nâng đỡ sản xuất nông nghiệp lấy năng
suất cao, tăng phục gia sản phẩm nông nghiệp, tăng sức cạnh tranh sản
phẩm nông nghiệp làm mục tiêu phấn đấu.
Đây là những văn bản mang tính pháp quy tạo hành lang pháp lý cho
27/5/2012 vừa qua, Thái Lan đã trưng bày hơn 100 loại giống lúa tốt cùng các
kỹ thuật sản xuất và chế biến gạo hiện đại vào bậc nhất thế giới hiện nay. Ngoài
ra, Thái Lan còn hợp tác với các nước, nhất là các nước ASEAN lập ra các tổ
chức như Hiệp hội lúa gạo, Hợp tác đối tác trao đổi lúa gạo, Hiệp hội tiêu thụ
gạo... nhằm tăng cường hợp tác trao đổi kinh nghiệm với các nước. Chính vì
vậy,” Gạo Thái trở thành thương hiệu nổi danh khắp thế giới.”
Một số kinh nghiệm và bài học rút ra cho Việt Nam
Thứ nhất, trong quá trình phát triển kinh tế Thái Lan luôn có chính sách ngọai
giao đa phương và mềm dẻo. Là một nước chưa bao giờ bị các nước đế quốc
xâm chiếm làm thuộc địa, Thái Lan đã sớm ký kết những hiệp định thương mại
với các cường quốc như: Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Đức.
Và đến năm 1958, thủ tướng đương nhiệm lúc bấy giờ là Sarit Thanarat đã đưa
ra chính sách dựa vào Mỹ. Chính nhờ quyết định này mà sau chiến tranh thế
giới lần thứ 2, Mỹ đã đầu tư rất nhiều cả về kinh tế lẫn chính trị vào Thái Lan.
Thứ hai, song song với việc thực hiện các chính sách, Thái Lan cũng luôn coi
trọng sự ổn định kinh tế vĩ mô như duy trì tỷ giá hối đoái ổn định, đồng Bath
được cố định theo đồng đô la Mỹ cùng với tỷ lệ lạm phát thấp (5% trong vòng
nhiều năm kể từ năm 1980).
Thứ ba, chính phủ Thái Lan cũng giành phần lớn vốn viện trợ ODA và vốn vay
cho phát triển cơ sở hạ tầng. Đây là một chủ trương đúng đắn, có ý nghĩa trong dài
hạn góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững và cải thiện đời sống nhân dân.
Thứ tư, trong thời gian này vai trò của Nhà nước trong quản lý phát triển kinh
tế vẫn luôn được coi trọng. Chính phủ Thái Lan đã đề ra việc thực hiện 9 kế
hoạch 5 năm, ban hành kịp thời các bộ luật để quản lý, kiểm tra và sửa chữa mọi
hoạt động trong nền kinh tế.
Thứ năm, Chính phủ Thái Lan cũng hết sức mềm dẻo linh hoạt trong triển khai
chính sách kinh tế trong từng giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá hướng về
xuất khẩu. Trong những năm 70, với mục tiêu tận dụng lợi thế giá nhân công và
nguyên liệu rẻ, Thái Lan tập trung vào sản xuất và chế biến hàng nông sản, dệt
may, da giày,... Đây là các ngành công nghiệp nhẹ, đòi hỏi ít vốn, nhiều lao
nay đều là những thị trường lớn và phát triển như Mỹ, Nhật, Singapore, Trung
Quốc, Hàn Quốc… Do vậy, qua đó cũng có thể trao đổi công nghệ cao, tiết
kiệm quá trình nghiên cứu. Hay là tạo điều kiện cho việc thu hút đầu tu nước
ngoài.
Ngoài ra còn có bài học kinh nghiệm của một số nước ngoài khu vực
Đông Á:
I.1.4. Nhật Bản
Với số dân 126.3 triệu người và tổng sản phẩm quốc dân GNP hàng năm
đạt gần 500 nghìn tỷ USD và mức sống của người dân khá cao (GDP bình quân
đầu người của Nhật Bản năm 2005 là 37.000 USD). Nhật Bản là một thị trường
tiêu dùng lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ và cũng là một thị trường nhập khẩu
hàng hóa lớn.
