Nguyễn Thị Mai Hoa Lớp K34-C4
Chơng I
Một số vấn đề lý luận cơ bản về
phát triển sức bán của doanh nghiệp dới
điều kiện kinh tế thị trờng nớc ta
I. Khái quát marketing phân phối và tiêu thụ của doanh
nghiệp.
1. Khái niệm, chức năng phân phối và tiêu thụ của marketing doanh
nghiệp.
Tiêu thụ hàng hoá là quá trình thực hiện giá trị hàng hoá và chuyển
giao quyền sở hữu về sản phẩm. Đây là khâu cuối cùng trong kinh doanh,
nhằm thực hiện những lợi ích kinh tế giữa ngời sản xuất và ngời tiêu dùng
trong nền kinh tế.
Phân phối vận động hàng hoá và dịch vụ xét trên cả hai mặt tổ chức lu
chuyển danh nghĩa sở hữu và phân phối vận động vật lý của chúng từ đầu ra của
ngời sản xuất và cung ứng đến khi tiếp cận với ngời tiêu dùng cuối cùng là một
bộ phận hữu cơ trọng yếu hợp thành quá trình marketing tổng thể và chiến lợc
marketing chung. Những ngời sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch vụ cần phải
quyết định về cách tốt nhất về bảo quản và vận chuyển hàng hoá và dịch vụ đến
thị trờng cuối cùng của mình. Vì vậy, hiệu quả của việc phân phối hàng hoá vật
chất sẽ có ảnh hởng to lớn đến sự hài lòng của khách hàng và chi phí của Công
ty.
1
Nguyễn Thị Mai Hoa Lớp K34-C4
Phân phối hàng hoá vật chất bao gồm việc lập kế hoạch, thực hiện và
kiểm tra các dòng vật chất của vật t và thành phần từ các điểm xuất xứ đến các
điểm sử dụng nhàm đáp ứng những yêu cầu của khách hàng và có lợi nhuận.
Hoạt động phân phối vận động vật lý đợc hiểu là tổ hợp các hoạt động có
liên quan đến vận chuyển, xếp giữ, bảo quản, bao gói, kho tàng, thông tin, kiểm
kê và hạch toán chi phí trên các kênh phân phối mà doanh nghiệp tham gia.
Trong nền kinh tế thị trờng có định hớng xã hội chủ nghĩa, do còn tồn tại
hay những ngời sử dụng để kinh doanh.
- Ngời bán lẻ: Một trung gian chủ yếu bán hàng hoá cho ngời tiêu dùng
cuối cùng.
- Ngời môi giới: là ngời trung gian phục nh là một ngời dẫn mối cho ngời
mua hoặc cho ngời bán, đợc xem nh không có rủi ro về sở hữu hàng hoá, thờng
là không quan tâm đến sản phẩm về vật chất và không đợc xem là một đại diện
lâu dài của cả ngời mua lẫn ngời bán.
- Đại lý bán: là một thành viên kênh độc lập, có thể là cá nhân hay tổ
chức, ngời có nhiệm vụ trong việc bán sản phẩm hoặc dịch vụ của Công ty nhng
không sở hữu sản phẩm đợc bán.
- Nhà phân phối: là một trung gian bán buôn, đặc biệt là trong kênh phân
phối lựa chọn hoặc phân phối độc quyền thờng phổ biến ở mức bán buôn trong
đó nhà sản xuất mong đợi các trợ giúp xúc tiến (thờng đợc đồng nghĩa với nhà
bán buôn).
- Ngời buôn bán: là loại trung gian mua hàng từ nhà sản xuất và bán lại
cho ngời bán lẻ (một dạng nhà buôn).
3
Nguyễn Thị Mai Hoa Lớp K34-C4
- Đại lý bổ trợ: là một Công ty kinh doanh trợ giúp trong việc thực hiện
các nhiệm vụ phân phối ngoài các nhiệm vụ mua, bán, chuyển quyền sở hữu (ví
dụ nh các công ty vận tải, nhà kho ).
