NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẤU TRÚC VÀ HIỆU QUẢ PHÁP
LUẬT CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
I./ KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.Khái niệm thuế giá trị gia tăng
Cùng với sự ra đời của nhà nước,sự xuất hiện của thuế như là một sự
đảm bảo cho hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước,bởi thuế là
một nguồn thu quan trọng nhất của nhà nước,là cơ sở để đảm bảo chi cho
ngân sách nhà nước.
Thuế được nghiên cứu dưới rất nhiều giác độ khác nhau.Ở giác độ KT –
TC,thuế thường được hiểu là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc của
các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp
luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.
Còn dưới giác độ pháp lý,thuế là nghĩa vụ pháp lý của các tổ chức và cá
nhân phải chuyển một phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình vào Ngân
sách nhà nước khi có đầy đủ các yếu tố cấu thành do luật thuế quy định.
Thực tiễn ở các nước cho thấy,việc có áp dụng thuế GTGT hay không là
tuỳ thuộc vào điều kiện riêng của từng nước.Đa số nước áp dụng thuế GTGT là
do hệ thống thuế cũ không còn phù hợp nữa.Một số nước có nền kinh tế phát
triển nhưng chưa áp dụng thuế GTGT như Mỹ,Úc.Các nước này chưa áp dụng
thuế GTGT lý do chính là họ đã có thuế doanh thu đánh vào khâu bán lẻ,là khâu
cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh,vì vậy không bị đánh trùng
thuế.Cách thu thuế này được thu theo từng bang đã có nề nếp và thói
quen,đang hoạt động tốt.Nếu ban hành thêm thuế GTGT áp dụng trên toàn liên
bang thì phải thay đổi lại hệ thống thuế của các bang,điều này sẽ rất phức tạp
cho nên họ chưa áp dụng.
Cũng theo kinh nghiệm của các nước áp dụng thuế GTGT thì thuế doanh
thu có nhược điểm cơ bản là thu thuế trùng lặp qua mỗi lần bán hàng;đối với
cùng một mặt hàng nếu tổ chức sản xuất kinh doanh khác nhau,thì số thuế
phải nộp khác nhau(do một cơ sở sản xuất thuế phải nộp một lần;do nhiều cơ
sở sản xuất thì qua mỗi cơ sở đều phải nộp làm số thuế nộp tăng)không phù
hợp với cơ chế thị trường,chưa khuyến khích đầy đủ cho sản xuất hàng xuất
khâu.Tuy nhiên tổng số thuế GTGT mà tổ chức hay cá nhân kinh doanh phải
nộp cho các công đoạn từ sản xuất đến chu kỳ lưu thông cuối cùng đúng bằng
số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
2.Bản chất
Về bản chất,thuế GTGT là một loại thuế gián thu,là loại thuế mà nhà
nước sử dụng nhằm động viên một bộ phận thu nhập của người tiêu dùng
hàng hoá,dịch vụ thông qua việc thu thuế đối với người sản xuất,kinh doanh
hàng hoá,dịch vụ.Tính gián thu của thuế GTGT thể hiện ở chỗ người nộp thuế
và người chịu thuế không đồng nhất.Người nộp thuế là tổ chức hay cá nhân
sản xuất,kinh doanh hàng hoá,dịch vụ thuộc diện đối tượng chịu thuế,còn
người chịu thuế chính là người tiêu dùng nên người nộp thuế chỉ là người nộp
thay cho người chịu thuế.
Khi nói thuế GTGT do người tiêu dùng chịu,có nghĩa là tiền thuế mà trên
danh nghĩa được trả bởi tổ chức hay cá nhân kinh doanh bán hàng hoá,cung
ứng dịch vụ sẽ được chuyển qua cho người tiêu dùng chịu dưới dạng cộng
thêm vào giá bán hàng hoá,dịch vụ đó.
