TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ - Pdf 74

TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ
1.1.Tín dụng ngân hàng:
1.1.1. Khái niệm, đặc trưng:
* Khái niệm:
- “Tín dụng, theo tiếng LaTinh gọi là creditium, tiếng Anh là credit, có nghĩa
là tin tưởng và tín nhiệm. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là
sự vay mượn. Về mặt tài chính, tín dụng là quan hệ quyền sử dụng vốn từ người
sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định với một khoản
chi phí nhất định”.
- Tín dụng là một trong những quan hệ xã hội hình thành rất sớm với sự ra
đời và phát triển của sản xuất hàng hoá. Cơ sở hình thành và ra đời của tín dụng,
trước hết xuất phát từ nhu cầu bù đắp thiếu hụt tiền mặt trong sản xuất kinh
doanh hoặc trong cuộc sống, kế đến là có sự ra đời và phát triển của sản xuất
hàng hoá.
Trong sản xuất kinh doanh cũng như trong cuộc sống, đôi khi người ta gặp
phải sự cố là nguồn thu và chi không khớp nhau, chẳng hạn, có khi nhà sản xuất
kinh doanh bán hàng và thu được tiền nhưng chưa có nhu cầu chi tiêu. Khi ấy,
họ tạm thời thặng dư vốn và có nhu cầu cho vay số tiền thặng dư nhằm tối đa
hoá lợi nhuận. Ngược lại, đôi khi họ có nhu cầu chi tiêu nhưng chưa tiêu thụ
được hàng hoá. Khi ấy, họ có nhu cầu vay mượn để bù đắp thiếu hụt. Tuy nhiên,
trong nền kinh tế tự cung tự cấp hàng hoá hoặc trong nền kinh tế phi thị trường,
người ta sản xuất không nhằm mục đích trao đổi mua bán mà nhằm tiêu dùng cá
nhân và nhà sản xuất cũng chẳng có nhu cầu vay mượn. Lúc này sản xuất chỉ
đáp ứng vừa đủ nhu cầu cá nhân, không cần sản xuất dư thừa cho mục đích trao
đổi nên không đòi hỏi bù đắp vốn thiếu hụt.
- Tín dụng ra đời từ thời xa xưa chủ yếu dưới hình thức cho vay nặng lãi và phát
triển lâu dài cho đến ngày nay trải qua nhiều hình thái tín dụng khác nhau. Tín
dụng nặng lãi ra đời sớm nhất. Quan hệ tín dụng này chủ yếu diễn ra giữa bên
cho vay là thương gia, nhà kinh doanh tiền tệ với bên đi vay là người nông dân,
thợ thủ công nghèo khó. Nhu cầu tín dụng xuất phát từ những rủi ro bất khả

ngân hàng là người vay nợ, còn trên quan hệ giữa người vay vốn với ngân hàng
thì ngân hàng là chủ nợ”.
Quan hệ tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát triển cao của nền kinh
tế tiền tệ. Nó nảy sinh do yêu cầu khách quan của sự phát triển cao của sản xuất,
lưu thông hàng hoá, dịch vụ trong cơ chế thị trường. Nó ra đời nhằm giải quyết
quan hệ cung cầu, điều hoà quan hệ cung cầu trong nền kinh tế.
* Đặc trưng:
Tín dụng ngân hàng là một loại tín dụng. Do đó, nó vừa mang những đặc
trưng của tín dụng nói chung, lại vừa mang những đặc điểm riêng của mình.
- Đặc trưng chung:
+ Nhượng quyền sử dụng vốn, chứ không nhượng quyền sở hữu
+ Có thời hạn quy định
+ Phải trả lãi theo lãi suất trên số tiền vay và thời gian cho vay
- Đặc điểm riêng của tín dụng ngân hàng:
+ Đây là tín dụng bằng tiền
+ Ngân hàng, tổ chức tín dụng là trung gian tài chính
+ Ngân hàng vừa là người vay nợ, vừa là người chủ nợ
Tuy nhiên, ở đề tài này, tín dụng ngân hàng được xem xét trên giác độ:
Ngân hàng là người chủ nợ.
1.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng:
Ngân hàng thương mại (NHTM) là người trung gian chuyển vốn từ nơi
thừa sang nơi thiếu bằng nghiệp vụ tín dụng nhằm khắc phục tình trạng thừa
thiếu vốn, phát huy hiệu quả sử dụng vốn. Việc luân chuyển vốn xuất phát từ lợi
ích của cả hai bên.
* Những nguồn vốn nhàn rỗi được huy động từ các tổ chức kinh tế
( TCKT), cá nhân hình thành nguồn vốn lớn của các tổ chức tín dụng, rồi cung
ứng tín dụng đối với các đối tượng khách hàng có nhu cầu về vốn: Chính Phủ,
doanh nghiệp, cá nhân….
* Đáp ứng các nhu cầu vốn của các doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp luôn luôn cần bổ sung nguồn vốn để đầu tư đổi mới: đổi