Một kênh phân phối là sự liên kết các tổ chức qua đó ngời bán đa sản
phẩm ra thị trờng tới ngời sử dụng hoặc ngời tieeu dùng cuối cùng. Một vài đơn
vị của những mắt xích này gánh chịu rủi ro về sở hữu, số khác thì không. Một
vài tổ chức thực hiện những chức năng marketing trong khi những ngời khác
thực hiện chức năng không phải marketing hay những chức năng bổ trợ nh là
việc vận tải.
Biểu hình (BH1): Những kênh phân phối điển hình cho hàng tiêu
dùng:
Nhà sản xuất Ngời tiêu dùng.
sử dụng
công
nghiệp
Người phân phối công nghhiệp
Đại lý
Người phân phối công nghhiệpĐại lý
Nguyễn Thị Mai Hoa Lớp K34-C4
- Tài chính: là việc cung cấp tín dụng hoặc cung cấp tiền để thúc
đẩy việc giao dịch.
- Dự trữ: là việc duy trì hàng tồn kho và bảo vệ sản phẩm để cung
cấp dịch vụ khách hàng tốt hơn.
- Phân hạng: phân loại sản phẩm thành các cấp loại khác nhau trên
cơ sỏ chất lợng.
- Vận tải: là sự vận chuyển vật lý hàng hoá từ nơi chúng đợc sản
xuất ra tới nơi chúng đợc mua hoặc sử dụng.
- Chấp nhận rủi ro: chấp nhận rủi ro kinh doanh trong vận chuyển và
sở hữu hàng hoá.
- Nghiên cứu marketing: thu nhập thông tin liên quan nh các điều
kiện thị trờng, khối lợng bán mong muốn, các xu hớng khách
hàng, các lực lợng cạnh tranh.
- Việc lựa chọn kênh phân phối có ảnh hởng sâu sắc đến mức độ
trách nhiệm và chi phí trong việc bán hàng của nhà sản xuất. Do
đó các Công ty phải xác định đợc rõ họ sẽ tham dự trực tiếp hay
gián tiếp vào thị trờng. Có 3 phơng án phân phối khác nhau:
Trực tiếp Gián tiếp Hỗn hợp
6
Công ty Công ty Công ty
Đại
lý
hàng
loại II
Trung gian
khác
Nguyễn Thị Mai Hoa Lớp K34-C4
kênh phân phối và do các kênh rất khó thay đổi một khi nó đã hình thành nên
các quyết định về kênh là cực kỳ quan trọng với thành công của công ty.
Kênh phân phối vật chất đảm bảo khả năng của công ty có thể sản xuất ra
sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng của mình một cách đáng tin
cậy. Trong nền kinh tế thị trờng định hớng theo nhu cầu thị trờng, nhu cầu tiêu
dùng sản phẩm và cung ứng dịch vụ sẽ định hớng và thúc đẩy những nhân tố tạo
nên hoạt động làm tăng thêm giá trị. Trọng tâm quản lý trong phân phối vật
chất là xác định cấu trúc kênh và quản lý nó nhằm làm cho các hoạt động tăng
thêm giá trị đạt hiệu quả cao nhất. Quá trình làm tăng thêm giá trị trong phân
phối cũng đồng thời tạo ra sự kết dính giữa công ty với cơ sở cung cấp và khách
hàng của mình. Mục tiêu cơ bản của kênh phân phối vật chất là làm tăng thêm
giá trị bằng cách đa hàng hóa đến đúng địa điểm và thời gian cần tới chúng.
