TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1. Tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của tín dụng ngân hàng đối với
các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.1.1.Khái niệm.
Tín dụng là một phạm trù của nền kinh tế hàng hoá. Quan hệ tín dụng
phát sinh từ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất của các chủ thể trong nền kinh tế.
Tín dụng trước hết được hiểu là quan hệ vay mượn, sử dụng vốn của nhau
dưới hình thức tiền tệ hay hàng hóa dựa trên nguyên tắc có hoàn trả và tin tưởng
nhau. Theo định nghĩa của Luật các tổ chức tín dụng (2003) thì: “Tín dụng là
một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hay
tài sản cho bên kia sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, đồng thời bên
nhận tiền hay tài sản cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thỏa thuận” .
Căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ tín dụng, các hình thái tín dụng bao
gồm: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng Nhà nước và tín dụng
doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại,tín dụng Ngân hàng ngày
càng phát triển mạnh mẽ và đóng góp vai trò ngày càng quan trọng vào sự phát
triển của nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản(tiền hoặc hàng hoá) giữa
bên cho vay (Ngân hàng) và bên đi vay(cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể
khác), trong đó Ngân hàng chuyển quyền sử dụng cho bên đi vay trong một
khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả
vốn gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà ngân hàng đóng vai trò trung
gianhuy động vốn từ các chủ thể có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để cho vay đối
với các chủ thể có nhu cầu về vốn. Vì thế, tín dụng ngân hàng là hình thức tín
dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó luôn đáp ứng nhu cầu về vốn cho
nền kinh tế một cách linh hoạt đầy đủ và kịp thời.
1.1.1.2. Đặc điểm của tín dụng Ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa
và nhỏ.
cấu vốn tối ưu với số lượng nợ vay hợp lý. Điều này không những làm giảm bớt
rủi ro mất vốn cho doanh nghiệp mà còn giúp doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận
tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất.
b. Tín dụng ngân hàng thực hiện quá trình huy động các nguồn vốn
nhàn rỗi đưa vào đầu tư,đáp ứng nhu cầu vốn để dảm bảo cho hoạt động của
doanh nghiệp được liên tục, thuận lợi và góp phần tái sản xuất mở rộng nền
kinh tế.
Thông qua quá trình tập trung và phân phối vốn, NHTM với tư cách là
trung gian tài chính, tiến hành huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của tất
cả các thành phần kinh tế và trong dân cư để cho vay đối với nền kinh tế. Nhờ
nguồn vốn mà ngân hàng cho vay, doanh nghiệp không những đảm bảo cho
hoạt động sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn mà còn mở rộng sản xuất, cải
tiến kĩ thuật, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Từ đó các doanh
nghiệp sẽ thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh quá trình tái sản
xuất mở rộng. Như vậy tín dụng ngân hàng không chỉ còn là nguồn vốn bổ sung
để bù đắp nhu cầu vốn tạm thời mà đã dần trở thành nguồn vốn chủ yếu, quan
trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNV&N hiện nay.
c. Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tạo áp
lực buộc các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
Bản chất của tín dụng ngân hàng không phải là hình thức cấp phát vốn mà
phải hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn đã thoả thuận. Do vậy có thể trả hạn
cho ngân hàng và toạ lập được uy tín trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng,
doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả. Như vậy, tín dụng ngân hàng cũng là
một yếu tố kích thích doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả, tiết kiệm, đảm bảo
tạo ra tỷ suất lợi nhuận lớn hơn lãi suất ngân hàng để có thể trả được nợ vay. Về
phía ngân hàng, để đảm bảo an toàn tránh rủi ro không thu hồi được vốn, ngân
hàng chỉ cho vay đối với doanh nghiệp có uy tín, có phương án sản xuất kinh
doanh khả thi hiệu quả. Muốn vậy doanh nghiệp phải tìm hiểu kỹ thị trường,
định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đồng thời thúc đẩy đổi
mới công nghệ, cải tiến sản phẩm để rút ngắn chu kỳ sản xuất, tăng nhanh vòng
cơ cấu kinh tế hợp lý. Đối với những ngành kinh tế mũi nhọn hoặc những ngành
kinh tế kém phát triển, Ngân hàng sẽ thực hiện những chính sách ưu đãi về lãi
suất, giúp các ngành nghề hay khu vực đó dễ dàng tiếp cận được vốn vay Ngân
hàng, thông qua đó làm đòn bẩy để các ngành đó phát triển.
f. Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình
mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế.