Với bản chất thuế GTGT là thuế đánh vào tiêu dùng nên dễ điều chỉnh vì
người chịu thuế thường không cảm nhận được đầy đủ gánh nặng của thuế.
Hơn nữa,thuế GTGT còn góp phần khuyến khích đầu tư vốn,và kích thích
phát triển kinh tế.Bởi vì việc thu thuế của nhà nước không ảnh hưởng tới thu
nhập của nhà đầu tư.
3.Đặc điểm
Thứ nhất,đối với thuế doanh thu,Nhà nước đánh thuế đối với toàn bộ
doanh thu phát sinh của mỗi khâu sản xuất lưu thông.Do đó,nếu các sản phẩm
chịu thuế càng qua nhiều khâu thì số thuế Nhà nước thu cũng tăng thêm qua
các khâu.Còn đối với thuế GTGT,nhà nước chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm
của sản phẩm ở từng khâu sản xuất lưu thông,như vậy tổng số thuế GTGT mà
nhà nước thu được không tăng thêm qua các khâu sản xuất,lưu thông.
Thứ hai,thuế GTGT có tính trung lập,có nghĩa là về mặt lý thuyết thuế
GTGT không phải là một yếu tố trong chi phí của doanh nghiệp.Nó không làm
hơn so với số thu được của Nhà nước.
II./ MÔ HÌNH PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.Cấu trúc pháp luật thuế giá trị gia tăng
1.1.Phạm vi áp dụng thuế GTGT
Với bản chất là thuế gián thu,thuế GTGT không trực tiếp đánh vào thu
nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá
cả hàng hoá và dịch vụ,điều đó có nghĩa là ba khái niệm “đối tượng chịu thuế “,
“đối tượng nộp thuế” và “người chịu thuế” không đồng nhất với nhau.Do
vậy,việc phân biệt ba khái niệm trên là rất quan trọng về phương diện pháp lý.
Người chịu thuế GTGT là người tiêu dùng cuối cùng hàng hoá,dịch vụ
thuộc diện chịu thuế GTGT.Người tiêu dùng cuối cùng là người sử dụng hàng
hoá,dịch vụ không vì mục đích tạo ra hàng hoá,dịch vụ khác và làm cho hàng
hoá,dịch vụ đó thoát ra khỏi chu trình lưu thông.Vì vậy,người chịu thuế GTGT
không bị ràng buộc bởi những điều kiện pháp lý như người nộp thuế GTGT và
theo thông lệ người chịu thuế thường không được quy định trong luật
thuế,mặc dù họ là người đã phải chuyển một phần tài sản thuộc quyền sở hữu
của mình vào Ngân sách nhà nước khi thực hiện hành vi tiêu dùng hàng
hoá,dịch vụ chịu thuế GTGT.
Đối tượng nộp thuế GTGT là những cá nhân,tổ chức có hoạt động sản
xuất,kinh doanh hay nhập khẩu hàng hoá,kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng
chịu thuế.Như vậy,đối tượng nộp thuế bao trùm lên hầu hết mọi đối tượng sản
xuất kinh doanh và không chỉ bao gồm các cơ sở sản xuất kinh doanh trong
nước mà còn bao gồm cả các tổ chức,cá nhân nước ngoài có hoạt động sản
xuất,kinh doanh hay nhập khẩu hàng hoá thuộc diện chịu thuế tại nước đánh
thuế.
Tuy nhiên,ở nhiều nước,để đảm bảo hiệu quả công tác quản lý thu thuế
GTGT,đối với đại bộ phận các cá nhân,tổ chức sản xuất,kinh doanh ở quy mô
nhỏ không áp dụng thuế GTGT mà áp dụng chế độ thuế khoán.Diện miễn thuế
GTGT áp dụng cho những đối tượng kinh doanh nhỏ có doanh thu hàng năm
dưới mức quy định (ví dụ : 200.000 pê xô ở Philipines; 200.000 Sek ở Thuỵ
hướng dẫn dưới luật,trình độ hiểu biết của người nộp thuế,trình độ quản lý
của cơ quan thuế,chứng từ hoá đơn,ý thức chấp hành pháp luật…Hình thức áp
dụng thuế GTGT ở từng khâu kết quả bị hạn chế,còn hình thức áp dụng thí
điểm ở phạm vi hẹp,ở một số ngành là không đem lại kết quả.