Ngoài ra, trong những năm gần đây, xuất hiện xu hướng chuyển giao nhà
máy ra nước ngoài sản xuất và nhập khẩu trở lại Nhật Bản. Các công ty Nhật
Bản đang di chuyển các xí nghiệp sang các nước để tiến hành sản xuất và bán
hàng hóa tại chổ hoặc xuất khẩ ngược lại Nhật Bản. Các hàng thành phẩm hoặc
lắp ráp tại nước ngoài có sức cạnh tranh vì giá thành rẽ hơn lắp ráp, sản xuất
trong nước. Nếu tranh thủ được xu thế này thì có thể thu hút đầu tư của Nhật
vào các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Trường hợp điển hình tại Việt Nam
là công ty Fujitsu đặt nhà máy sản xuất mạch in tại Việt Nam đã tạo ra kim
ngạch xuất khẩu 300 triệu USD.
Một số phương hướng kinh nghiệm để thúc đẩy việc xuất khẩu của Nhật Bản:
1. Tận dụng được kỹ thuật công nghệ nước ngoài để tăng cường khả năng
cạnh tranh cho các sản phẩm công nghiệp trong nước.
- Hạn chế nghiêm ngặt đối với hàng nhập khẩu vào Nhật Bản, buộc họ phải
cấp giấy phép kỹ thuật công nghệ còn hơn là bị loại trừ hoàn toàn khỏi thị
trường Nhật.
- MITI can thiệp trực tiếp vào việc nhập khẩu công nghệ nước ngoài, làm
giảm giá thành đối với người mua Nhật Bản, tạo điều kiện thuận lợi cho
phát triển nghiên cứu và sản xuất cho các doanh nghiệp trong nước. Nhật
thị trường thông qua việc thúc đẩy và hỗ trợ DN nghiên cứu, đổi mới công
nghệ, tập trung sản xuất ra các sản phẩm công nghệ cao và có chính sách đào
tạo cho người lao động trong nước để phát triển những ngành công nghệ mới,
sản xuất những sản phẩm công nghệ cao và xuất khẩu. Việt Nam có thể tham
khảo kinh nghiệm này của Nhật Bản để có chính sách phù hợp giữa phát triển
kinh tế trong nước kết hợp với thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài.
Kinh nghiệm học hỏi từ chính sách xuất khẩu của Nhật Bản:
Chính sách ngoại thương là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chính
sách đối ngoại của mỗi quốc gia. Mặc dù được điều chỉnh liên tục nhưng chính
sách ngoại thương vẫn luôn phải đảm bảo được mục tiêu: tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài nhằm tăng
nhanh qui mô xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới trong
khi vẫn bảo đảm được thị trường nội địa, hạn chế được nhưng cạnh tranh bất lợi
từ bên ngoài.
Nhật Bản là một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên.Rừng núi chiếm 2/3 diện
tích cả nước, diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm 15 %.Khoáng sản và các tài
nguyên thiên nhiên hầu như không có gì ngoài đá vôi và khí sunfua. Đối với các
nguyên liệu cơ bản như đồng, chì, kẽm, nhôm.... Nhật Bản đều phải phụ thuộc
vào nhập khẩu từ nước ngoài.Thêm vào đó nền kinh tế đất nước lại bị chiến
tranh tàn phá nặng nề. Tài nguyên duy nhất của Nhật Bản để phục hồi kinh tế đó
là con người.
Với những điều kiện hết sức khó khăn nhưng Nhật Bản đã biết phát huy hết
sức những lợi thế của mình để phát triển hoạt động thương mại quốc tế, đặc biệt
là hoạt động xuất khẩu.Ngày nay vị thế của Nhật Bản trên trường quốc tế là 1
cường quốc lớn mạnh. Đó là lý do chúng tôi nghiên cứu phân tích chính sách
ngoại thương của Nhật để là bài học kinh nghiệm cho hoạt động xuất khẩu của
Việt Nam.
I.1.5. Trung Quốc
4.1.5.a. Thành tựu
Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc chuyển thể
phạm vi kinh doanh mở rộng đã giúp Trung Quốc nhanh chóng giàu có. Số liệu
của NBS cho thấy thu nhập tài chính của Chính phủ Trung Quốc đã tăng gấp 45
lần trong vòng 30 năm qua. Giàu có khiến Trung Quốc cung cấp một cách có
hiệu quả nguồn tài chính để tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống xã hội cho
người dân, giảm thiểu một cách có hiệu quả mọi rủi ro và thiên tai.