Trong xu thế hội nhập quốc tế, mối quan hệ giữa các nước trong khu vực
và trên thế giới mở rộng, phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Đầu tư vốn ra
nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá đã và đang là hai lĩnh vực
hợp tác kinh tế phổ biến nhất giữa các nước. Ngân hàng với tư cách là tổ chức
kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt động cho vay, bảo lãnh trở thành người cung
cấp vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá. Đồng thời nguồn tín dụng
bên ngoài cũng góp phần phát triển nền kinh tế đất nước. Từ đó Ngân hàng sẽ
trở thành đòn bẩy thúc đẩy quá trình mở rộng và giao lưu kinh tế quốc tế, là
phương tiện nối liền nền kinh tế các nước.
1.1.2. Các hình thức tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Để đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn vay đa dạng, phong phú và khả
năng kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay của doanh nghiệp đòi hỏi tín dụng
ngân hàng phải có nhiều phương thức cho vay phù hợp. Có thể xem xét một số
hình thức tín dụng chủ yếu sau:
a. Cho vay từng lần:
Hình thức tín dụng này được thực hiện cho vay những khách hàng không
có nhu cầu vay vốn bổ sung thường xuyên hoặc khách hàng có quan hệ lần đầu
và có giá trị khoản vay nhỏ .Mỗi lần vay khách hàng và ngân hàng thực hiện các
thủ tục vay vốn, ký kết, giải ngân, thu nợ theo từng HĐTD. Việc rút vốn vay có
thể được thực hiện một lần hay nhiều lần phù hợp với tiến độ sử dụng vốn vay
thực tế của khách hàng nhưng tổng số tiền của các lần rút vốn không được vượt
quá số tiền trong HĐTD. Thời hạn cho vay của phương thức này được xác định
phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng. Với
hình thức này, ngân hàng có thể kiểm soát, quản lý việc sử dụng vốn vay của
sử dụng khi ngân hàng muốn phân tán rủi ro khi cho vay một dự án lớn. Khi đó
các ngân hàng tham gia cho vay hợp vốn sẽ cùng kí vào hợp đồng đồng tài trợ
để xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi ngân hàng trong toàn bộ quá trình cho
vay. Trong phương thức này, sẽ có một ngân hàng đầu mối đứng ra ký khế ước
cho vay mỗi lần giải ngân và thu nợ khách hàng.
e. Cho vay trả góp.
Là hình thức cho vay trong đó người đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và
lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho
vay, mỗi kỳ trả một phần gốc và lãi vay. Phương thức này thường được áp dụng
đối với những khoản vay có giá trị lớn, người đi vay có nguồn thu nhập định kỳ,
nhưng không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay. Khách hàng thường
có nhu cầu vay vốn để mua sắm tài sản tiêu dùng sinh hoạt, chi trả chi phí du
lịch… hoặc phục vụ cho nhu cầu sản xuất. Đối với phương thức này, lãi suất
cho vay có thể tính theo lãi suất trả góp hoặc tính theo dư nợ vốn gốc thực tế.
f. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng.
Phương thức này áp dụng đối với khách hàng cần dự phòng nguồn vốn
tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đảm bảo khả năng chủ
động về tài chính khi thực hiện dự án đầu tư. Sau khi hoàn tất các thủ tục cần
thiết, khách hàng và ngân hàng ký HĐTD hạn mức dự phòng, trong đó ngân
hàng cam kết sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng
dự phòng trong một khoảng thời gian nhất định và khách hàng phải trả phí cho
hạn mức tín dụng dự phòng. Trong thời hạn rút vốn, nếu khách hàng có nhu cầu
rút vốn thì phải ký khế ước nhận nợ và gửi kèm bản sao các tài liệu chứng minh
mục đích sử dụng vốn vay phù hợp với HĐTD hạn mức đã ký. Tổng số lần rút
vốn không được vượt quá hạn mức tín dụng dự phòng và thời hạn cho vay trong
từng khế ước nhận nợ không được vượt quá thời hạn cho vay quy định trong
HĐTD hạn mức dự phòng.
g. Cho vay theo hạn mức thấu chi.