1.1.3. Quy trình cấp tín dụng trong các ngân hàng thương mại:
1.1.3.1. Tiếp nhận hồ sơ tín dụng từ khách hàng:
Các TCKT, cá nhân muốn vay vốn tại các NHTM phải đáp ứng được các
yêu cầu đảm bảo an toàn tín dụng. TCKT, cá nhân phải xuất trình hồ sơ vay vốn
hợp lệ theo qui định của ngân hàng.
1.1.3.2. Phân tích tín dụng trước khi cấp tín dụng:
Đây là bước quan trọng, quyết định chất lượng của khoản tín dụng được
cấp. Nội dung chủ yếu là thu thập và xử lý các thông tin liên quan tới khách
hàng, bao gồm: Năng lực sử dụng vốn vay và uy tín, khả năng tạo ra lợi nhuận
và nguồn ngân quỹ, quyền sở hữu các tài sản và các điều kiện kinh tế khác có
liên quan tới người cay.
 Thu thập và xử lý các thông tin:
Để có được thông tin về khách hàng, cán bộ tín dụngcó thể phỏng vấn trực
tiếp, mua bán và tìm kiếm các thông tin thông qua các trung gian như: qua các
cơ quan quản lý, bạn hàng, chủ nợ của người vay, các trung tâm thông tin và tư
vấn…
Tìm hiểu về khách hàng trong một thời gian ngắn là không hề đơn giản.
Một trong các cách để có được thông tin về người vay là thông qua báo cáo tài
chính của họ. Các báo cáo này cho biết số liệu trong nhiều năm. Do đó, nó sẽ
giúp ngân hàng có những cơ sở dự đoán tình hình của khách hàng trong tương
lai gần.
 Nội dung phân tích:
- Đánh giá tài sản của khách hàng: Đây được coi là các tài sản đảm bảo cho
các khoản vay khi khách hàng mất khả năng sinh lời.
- Ngân quỹ, chứng từ có giá, hàng tồn kho: Ngân hàng có thể dựa vào các
tài sản này để đánh giá tính thanh khoản của chúng, và cũng là một trong các
yếu tố ảnh hưởng tới quyết định cho vay đối với khách hàng.
- Tài sản cố định: gồm: nhà cửa, trang thiết bị… là đối tượng tài trợ trung và
dài hạn.
- Đánh giá các khoản nợ: Ngân hàng xem xét các khoản nợ đến hạn trong