Thông qua các thớc đo hiệu quả hoạt độnc phân phối vật chất, kênh hoạt động
hiệu quả nh thế nào phụ thuộc vào việc mua bán và hoạt động phân phối vật
chất. Bản chất của phân phối vật chất là khác nhau đối với ngời bán buôn và ng-
ời bán lẻ và nhà sản xuất. Phân phối vật chất đóng vai trò giúp cho sự kết hợp
giữa các hoạt động sản xuất và hoạt động marketing. Các trung gian Marketing
trong một nền kinh tế là rất cần thiết vì nó đem lại sự trao đổi giữa ngời mua và
ngời bán một cách có hiệu quả thích hợp.
Nhiệm vụ cơ bản của phân phối vật chất là phục vụ các khách hàng. Do
khả năng cung ứng dịch vụ cho khách hàng, phân phối vật chất đóng vai trò nh
một phần quan trọng trong toàn bộ chiến lợc Marketing của công ty. Khả năng
cung ứng dịch vụ khách hàng của một công ty phản ánh trực tiếp hiệu quả của
việc thiết kế hệ thống phân phối vật chất. Việc thiết kế hệ thống phân phối vật
chất của một công ty đòi hỏi phải tạo ra đợc một cơ cấu hoạt động tổng thể có
9
Nguyễn Thị Mai Hoa Lớp K34-C4
của sản phẩm từ các nơi sản xuất hay đầu mối nhập khẩu đến các điểm bán
hoặc nơi tiêu dùng một cách hợp lý, góp phần giảm chi phí lu thông.
II. Phân định nội dung của phát triển sức bán của Doanh
nghiệp.
1. Khái niệm sức bán và thực chất phát triển sức bán của doanh nghiệp.
Sức bán là chỉ tiêu tổng hợp của tác động các phơng tiện công nghệ, tổ
chức và nhân sự của công ty để tạo lập mức hiệu năng đầu ra của nó.
Có nhiều quan điểm khác nhau về chỉ tiêu biểu hiện mức hiệu năng trên 2
mức độ xem xét quy mô thực tế hay công suất của nó. Tuy nhiên, có thể tập
trung trên 3 chỉ tiêu mức hiệu năng cơ bản: doanh số bán, tổng mức doanh thu
thực hiện và thị phần của công ty trong một thời gian xác định.
Doanh số bán của công ty là chỉ tiêu phổ biến nhất đợc sử dụng trong đo
lờng quy mô và có thể biểu hiện trên hai loại thứ nguyên (giá trị và hiện vật)
đặc biệt khi xác định quy mô thực tế của công ty và khi thiết kế đầu ra các
mạch kênh phân phối đối với từng loại và nhóm hàng của công ty. Ngoài ra,
doanh số còn là chỉ tiêu phản ánh nhiều nhất kết quả hiệu năng của các nhân tố
tổ chức, công nghệ và lao động của công ty, đồng thời là chỉ tiêu có tính so sánh
đợc. Tuy nhiên, thông số này lại chịu ảnh hởng lớn của mức giá giữa các loại
hàng cả về cơ cấu và chất lợng, cả về thủ pháp phân hóa giá, biến động giá
trong các thời gian khác nhau (nhất là khi đo bằng chỉ tiêu giá trị). Ngợc lại, các
chỉ tiêu hiện vật rất cụ thể và phản ánh rõ hơn độ lớn nhng lại không có tính so
sánh đợc cao.
Để khắc phục hạn chế và bổ sung toàn diện, cần thiết sử dụng thêm các
chỉ tiêu mức doanh thu trớc thuế và thị phần. Mặc dù việc tính toán có tính phức
tạp hơn so với chỉ tiêu trên nhng nó phản ánh rõ nét hơn, tổng hợp hơn mức hiệu
năng và độ lớn của doanh nghiệp và tơng quan giữa doanh nghiệp với đối thủ
10
Nguyễn Thị Mai Hoa Lớp K34-C4
bán hàng này có thể đợc dùng nh lực lợng chính yếu của công ty hoặc là lực l-
ợng hỗ trợ cho lực lợng bán hàng hoạt động bên ngoài công ty. Lực lợng bán
hàng tại chỗ hay bên trong này không phải là một hiện tợng mới xuất hiện.
