PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN - Pdf 74

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HUYỆN LẤP VÒ
4.1 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN TỪ 2005 ĐẾN 2007
4.1.1 Quy mô huy động vốn
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì nguồn vốn đóng vai trò
hết sức quan trọng, nó quyết định đến khả năng hoạt động cũng như hiệu quả hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu từ hai nguồn:
vốn huy động, vốn điều chuyển từ ngân hàng cấp trên.
- Đối với nguồn vốn huy động: ngân hàng được toàn quyền sử dụng sau khi đã
trích lại một phần theo tỷ lệ đảm bảo do Ngân hàng Nhà nước quy định, đồng thời có
trách nhiệm trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho khách hàng.
- Đối với nguồn vốn điều chuyển từ ngân hàng cấp trên: ngân hàng chỉ sử dụng
nguồn vốn này khi nguồn vốn huy động - phần vốn được phép sử dụng - không đủ đáp
ứng nhu cầu cho vay tại chi nhánh, khi đó chi nhánh sẽ yêu cầu được điều chuyển vốn
đến và phải chịu lãi suất bằng với lãi suất huy động bình quân tại thời điểm nhận lệnh
điều chuyển.
Ta có thể xem xét nguồn vốn của ngân hàng dựa vào số liệu qua 3 năm 2005,
2006 và 2007 trong bảng sau
Bảng 2: CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG QUA 3 NĂM

ĐVT: triệu đồng
(Nguồn Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm từ 2005 đến 2007)
Chỉ tiêu
Năm So sánh chênh lệch
2005 2006 2007 2006/2005 2007/2006
Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền %
Vốn HĐ 120.312 47,75 122.089 45,16 150.628 47,06 1.777 1,48 28.539 23,38
Vốn ĐC 131.636 52,25 148.268 54,84 169.420 52,94 16.632 12,63 21.152 14,27
Tổng
NV 251.948 100 270.357 100 320.048 100 18.409 7,31 49.691 18,38

nhất định để hạn chế những rủi ro có thể gặp phải và tối thiểu hóa chi phí đầu vào cho
ngân hàng.
Tình hình nguồn vốn huy động của ngân hàng qua các năm nhìn chung đều tăng.
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng có tiến triển tốt, công tác huy động đạt hiệu
quả năm sau cao hơn năm trước. Huy động vốn là khâu quan trọng tạo nên vị thế vững
chắc trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Có được kết quả trên là do chi nhánh
luôn có chính sách thu hút vốn đúng đắn, kịp thời để duy trì khách hàng truyền thống,
tìm kiếm khách hàng mới, công tác huy động vốn ngày càng đạt hiệu quả nên nguồn
vốn hàng năm tăng lên liên tục. Nguồn vốn này bao gồm tiền gởi tiết kiệm của dân cư,
tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi của kho bạc và phát hành giấy tờ có giá. Trong
đó huy động từ tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng cao nhất qua các năm.
Cơ cấu vốn huy động của ngân hàng được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 3: TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN QUA 3 NĂM TẠI NGÂN HÀNG
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm So sánh chênh lệch
2005 2006 2007 2006/2005 2007/2006
Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số
tiền
% Số
tiền
%
1. Tiền gửi tiết
kiệm
55.007 45,72 52.175 41,22 64.268 42,67 -2.832 -5,15 12.093 23,18
- Không kỳ hạn 8.407 6,99 6.594 5,40 4.190 2,78 -1.813 -21,57 -2.404 -36,46
- Có kỳ hạn 46.600 38,73 45.581 37,33 60.078 39,89 -1.019 -2,19 14.497 31,80
Dưới 12 tháng 11.650 9,68 10.028 8,21 18.023 11,97 -1.622 -13,92 7.996 79,73
Từ 12 đến 24
tháng

đây vẫn là khoản mục chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn huy động.
Năm 2007 là 64.268 triệu đồng, tăng 12.093 triệu đồng so với năm 2006, tương
ứng tăng 23,18%, chiếm 42,67% nguồn vốn huy động. Nguyên nhân làm cho tiền gửi
tiết kiệm tăng do tình hình kinh tế đã tương đối ổn định, cùng với sự phát triển của khoa
học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin các hình thức thanh toán không dùng
tiền mặt ngày càng được mở rộng và đa dạng đã làm cho loại tiền gửi này tăng. Đây
cũng là đối tượng huy động chủ yếu nên ngân hàng luôn có chính sách duy trì phương
pháp huy động truyền thống như tăng lãi suất tiền gửi để giữ chân khách hàng cũ và thu
hút khách hàng tiềm năng đến gửi tiền.
Có 2 loại tiền gửi: không kỳ hạn và có kỳ hạn:
+ Đối với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: khi khách hàng tạm thời có một số
tiền nhàn rỗi trong một thời gian họ gửi vào ngân hàng để hưởng lãi. Cụ thể, năm 2005
là 8.407 triệu đồng, năm 2006 là 6.594 triệu đồng giảm 1.813 triệu đồng, tương ứng
giảm 21,57% so với năm 2005. Năm 2007 là 4.190 triệu đồng giảm 2.404 triệu đồng so
với năm 2005 tương ứng giảm 36,46%. Khách hàng chủ yếu là người dân trên địa bàn,
khi họ có khoản tiền dôi ra sẽ gửi vào ngân hàng để sinh lợi. Nguyên nhân tiền gửi
giảm liên tục là do lãi suất của loại tiền gửi này thấp hơn so với tiền gửi tiết kiệm có kỳ
hạn nên thu hút được khách hàng, mặt khác là do giá vàng trên thị trường tăng khách
hàng chuyển sang đầu tư vàng thay vì gửi tiền vào ngân. Mặt khác, đây là khoản mục
huy động có thể gặp rủi ro khi khách hàng rút tiền trước kỳ hạn nên ngân hàng thường
chú ý gia tăng tỷ trọng các khoản huy động khác nhiều hơn.
+ Đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là khoản tiền gửi đã được xác định thời
gian trả lãi cho khách hàng vì vậy nó có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng, tạo
nguồn vốn ổn định giúp ngân hàng có thể chủ động trong đầu tư. Vì vậy, tiền gởi tiết
kiệm có kỳ hạn chiếm tỷ trọng cao hơn tiền gởi tiết kiệm không kỳ hạn, nhưng nguồn
huy động này biến đổi không đều qua các năm.
Cụ thể, năm 2005 là 46.600 triệu đồng, năm 2006 là 45.581 triệu đồng giảm 1.109
triệu đồng tương ứng giảm 2,19 % so với năm 2005. Đến năm 2007 là 60.078 triệu
đồng tăng 14.497 triệu đồng, tương ứng tăng 31,80% so với năm 2006.
Trong đó:

tăng 4.500 triệu đồng, tương ứng tăng 11,44%. Năm 2007 đạt 60.500 triệu đồng chiếm
40,17%, so với năm 2006 tăng 16.675 triệu đồng, tức tăng 38,05%.
Nguyên nhân của sự tăng lên là do các doanh nghiệp trên địa bàn Huyện làm ăn
ngày càng hiệu quả, cần mở tài khoản để thanh toán trong quá trình kinh doanh. Ngân
hàng có mối quan hệ tốt với các công ty, doanh nghiệp, tạo được uy tín và cung cấp các
dịch vụ tiện ích nên thu hút được lượng tiền khá lớn từ các đơn vị này.
4.1.2.3 Tiền gửi của kho bạc:
Qua quá trình hình thành và phát triển của mình, kho bạc là khách hàng lâu năm
và quen thuộc của ngân hàng. Lượng tiền kho bạc gửi vào là để chi trả lương cho các
đơn vị hành chính sự nghiệp trên địa bàn.
Cụ thể, năm 2005 đạt 18.580 triệu đồng, chiếm 15,44% nguồn vốn huy động.
Năm 2006 đạt 19.313 triệu đồng, chiếm 15,82% nguồn vốn huy động, so với năm 2005
tăng 733 triệu đồng, tương đương tăng 3,95%. Năm 2007 chỉ còn 14.275 triệu đồng,
chiếm 9,48% nguồn vốn huy động, so với năm 2006 giảm 5.038 triệu đồng, tương ứng
giảm 26,09%.
Nguyên nhân của sự tăng giảm bất thường này là do kho bạc cần tiền để chi trả
lương cho các đơn vị hành chính, chi tiền cho các công trình xây dựng thuỷ lợi, các dự
án có vốn uỷ thác từ cấp trên…Đây là nguồn vốn không ổn định, ngân hàng không nên
quá chú trọng quá nhiều.
4.1.2.4 Phát hành giấy tờ có giá:
Năm 2005 là 7.400 triệu đồng chỉ chiếm 6,15% nguồn vốn huy động. Năm 2006
đạt 6.776 triệu đồng, so với năm 2005 giảm 624 triệu đồng, tương đương giảm 8,43%,
nhưng lại chiếm đến 6,89% nguồn vốn huy động. Năm 2007 là 11.585 triệu đồng,
chiếm 7,69% vốn huy động, tăng 4.809 triệu đồng tương đương tăng 70,97%.
+ Đối với kỳ phiếu: năm 2005 phát hành 3.500 triệu đồng, chiếm 2,19% tổng vốn
huy động. Năm 2006 là 6.276 triệu đồng, chiếm 5,14% tổng vốn huy động, so với năm
2005 tăng 2.776 triệu đồng, tương ứng tăng 79,31%. Nguyên nhân là do khoản mục tiền
gửi tiết kiệm giảm, vốn huy động giảm nên ngân hàng cần một lượng tiền để đáp ứng
nhu cầu vốn.
Năm 2007 phát hành 10.985 triệu đồng, chiếm 7,19% vốn huy động, so với năm

Qua bảng trên ta thấy khung lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn ngày một tăng
lên, đây là điều kiện thuận lợi để ngân hàng thu hút vốn tiền gửi từ dân cư. Mặc dù lãi
suất huy động có thấp hơn so với các ngân hàng khác trên cùng địa bàn, nhưng ngân
hàng được lợi thế là có thời gian hoạt động lâu năm nên có một lượng khách hàng
truyền thống đáng kể giúp thu hút một lượng vốn nhàn rỗi nhất định, tăng khả năng
cạnh tranh của ngân hàng.
4.1.3 Tỷ số vốn huy động trên tổng nguồn vốn
Bảng 5: TỶ SỐ VỐN HUY ĐỘNG TRÊN TỔNG NGUỒN VỐN
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm
2005 2006 2007
Vốn huy động 120.312 122.089 150.628
Tổng nguồn vốn 251.948 270.357 320.048
VHĐ/ Tổng nguồn vốn(%) 47,87 45,16 47,06
(Nguồn Bảng cân đối tài khoản chi tiết năm từ 2005 đến 2007)
Ghi chú: VHĐ: vốn huy động
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả huy động vốn của NHNo & PTNT huyện Lấp Vò.
Cụ thể năm 2005, vốn huy động trên tổng nguồn vốn chiếm tỷ trọng 47,87% sang năm
2006 tỷ trọng này giảm xuống còn 45,16%.Đến năm 2007 chỉ tiêu này là 47,06%. Qua
đó cho thấy hiệu quả huy động vốn của ngân hàng tuy tăng đều qua các năm nhưng
nhìn chung chưa cao so với tiềm năng và còn lệ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn điều
chuyển. Nguyên nhân là do nguồn thu nhập của người dân chưa cao nên lượng tiền
nhàn rỗi rất ít, họ chưa có thói quen gửi tiền vào ngân hàng mà chỉ thích đầu tư vào sản
xuất hay kinh doanh vàng. Tuy nguồn vốn huy động đạt được với tỷ trọng chưa cao
nhưng điều đáng khích lệ là doanh số huy động vẫn tiếp tục tăng, điều này có thể nói
ngân hàng cũng dần dần phát huy được bước phát triển của mình trong xu thế hội nhập.
Nhìn chung, công tác huy động vốn của ngân hàng qua 3 năm thực hiện rất tốt,
luôn đạt kế hoạch đề ra. Có được kết quả như vậy là do chi nhánh luôn phấn đấu nỗ lực
tìm mọi biện pháp tăng nguồn vốn huy động. Tuy nhiên, trên địa bàn có nhiều tổ chức

b. Tổ chức tín dụng khác: 30%”
Tại NHNo & PTNT Huyện Lấp Vò tỷ số này qua 3 đều dưới 40%, cụ thể năm
2005 là 28,75%; năm 2006 là 24,26%; năm 2007 là 17,89% không vượt quá quy định
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
4.1.4.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu vay của vốn điều chuyển:
Vốn điều chuyển dự kiến năm 2005 là 117.060 triệu đồng, trong khi đó điều
chuyển đến tại ngân hàng là 131.636 triệu đồng, lượng vốn điều chuyển thừa là 14.576


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status