Tăng khối lượng xuất khẩu: Ngoại thương trở thành cửa ngõ quan trọng để
Trung Quốc tham gia vào quá trình hợp tác và cạnh tranh kinh tế quốc tế. Báo
cáo của Cục thông kê quốc gia Trung Quốc (NBS) cho thấy nước này đạt nhiều
thành tựu lớn về ngoại thương trong vòng 30 năm qua.Trong giai đoạn từ 1978-
1993, Trung Quốc luôn trong tình trạng thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, kể từ
năm 1994, Trung Quốc bắt đầu có thặng dư trong ngoại thương với mức tăng
thặng dư nhanh giúp Trung Quốc trở thành quốc gia có lượng dự trữ ngoại tệ
lớn nhất thế giới. Nhờ chính sách buôn bán khôn khéo trong thời gian cải cách
mở cửa, Trung Quốc đã nhanh chóng tích lũy được lượng dự trữ ngoại tệ dồi
dào.Chính phủ Trung Quốc chủ trương chú trọng khâu tái chế, nhanh chóng
biến Trung Quốc trở thành "công xưởng thế giới". Các nhà nhập khẩu nước
ngoài hưởng phần lớn số lợi nhuận được tạo ra từ "công trường thế giới" nhưng
bù lại quá trình gia công chế biến đã giúp Trung Quốc gia tăng lượng dự trữ
ngoại tệ. Với số tiền dự trữ ngoại tệ lớn, Trung Quốc có thể đối phó với cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay.
Hiện tại, Chính phủ Trung Quốc đã thông qua một loạt chính sách như nâng
mức hoàn thuế xuất khẩu nhằm khuyến khích xuất khẩu để đối phó với biên độ
dao động trong nền kinh tế Trung Quốc gây ra bởi tình hình tài chính toàn cầu
bất ổn định.
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài : Trước năm 1992, Trung Quốc hầu như
phải mượn tiền của nước ngoài, đặc biệt là thông qua các khoản vay. Năm 1992,
lần đầu tiên lượng tiền đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Trung Quốc vượt
số tiền vay nước ngoài. Kể từ đó, FDI trở thành kênh quan trọng nhất để Trung
Quốc thu hút tư bản nước ngoài. Kể từ năm 1993, Trung Quốc trở thành quốc
gia hấp dẫn FDI nhất trong số các quốc gia đang phát triển.
chủ yếu, khiến phụ thuộc nhiều vào sự đặt hàng từ bên ngoài); sức cạnh tranh
còn thấp do năng suất sản xuất còn yếu kém; thị phần trong xuất khẩu của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khá lớn (59%). Có một vấn đề quan
trọng khác là sự phân bố và thụ hưởng kết quả của tăng trưởng giữa khu vực
thành thị và nông thôn, giữa các vùng còn có chênh lệch lớn, mà Trung Quốc
cũng đang phải rút ra và có sự điều chỉnh, nhưng không dễ dàng.
Trong quan hệ buôn bán với nước ngoài, Trung Quốc luôn luôn ở vị thế xuất
siêu; mức xuất siêu ngày một lớn và thuộc loại nhất nhì thế giới. Việt Nam luôn
ở vị thế nhập siêu, tăng liên tục từ năm 2000 đến 2004 với mức đỉnh điểm gần
5,5 tỉ USD; năm 2005 tuy đã giảm xuống nhưng vẫn còn trên 4,5 tỉ USD.
Mặc dù giá thế giới cao nhưng lạm phát ở Trung Quốc thuộc loại thấp (bình
quân năm trong thời kỳ 2001 - 2005 chỉ vào khoảng 1,3%) nhờ cung hàng hóa
lớn hơn cầu, sức mua của dân cư, đặc biệt là nông dân và vùng sâu trong nội địa
còn thấp. Tỷ giá giữa đồng nhân dân tệ của Trung Quốc với USD gần như cố
định; gần đây, đồng nhân dân tệ có tăng giá hơn chút ít mặc dù Mỹ liên tục đòi
Trung Quốc tăng giá đồng nhân dân tệ mạnh hơn nhiều.
Cần phát triển kinh tế theo mô hình tăng trưởng cân đối giữa xuất khẩu và nhập
khẩu, quan tâm vào chất lượng của hàng hóa xuất khẩu. Bên cạnh đó cần ưu tiên
bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên
nhiên
Trang bị kiến thức về thương mại quốc tế cho các doanh nghiệp xuất khẩu cũng
như nhập khẩu. Những biện pháp để nâng cao giá trị hàng xuất khẩu từ đó tạo ta
nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước. Tạo điều kiện tối đa cho các doanh
nghiệp xuất khẩu hàng hóa.
I.1.6. Hàn Quốc
Với dân số 47 triệu người, tổng kim ngạch nhập khẩu lên tới 150 tỷ USD,
thu nhập bình quân đầu người gần 10.000 USD/năm, Hàn Quốc là một thị
trường tiêu thụ lớn. Đây là thị trường có tiềm năng lớn cho hàng xuất khẩu của
nước ta.
Do những thay đổi của lối sống, xu thế tiêu dùng của người dân Hàn