Trớc đây, lực lợng bán hàng này tồn tại với trách nhiệm và hoạt động chủ
yếu mang tính xúc tiến cho hoạt động bán hàng hay theo sau hoạt động bán
hàng,nh theo dõi những đơn đặt hàng, kiểm soát dự trữ, tồn kho, giới thiệu sản
phẩm thay thế. Hiện nay, trách nhiệm của khối lực lợng bán hàng bên trong này
đã đợc mở rộng hơn và ngày càng nhiều công ty phụ thuộc rất nhiều vào những
chuyên gia tiếp thị qua điện thoại của hộ.
2.1.2. Lực l ợng bán hàng hoạt động bên ngoài công ty (văn phòng).
Lực lợng bán hàng bên ngoài công ty thông thờng đợc trải ra theo vùng
địa lý. Để lực lợng bán hàng bên ngoài công ty hoạt động đợc hiệu quả, điều
kiện cần có là trong vùng lãnh thổ ấy cần có 1 lợng khách hàng đủ lớn. Ngời đại
diện bán hàng sẽ có trách nhiệm bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ thông qua
giao dịch trực tiếp với khách hàng, thông thờng tại địa bàn kinh doanh của
khách hàng. Ngoại trừ hoạt động bán lẻ, đa số lực lợng bán hàng hoạt động ở
bên ngoài. Lực lợng bán hàngbên ngoài đợc sử dụng rất rộng rãi trong những
công ty nhỏ và lớn, từ những công ty sản xuất hàng tiêu dùng và hàng công
nghiệp, công ty dịch vụ đến công ty bán buôn. Lực lợng bán hàng hoạt động
bên ngoài hàng ngày trình bày sản phẩm của công ty cho khách hàng và khách
hàng tiềm năng. Với sự đào tạo và quản lý đúng đắn, công ty có thể tin tởng vào
số nhân viên bán hàng của họ về khả năng giới thiệu và bán sản phẩm đang tiêu
thụ hoặc sản phẩm mới theo đúng yêu cầu của công ty. Ngoài ra, vì là nhân viên
12
Nguyễn Thị Mai Hoa Lớp K34-C4
của công ty, họ có thể đợc hớng dẫn để thực hiện những nghiệp vụ không phải
là bán hàng, nh thu thập thông tin, cung ứng dịch vụ khách hàng, đào tạo nhân
viên bán hàng và giải quyết những vớng mắc của khách hàng. Lực lợng bán
hàng còn là khối óc về tri thức quản lý. Những đại diện bán hàng với những
thành tích xuất sắc có thể đợc bồi dỡng, phát triển thêm và thăng tiến lên những
lại chỉ tiêu thụ một số lợng ít ỏi sản phẩm của công ty đến nỗi công ty
không thể chịu nổi phí thuê một lực lợng bán hàng của họ.
Rất nhiều công ty cung cấp hàng hoá thật khó lòng chấp nhận đợc quan
điểm những đại lý là những tổ chức kinh doanh độc lập, có mục tiêu và chiến l-
ợc riêng của họ, mà không chịu sự điều khiển trực tiếp của công ty. Rất nhiều
công ty đòi hỏi đại lý phải luôn luôn một lòng (chỉ bán hàng cho họ) với họ,
nh số nhân viên bán hàng của họ, nhng họ không thể tìm đợc dạng đại lý này.
Đối với những đại lý có nhiều hãng cung cấp và với lòng trung thành đã bị chia
xẻ này, họ sẽ không và không thể tập trung quan tâm thoả mãn những yêu cầu
của một nhà cung cấp nào đó.