Theo thông lệ chung của các nước áp dụng thuế giá trị gia tăng thì đối
tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá,dịch vụ tiêu dùng nội địa bao gồm
cả hàng hoá nhập khẩu.Về đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng ,các nước
có quy định khác nhau,thường là những hàng hoá,dịch vụ tiêu dùng phục vụ
thiết yếu cho con người và phục vụ cho lợi ích công cộng xã hội và an ninh quốc
phòng không nhằm mục đích kinh doanh vì lợi nhuận.Số lượng nhóm hàng
hoá,dịch vụ không chịu thuế tuỳ theo luật của từng nước quy định.Ví dụ : ở Đài
Loan quy định 30 nhóm hàng hoá,dịch vụ không chịu thuế;ở Inđônêxia quy
định có 15 nhóm hàng hoá,dịch vụ không chịu thuế;ở Hungari quy định có 5
nhóm hàng hoá dịch vụ không chịu thuế.
1.2.Căn cứ tính thuế GTGT
Về giá tính thuế GTGT có hai cách xác định như sau :
Cách thứ nhất,giá tính thuế là giá đã bao gồm thuế GTGT.Ví dụ như ở
Pháp, thuế GTGT được tính vào giá bán và là yếu tố cấu thành giá bán sản
phẩm hàng hoá.Có nghĩa là thuế được tính trên giá bán đã bao gồm thuế.
Cách thứ hai,giá tính thuế là giá chưa bao gồm thuế.Cách tính này áp
dụng ở hầu hết các nước.Cách tính này làm cho bên mua và bên bán thấy rõ
ràng hơn giá chưa có thuế và số thuế GTGT.
Trong trường giá thực và giá ghi trên hoá đơn,chứng từ có sự khác biệt
thì xét về phương diện pháp lý chừng nào chưa chứng minh được giá ghi trên
hoá đơn chứng từ là không phù hợp với giá thực thì vẫn phải dựa vào giá ghi
trên hoá đơn chứng từ để xác định phạm vi mức độ nghĩa vụ thuế GTGT.Còn
ngược lại, nếu chứng minh được thì phải dựa vào giá thực để xác định mức độ
nghĩa vụ thuế GTGT đồng thời chủ thể vi phạm phải gánh chịu trách nhiệm
pháp lý về hành vi gian lận của mình.
Thời điểm tính thuế thông thường được xác định khi một trong các
Kỳ),2%(Hàn Quốc) và thuế suất cao nhất là 50%(Senegal),45% (Trung
Quốc),38%(Ý) và 36%(Hy Lạp).Phần lớn các nước áp dụng cơ chế 3 thuế
suất,chỉ một số nước áp dụng cơ chế 5 thuế suất(Bỉ và Côlômbia),cơ chế 4 thuế
suất(Ý),cơ chế 2 thuế suất(Đức và Nhật).Với các nước áp dụng cơ chế nhiều
thuế suất,thì mức thuế suất tiêu chuẩn được áp dụng cho hầu hết các hàng
hoá,dịch vụ.Mức thuế suất thấp nhất được áp dụng cho các hàng hoá dịch vụ
thiết yếu,cần khuyến khích.Còn mức thuế suất cao nhất được áp dụng cho hàng
hoá,dịch vụ cần hạn chế.
Trong hai dạng cơ chế trên thì cơ chế một thuế suất được coi là cơ chế lý
tưởng,nhiều ưu điểm.Theo như ý kiến không chính thức của Phòng thương