Nếu cho vay trong thời gian ngắn 2 – 3 tháng thì ngân hàng quan tâm nhiều
tới khả năng thanh toán nhanh, còn vay từ 9-12 tháng, ngân hàng lại chú ý tới
khả năng thanh toán hiện hành.
- Nhóm tỷ lệ sinh lời: Đo khả năng tạo lợi nhuận của người vay.
Tỷ lệ thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu:
ROE
=
Thu nhập sau thuế
Vốn chủ sở hữu
Doanh lợi tài sản:
ROA
=
Thu nhập sau thuế
Tài sản
- Nhóm tỷ lệ rủi ro: Rủi ro rất đa dạng, có thể tiếp cận rủi ro của người vay
như sau:
+ Sản xuất: Doanh nghiệp có bao nhiêu nguồn cung cấp nguyên vật liệu?
Chi phí? Lao động? Vốn? Tính phụ thuộc vào các doanh nghiệp khác như thế
nào? Rủi ro trong việc sử dụng trang thiết bị là gì?..
+ Nhân sự: yếu tố làm tăng năng suất lao động? Khuyến khích người lao
động? Rủi ro của đình công?...
+ Tài chính: Sự chịu đựng của doanh nghiệp đối với lãi suất? Có bao nhiêu
cách huy động tiền ? Việc đa dạng các nguồn thu?
+ Tiếp thị: Các nhân tố tác động tới bán hàng? Cầu co dãn đối với giá? Thu
nhập co dãn? Bao nhiêu sản phẩm thay thế? Nhập khẩu? Chiến lược cạnh tranh?
+ Chính sách của Chính phủ: Bảo vệ nhập khẩu? Trợ cấp xuất khẩu? Hợp
đồng với Nhà nước? Giấy phép đối với sản phẩm mới?...
- Nhóm tỷ lệ đo khả năng tài trợ bằng vốn chủ sở hữu: Cho thấy sức mạnh
tài chính của người vay. Vì thông thường, Doanh nghiệp dùng vốn chủ sở hữu
để tài trợ một phần cho tài sản lưu động và tài sản cố định.

1.1.4.1. Phân loại theo thời gian:
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì: Thời gian
liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng
hoàn trả của khách hàng:
Bao gồm: Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống
Tín dụng trung hạn: Trên 1 năm đến 5 năm
Tín dụng dài hạn : Trên 5 năm
Tài sản lưu động thường có vòng quay trên một vòng trong một năm. Do
đó, ngân hàng sẽ cấp tín dụng ngắn hạn.
Tài sản cố định : phương tiện vận tải, nhà xưởng, công trình xây dựng… có
giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu nên được tài trợ bằng tín dụng trung và dài
hạn.
1.1.4.2. Phân theo hình thức: Gồm: Chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê.
- Chiết khấu thương phiếu: là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi thu nhập của ngân hàng để sở hữu
một thương phiếu chưa đến hạn.( hay một giấy nợ)
Đây là hình thức trao đổi trái quyền. Tuy nhiên, đối với ngân hàng, việc bỏ
ra một khoản tiền hiện tại để thu về một khoản lớn hơn trong tương lai với lãi
suất xác định trước được coi như hoạt động tín dụng.
- Cho vay : là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách
hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian xác định.
- Bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ
khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra, song ngân hàng đã cho
khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.
- Cho thuê: là việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản để cho khách hàng thuê
theo những thoả thuận nhất định. Sau một thời gian, khách hàng hoàn trả gốc và
lãi cho ngân hàng.
1.1.4.3. Phân loại theo tài sản đảm bảo:
Tài sản đảm bảo (TSĐB) các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có được
nguồn thu nợ thứ hai bằng cách bán tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất từ quá

xuất , những doanh nghiệp có số vốn dưới 1 tỷ đồng và số lao động dưới 100
người là các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp có vốn từ 1 đến 10 tỷ đồng và số
lao động từ 100 đến 500 người là doanh nghiệp vừa. Trong thương mại và dịch
vụ, doanh nghiệp có số vốn dưới 500 triệu đồng và dưới 50 lao động là những
doanh nghiệp nhỏ và những doanh nghiệp có từ 500 triệu đến 5 tỷ đồng và từ 50
tới 250 lao động là các doanh nghiệp vừa.
Hiện tại, khái niệm DNVVN được xác định dưa trên 2 tiêu chí:
- Tổng vốn đầu tư:
- Số lao động sử dụng: Đây là tiêu chí không dễ dàng chịu ảnh hưởng của
những khác biệt giữa các quốc gia về mức thu nhập cũng như những thay đổi
trong giá trị đồng tiền nội địa hiện hành qua các thời kì khác nhau.
Theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNVVN,
“DNVVN là doanh nghiệp có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng và lao động
dưới 300 người”.
Nghị định trên áp dụng đối với các DNVVN bao gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà
nước
- Hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status