Ngoài ra những hoạt động không mang tính bán hàng sẽ ít đợc u tiên hơn,
do những hoạt động ấy không mang lại mức gia tăng doanh số và do đó không
gia tăng khoản hoa hồng đại lý của họ một cách trực tiếp nh hoạt động bán
hàng. Cuối cùng việc quản lý một mạng lới đại lý độc lập trên toàn quốc vừa
không rõ ràng vừa không phải là không đắt. Đại diện nhà sản xuất đợc sử dụng
nhiều nhất để tiêu thụ những sản phẩm công nghiệp. Một số doanh nghiệp sản
xuất hàng tiêu dùng thờng dùng đại lý để cung cấp đến những mạng lới bán lẻ,
hoặc nh ở một số công ty, ngoài lực lợng bán hàng của công ty, họ còn dùng
14
Nguyễn Thị Mai Hoa Lớp K34-C4
những môi giới làm đại lý cho họ để đa sản phẩm của họ đến những hệ thống
cửa hàng tạp phẩm ở những thị trờng trung tâm.
2.3. Lực lợng bán hàng hỗn hợp.
Công ty có thể sử dụng nhiều loại lực lợng bán hàng để chiếm lĩnh thị tr-
ờng. Công ty có thể sử dụng hỗn hợp lực lợng bán hàng của công ty và mạng lới
đại lý để xâm nhập nhiều loại thị trờng khác nhau. Nhiều công ty duy trì cùng
lúc những loại lực lợng bán hàng hoàn toàn khác nhau để bán những sản phẩm
tơng tự nhau. Số lợng và chủng loại của lực lợng bán hàng phụ thuộc vào đặc
tính của từng loại khách hàng và những mối quan hệ cần thiết mà công ty phải
duy trì. Sự đa dạng và sự phân phối những chủng loại lực lợng bán hàng sẽ do
Những chi phí liên quan nào trong từng cơ cấu tổ chức góp phần làm tăng doanh
thu hay thị phần không? Những chỉ tiêu về tài chính nh dòng lu chuyển tiền mặt
hiện nay và trong tơng lai gần nh thế nào?
- Tính khả thi: Khi nghiên cứu về yếu tố tính thích nghi này, công ty buộc
phía tính toán, thẩm tra những giới hạn so sánh để lựa chọn phơng án tổ chức
này hay phơng án khác. Đồng thời phải cân nhắc xem công ty có dễ dàng thay
đổi đợc cơ cấu tổ chức của mình hay không, nếu có sự thay đổi về điều kiện thị
trờng. Một số vấn đề đợc đặt ra là: nếu có sự suy sụp về thị trờng, giới hạn chịu
đựng của công ty đến đâu? Nếu công ty sử dụng những nhân viên bán hàng
mang tính chuyên biệt, liệu họ có thể đào tạo lại để kinh doanh ở thị trờng khác,
phục vụ những loại khách hàng khác hay bán những sản phẩm khác. Những chi
16
Nguyễn Thị Mai Hoa Lớp K34-C4
phí quản lý cố định nào liên quan đến lực lợng bán hàng làm công ty khó khăn
trong việc thay đổi phơng án tổ chức trong tơng lai?
Một công ty không thể cân nhắc từng yếu tố trên một cách độc lập đợc,
bởi những yếu tố ấy không độc lập với nhau. Sẽ không hiệu quả nếu công ty
dùng một lực lợng bán hàng trực tiếp chỉ phục vụ cho một số những khách hàng
lớn tầm cỡ quốc gia. Đây có thể là cách tổ chức giàu năng lực, do nó thoả mãn
một nhu cầu nào đó của khách hàng. Do đó nó nâng khả năng cạnh tranh của
công ty lên, và công ty cũng phải lựa chọn cơ cấu này.