Trong hình thức cho vay thấu chi, theo đó ngân hàng cho phép khách hàng
chi vượt số tiền hiện có trên tài khoản thanh toán của mình đến một giới hạn
* Hồ sơ tài sản đảm bảo khoản cho vay.
* Các tài liệu khác nếu có.
Bước 2: Ngân hàng tiến hành thẩm định khoản vay.
Dựa trên cơ sở hồ sơ vay vốn của khách hàng và các nguồn thông tin thu
thập được, cán bộ tín dụng tiến hành thẩm định để ra quyết định cho vay. Nội
dung phân tích tín dụng bao gồm:
* Năng lực pháp lý của doanh nghiệp: giấy phép thành lập đăng ký kinh
doanh, cơ cấu tổ chức…
* Uy tín của doanh nghiệp: ngành nghề kinh doanh, phẩm chất đạo đức,
năng lực của người lãnh đạo, văn hoá doanh nghiệp…
* Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện qua việc phân tích báo
cáo tài chính, các hệ số tài chính cơ bản…
* Đánh giá năng lực kinh doanh về thị trường, sản phẩm, các nguồn lực
của doanh nghiệp, năng lực quản lý…
* Phân tích môi trường kinh doanh.
* Thẩm định phương án sản xuất kinh doanh về mục tiêu của dự án đầu
tư, thị trường tiêu thụ, hiệu quả kinh tế, tính khả thi…
* Phân tích bảo đảm tiền vay của khách hàng.
Bước 3: Quyết định cho vay.
Từ việc phân tích, thẩm định khách hàng vay vốn, cán bộ tín dụng đưa ra
quyết định và thông báo chấp nhận hay từ chối cho vay đối với khách hàng. Nếu
quyết định cho vay, ngân hàng và khách hàng ký kết HĐTD. Trong HĐTD bao
gồm các nội dung chủ yếu sau:
• Điều kiện vay vốn.
• Mục đích sử dụng tiền vay.
• Số tiền vay, lãi suất, thời hạn cho vay.
• Phương thức giải ngân.
• Phương thức, kỳ hạn trả nợ.
• Hình thức đảm bảo tiền vay, giá trị tài sản đảm bảo.
• Quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
thích nghi của ngân hàng đối với sự phát triển của môi trường bên ngoài, thể
hiện sức mạnh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh và phát triển. Hay nói
các khác, nó là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của khách hàng có lựa chọn, đảm bảo
sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng
xã hội.
Như vậy, chất lượng tín dụng được nhìn nhận dưới các góc độ kinh tế
khác nhau: từ phía khách hàng, từ phía ngân hàng và từ phía nền kinh tế.
- Đối với Ngân hàng:
Chất lượng tín dụng thể hiện ở pham vi,mức độ giới hạn tín dụng phải
phù hợp với thực lực theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng và phải đảm
bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, tuân thủ nguyên tắc hoàn trả đúng hạn
và có lãi, hạn chế thấp nhất khả năng rủi ro có thể xảy ra.
Chất lượng tín dụng thể hiện ở các chỉ tiêu về lợi nhuận cao, dư nợ ngày
càng tăng trưởng nhưng vẫn đảm bảo an toàn, tỉ lệ nợ quá hạn thấp, đảm bảo cơ
cấu nguồn vốn tín dụng hợp lý. Để đạt được chất lượng tín dụng tốt, cần có sự
tổ chức và quản lý đồng bộ trong mỗi ngân hàng. Xác định đúng đối tượng cho
vay phù hợp với khả năng, quy mô ngân hàng, thực hiện tốt quy trình cho vay từ
khâu thẩm định các điều kiện vay vốn, kiểm tra giám sát tình hình tài chính,
mục đích sử dụng vốn vay… Để đảm bảo món vay được hoàn trả đầy đủ và
đúng hạn, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất.
- Đối với khách hàng:
Nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp là để tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh, đầu tư, mua sắm thiết bị công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng
sản phẩm… Từ đó tạo ra lợi nhuận, trả nợ ngân hàng, tăng tích luỹ cho doanh
nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Như vậy, chất lượng tín dụng chính là sự dáp ứng kịp thời các nhu cầu
hợp lý của doanh nghiệp với lãi suất và kì hạn hợp lý, thủ tục đơn giản, thuận
lợi, thu hút được khách hàng nhưng vẫn phải đảm bảo đúng nguyên tắc tín
dụng. Việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp sẽ làm lành
mạnh tài chính doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong