Thực trạng chất lượng bảo lãnh Ngân hàng Công thương Ba Đình đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ - Pdf 74

Thực trạng chất lượng bảo lãnh Ngân hàng Công thương Ba
Đình đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
2.1 Khái quát vê ngân hàng Công thương Ba Đình
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Công thương là một trong bốn ngân hàng thương mại lớn nhất
Việt Nam. Ngày 26 tháng 03 năm 1988, Ngân hàng chuyên doanh Công thương
Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/NĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ
trưởng về tổ chức bộ máy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, và chính thức được
đổi tên thành “Ngân hàng Công thương Việt Nam” theo quyết định số 402/CT
của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 14 tháng 11 năm 1990.
Ngày 27 tháng 03 năm 1993, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký
Quyết định số 67/QĐ-NH5 về việc thành lập Ngân hàng Công thương Việt Nam
thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngày 21 tháng 09 năm 1996, được sự ủy
quyền của Thủ tướng Chính Phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký Quyết
định số 285/QĐ-NH5 về việc thành lập lại Ngân hàng Công thương Việt Nam
theo mô hình Tổng Công ty Nhà nước được quy định tại Quyết định số 90/QĐ-
TTg ngày 07 tháng 03 năm 1994 của Thủ tướng Chính Phủ.
Trải qua 20 năm xây dựng và phát triển đến nay, Ngân hàng Công thương
Việt Nam đã phát triển theo mô hình ngân hàng đa năng với mạng lưới hoạt
động được phân bố rộng khắp trên 56 tỉnh, thành phố trong cả nước, bao gồm
01 Hội sở chính; 03 Sở Giao dịch; 138 chi nhánh; 188 phòng giao dịch; 258
điểm giao dịch; 191 quỹ tiết kiệm; 742 máy rút tiền tự động (ATM); 02 Văn
phòng đại diện; và 03 Công ty con bao gồm Công ty cho thuê tài chính, Công ty
TNHH Chứng khoán (VietinbankSC) và Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài
sản; 03 đơn vị sự nghiệp bao gồm Trung tâm thẻ, Trung tâm Công nghệ thông
tin, Trường Đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực. Ngoài ra, Ngân hàng Công
thương còn góp vốn liên doanh vào Ngân hàng Indovina và Công ty Liên doanh
Bảo hiểm Châu Á Ngân hàng Công thương Việt Nam (IAI); góp vốn vào 07
công ty trong đó có Công ty cổ phần Chuyển mạch Tài chính quốc gia Việt
Nam, Công ty cổ phần Xi măng Hà Tiên, Công ty cổ phần cao su Phước Hòa,
Ngân hàng thương mại cổ phần Gia Định, Ngân hàng thương mại cổ phần Sài