Khi cân nhắc tính hiệu quả và sự cân bằng giữa các yếu tố này, điểm nổi
bật là khi công ty sử dụng một lực lợng bán hàng theo chuyên biệt ngành hàng
hoặc khách hàng. Những nghiên cứ cho thấy khi công ty sử dụng lực lợng bán
hàng mang tính chuyên biệt nh vậy, doanh số và lợi nhuận tăng lên rất rõ. Tuy
nhiên, công ty phải tổ chức nghiên cứu và phổ biến cho lực lợng bán hàng của
họ hiểu rất kĩ từng phân khúc nhỏ hẹp của thị trờng. Nếu kiến thức và kinh
nghiệm của họ không kịp thời chuyển hớng đợc theo thị trờng và khách hàng
mới, công ty sẽ gặp phải nhiều sự việc không lờng trớc đợc khi điều kiện thị tr-
ờng thay đổi mạnh mẽ.
phần quy mô lớn hơn trên cùng một thị trờng mục tiêu sẽ có quy mô thực tế lớn
hơn.
Để đo lờng công suất của doanh nghiệp thơng mại trên mực hiệu năng
ngời ta sử dụng chỉ tiêu số khách hàng tối đa phục vụ trên toàn tuyến nơi công
tác bán hàng của doanh nghiệp thơng mại bán lẻ (hoặc đơn đặt hàng tối đa đợc
sử lý và thực hiện bởi doanh nghiệp thơng mại bán buôn) trong một khoảng thời
gian xác định. Đây là một chỉ tiêu hiệu năng rất tổng hợp và thích hợp khi
18
Nguyễn Thị Mai Hoa Lớp K34-C4
hoạch định quy mô thiết kế không gian công nghệ của doanh nghiệp thơng mại
và một góc độ tiếp cận gần gũi với Marketing. Khi xem xét các doanh nghiệp
thơng mại nhất là các đơn vị nút mạng và thực hiện nhu cầu khách hàng (hệ
phục vụ đám đông) và công suất nút mạng là khả năng thông qua lợt khách
phục vụ trong một đơn vị thời gian, từ đó cho phép dự đoán theo mức bình quân
của mỗi khách hàng.
Quy cách các phơng tiện tổ chức - công nghệ: khác với doanh nghiệp sản
xuất, ở doanh nghiệp thơng mại nhân tố tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ với
nhân tố công nghệ và trong nhiều trờng hợp tạo lập hiệu năng rất lớn do vậy
không thể thuần tuý lấy chỉ tiêu kĩ thuật nh ở các doanh nghiệp sản xuất để đo l-
ờng đợc. Theo quan điểm kinh doanh hiện đại, về cấu trúc công nghệ toàn bộ
trong một không gian công nghệ xác định - nghĩa là một trật tự quy hoạch xác
định của các loại phơng tiện, sức lao động và nội dung quy trình lao động.
Trong các doanh nghiệp thơng mại, ngời ta phổ biến sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Nơi công tác bán hàng thơng mại bán lẻ theo phơng pháp truyền
thống. ở đây, nơi công tác đợc hiểu là một đơn vị không gian tác nghiệp tổ chức
và công nghệ, trên đó một hoặc một nhóm nhân viên sử dụng những phơng tiện
công nghệ xác định để thực hiện một phần xác định của quá trình công nghệ
(thờng là một nghiệp vụ xác định) trên những đối tợng lao động xác định (phạm
vi mặt hàng).
- Diện tích doanh nghiệp là một chỉ tiêu phản ánh quy mô của doanh
Công ty Lơng thực Phú Thọ là một doanh nghiệp nhà nớc trực thuộc
Tổng công ty lơng thực miền Bắc, trực thuộc Bộ Thơng mại, kinh doanh trên cả
ba linh vực: sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Công ty có hệ thống hoạch toán kinh
tế độc lập hoàn toàn tự chủ về mặt tài chính, có t cách pháp nhân, có tài khoản
tại ngân hàng Nhà nớc quy định.
Công ty Lơng thực Phú Thọ trớc thời kỳ đổi mới tiền thân là Sở lơng thực
Vĩnh Phú, là cơ quan Nhà nớc, nhiệm vụ đại diện cho Nhà nớc, huy động quản
lý, phân phối lơng thực tạo địa phơng theo mệnh lệnh, kế hoạch của Nhà nớc.
Sau thời kỳ đổi mới, Sở lơng thực đợc giải thể và các công ty lơng thực đ-
ợc thay thế vào đó, với chức năng nhiệm vụ mới phù hợp với sự phát triển của
xã hội.
Công ty Lơng thực Phú Thọ hoạt động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý
của Nhà nớc. Chức năng chủ yếu của Công ty là kinh doanh, dự trữ lu thông l-
ơng thực, góp phần bình ổn giá cả lơng thực trên địa bàn, kinh doanh, xay xát
và chế biến lơng thực thực phẩm, nông sản, thức ăn gia súc, vật t nông nghiệp,
tham gia cung ứng uỷ thác xuất khẩu lơng thực.
Năm 2001, Công ty có 168 cán bộ, nhân viên kinh doanh, hoạt động tại
văn phòng Công ty và 7 cửa hàng.
21
Nguyễn Thị Mai Hoa Lớp K34-C4
2. Chức năng nhiệm vụ và lĩnh vực kinh doanh chủ yếu.
Công ty hoạt động theo pháp luật của Nhà nớc Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam,luật doanh nghiệp và các điều lệ quy định của Bộ thơng mại.
2.1. Đặc điểm kinh doanh và chức năng của Công ty:
Thông qua hoạt động kinh doanh, liên doanh liên kết, hợp
tác đầu t, tổ chức mua, gia công sản xuất chế biến - xuất
nhập khẩu dịch vụ để tạo ra hàng hóa góp phần đáp ứng nhu
cầu trong nớc và xuất khẩu, tăng thu cho đất nớc.
Kinh doanh các mặt hàng lơng thực thực phẩm, nông sản,
phân bón...
theo kết quả lao động một cách công bằng hợp lý.
3. Cơ cấu nhân sự, lĩnh vực kinh doanh chủ yếu và cơ sở vật chất kỹ thuật
của Công ty Lơng thực Phú Thọ.
3.1. Hệ thống phòng ban chức năng của Công ty gồm:
1. Phòng Tổ chức - Lao động.
2. Phòng Tài chính - Kế toán.
3. Phòng Kinh doanh.
4. Phòng Hành chính.
Sơ đồ bộ máy quản lý kinh doanh của Công ty lơng thực Phú Thọ đợc
biểu diễn ở BH4.
23
Nguyễn Thị Mai Hoa Lớp K34-C4
3.2. Phân tích chức năng nhiệm vụ của mỗi phòng ban
*Phòng Tài chính Kế toán : với chức năng cơ bản là hạch toán, quản
lý vốn và tài sản nhà nớc giao, thực hiện đúng các chế độ thống kê theo quy
định hiện hành và có các nhiệm vụ cụ thể sau:
-Tiến hành nhận vốn tài sản của nhà nớc và giao vốn tài sản và các nguồn
lực khác cho đơn vị thành viên theo quy định hiện hành.
-Tổ chức công tác hạch toán kế toán tại văn phòng Công ty cũng nh chỉ
đạo kiểm tra công tác hạch toán của các đơn vị trực thuộc và toàn Công ty.
-Huy động vốn và các nguồn lực khác phục vụ công tác kinh doanh đầu t
phát triển sản xuất thực hiện các dự án của Công ty.
-Kiểm tra kiểm soát việc chấp hành các chế độ quản lý tài chính của các
đơn vị trực thuộc trong Công ty, kiểm tra các báo cáo ti\ài chính hàng năm của
các đơn vị trực thuộc.
-Lập báo cáo tài chính định kỳ, tổng hợp và công khai tình hình tài chính
hàng năm của toàn Công ty. Cung cấp số liệu, tài liệu liên quan đến tình hình
tài chính của công ty cho ban Giám đốc cũng nh các cơ quan quản lý chức năng
của Nhà nớc.
*Phòng Tổ chức lao động: gúp việc cho Giám đốc Công ty, xây dựng
căn cứ vào kế hoạch của Tổng công ty giao xây dựng phơng án sản xuất kinh
25