sức bật mới, hoạt động kinh doanh theo mô hình một Ngân hàng thương mại đa
năng, có đầy đủ năng lực và uy tín để tham gia cạnh tranh một cách tích cực trên
thị trường. Nhanh chóng tiếp cận được thị trường và không ngừng đổi mới, hoàn
thiện mình để thích nghi với các môi trường kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị
trường.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng Công thương Ba Đình.
2.1.3 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng Công thương Ba Đình.
Trong 3 năm qua, tình hình kinh tế chính trị thế giới cũng như trong nước
có nhiều bất ổn, nhưng ngành ngân hàng của Việt nam nói chung và chi nhánh
Ngân hàng Công thương Ba Đình nói riêng vẫn tăng trưởng với tốc độ khá ổn
định.
Năm 2006, hoạt động của các Ngân hàng thương mại diễn ra sôi động,
nhiều Ngân hàng mới được thành lập. Các ngân hàng mở thêm nhiều chi nhánh
và điểm giao dịch, đồng thời nhiều Ngân hàng thương mại tăng vốn điều lệ. Đây
là thời kỳ thị trường chứng khoán diễn ra sôi động, giá cổ phiếu liên tục
tăng.Tuy nhiên trong năm 2006, lãi suất trên thị trường thế giới có nhiều biến
động, FED đã nhiều lần điều chỉnh tăng lãi suất (5,25%/năm) đã tác động trực
tiếp đến quan hệ tỷ giá và lãi suất của đồng Việt Nam, làm cho lãi suất huy động
vốn VNĐ luôn không ổn định, cạnh tranh giữa các Ngân hàng ngày càng trở
nên mạnh mẽ. Thêm vào đó là sự có mặt của các Ngân hàng thương mại nước
ngoài làm cho cuộc cạnh tranh này càng trở nên gay gắt hơn.
Năm 2007 tình hình hoàn toàn trái ngược với năm 2006, thị trường chứng
khoán bớt nóng, giá cổ phiếu sụt giảm. Đặc biệt, FED nhiều lần điều chỉnh giảm
lãi suất, do đó tỷ giá đồng USD giảm, các Ngân hàng hạn chế mua ngoại tệ vào.
Điều này ảnh hưởng lớn đến các Ngân hàng thương mại bởi vì nhiều khách
hàng truyền thống, khách hàng có uy tín, có kim ngạch xuất khẩu lớn thường
bán ngoại tệ, chiết khấu bộ chứng từ, thanh toán quốc tế, vay vốn, gửi tiền... tại
ngân hàng, nay không mua vào USD thì dễ bị khách hàng bỏ đi sang ngân hàng
khác.
Bước sang năm 2008 tình hình không khả quan hơn năm 2007 giá cổ

kinh tế suy giảm. Cuộc đua lãi xuất trong các Ngân hàng thương mại bắt đầu
bớt nóng do sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước.
• Cơ cấu vốn
Bảng 2.2 Cơ cấu vốn của chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình
Đơn vị : tỷ đồng
Chỉ tiêu Vốn huy động từ TCKT Vốn huy động từ dân cư
Năm Giá trị Tỷ trọng (%) Giá trị Tỷ trọng (%)
2006 1962 43,31 2388 56,69
2007 2817 54,79 2324 45,21
2008 2187 48,68 2305 51,32
Nguồn : Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của chi nhánh
Năm 2007 nguồn vốn được huy động từ các tổ chức kinh tế tăng mạnh
43,58% so với năm 2006. Nguồn tiền gửi từ các TCKT (Tổ chức kinh tế) là
những nguồn tiền lớn, do đó Chi nhánh đã rất quan tâm đến việc huy động được
nguồn tiền từ các TCKT này. Nguồn tiền gửi từ dân cư đang ngày càng giảm
dần nhưng giảm không đáng kể, Nguồn vốn huy động từ dân cư giảm là do
nhiều nguyên nhân, lạm phát tăng cao làm cho đồng tiền mất giá nên đối với các
nhà dầu tư gửi tiền tiết kiệm không còn là sự lựa chọn hấp dẫn.Trong khi đó Thị
trường bất động sản, thị trường Vàng lại đang khởi sắc, hấp dẫn các khách hàng
dân cư. Chính vì vậy nhiều khách hàng đầu tư nguồn vốn nhàn rỗi vào thị
trường bất động sản và thị trường vàng thay vì gửi vào Ngân hàng nên làm cho
nguồn huy động của dân cư giảm.
2.1.3.2 Hoạt động tín dụng
Bảng 2.3: Tình hình hoạt động tín dụng của chi nhánh Ngân hàng
Công thương Ba Đình
Đơn vị : Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Tổng dư nợ
tín dụng
Dư nợ VNĐ Dư nợ ngoại tệ

Nợ nhóm 1 Nợ nhóm 2 Nhóm Nợ xấu
Giá trị
Tỷ trọng
(%)
Giá trị
Tỷ trọng
(%)
Giá trị
Tỷ trọng
(%)
Năm 2006 2177 92,25 183 7,75 0,927 0,04
Năm 2007 2488 94,14 114,28 4,32 40,72 1,54
Năm 2008 3061,3 95,64 38,33 1,2 101,37 3,16
Nguồn : Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của chi nhánh.
Nhóm Nợ xấu tăng liên tục qua các năm điều này cho thấy công tác quản
lý Nợ của Ngân hàng còn chưa đạt hiệu quả. Song song với đó là tình hình suy
giảm kinh tế nhiều doanh nghiệp vay vốn làm ăn thua lỗ không có khả năng trả
nợ. Nợ nhóm 2 tiếp tục giảm trong khi dư nợ tín dụng tăng lên điều này chứng
tỏ 3 năm gần đây Chi nhánh đã lựa chọn khai thác những khách hàng có tình
hình tài chính lành mạnh và đồng thời chuyển dần nợ nhóm 2 sang nhóm nợ xấu
làm nhóm Nợ xấu tăng.
2.1.3.3 Hoạt động tài trợ thương mại
Hoạt động thanh toán quốc tế
Về hoạt động thanh toán quốc tế, khối lượng thanh toán quốc tế ngày
càng tăng cả về số món và giá trị thanh toán. Chi nhánh đã đảm bảo được quyền
lợi cho các bên mua bán trong thanh toán hàng nhập, hàng xuất và chuyển tiền.
Các giao dịch thanh toán được thực hiện kịp thời, chính xác, không để xảy ra sai
xót. Ngoài ra Ngân hàng còn tư vấn cho khách hàng lựa chọn các phương thức
thanh toán thích hợp, phối hợp với các phòng khách hàng để áp dụng các chính
sách phí dịch vụ và lãi suất phù hợp, thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ theo

So với hế hoạch và yêu cầu phát triển dịch vụ thẻ thanh toán thì số thẻ
phát hành và cơ sở chấp nhận đặt máy thanh toán còn thấp. Do vậy khối lượng
thanh toán qua thẻ và thu phí dịch vụ còn bi hạn chế.
Công tác quản lý kho quỹ
Năm 2006, khối lượng tiền mặt thu chi qua quỹ Ngân hàng trong năm đạt
14.610 tỷ VNĐ, tăng 32,2% so với năm trước; ngoại tệ 390 triệu USD tăng
17,2% . Trong năm, 2006 đã trả lại cho khách hàng nộp tiền thừa 398 món với
số tiền 559,45 triệu VNĐ, 12.200 USD và 3.000 EUR trong đó có món tiền thừa
cao nhất là 100 triệu VNĐ.
Năm 2007 và 2008 chi nhánh tiếp tục thực hiện tốt công tác quản lý kho
quỹ và được NHNN Hà Nội và Ngân hàng Công thương Việt Nam nhận xét
đánh giá là đơn vị chấp hành tốt các quy chế thu chi tiền mặt và bảo quản an
toàn kho quỹ.
Phát triển các điểm giao dịch
Thực hiện kế hoạch phát triển mạng lưới của Ngân hàng Công thương
Việt Nam chi nhánh đã cải tạo và nâng cấp địa điểm quỹ tiết kiệm 26-Quán
Thánh, Quỹ tiết kiệm 21-Thành Công thành 2 điểm giao dịch mẫu theo đúng
thiết kế của Ngân hàng Công thương Việt Nam, đồng thời khai trương thêm
phòng giao dịch Tây Hồ, Văn Cao và nhiều Quỹ tiết kiệm tạo cho Chi nhánh có
hệ thống giao dịch rộng lớn thuận tiện cho khách hàng.
Công tác kiểm tra kiểm soát
Trong 3 năm qua Chi nhánh luôn có kế hoạch kiểm tra hàng tháng, hàng
quý trên các mặt hoạt động nghiệp vụ, trong đó rất chú trọng việc triển khai các
biện pháp kiểm tra về bảo vệ kho quỹ, an ninh mạng. Riêng trong thanh toán
điện tử mã thẩm quyền của từng cán bộ theo phân cấp được yêu cầu bảo mật
nghiêm ngặt, do vậy các sai xót trong tác nghiệp đã được hạn chế, tài sản nhìn
chung được bảo đảm an toàn. Các kiến nghị của các đoàn kiểm tra thuộc về tín
dụng, tài trợ thương mại, kế toán tài chính…đều đã được chỉnh sửa và khắc
phục kịp thời.
Kết quả kinh doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status