Vai trò của nhà nước đối với việc bảo đảm quyền lợi ở Việt Nam hiện nay - Pdf 74

ĐẠ
ƢỜ

ĐẠ







NGUYỄN THỊ THÚY

VAI TRÒ CỦ

ƢỚ Đ I VỚI VIỆC BẢO

ĐẢM QUYỀ

ƢỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬ

Ạ SĨ
ẾT HỌC

– 2020


ĐẠ
ƢỜ

– 2020


rƣơng hị Thanh Quý


LỜ

Đ

Tơi xin cam đoản đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi. Các kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác cao nhất có
thể, được các tác giả cho phép sử dụng. Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có
xuất xứ rõ ràng. Tơi xin chịu hồn tồn trách nhiệm về cơng trình nghiên cứu
của mình.
Hà Nội, ngày 16 tháng 06 năm 2020
Tác giả

Nguyễn Thị Thúy


LỜI CẢ

Ơ

Để hồn thành luận văn này, tơi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của
nhiều tập thể, cá nhân trong và ngồi trường.
Trước tiên, tơi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Trương Thị Thanh
Quý, đã luôn ủng hộ, động viên và tận tụy hướng dẫn tơi trong suốt q trình
thực hiện đề tài. Tơi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong

1.1.4. Quan điểm của Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền con người; bảo đảm
quyền con người trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa ..................................... 36
1.2. Vai trị của nhà nƣớc đ i với việc bảo đảm quyền con ngƣời trong
lĩnh vực kinh tế và văn hóa........................................................................... 39
1.2.1. Tầm quan trọng của nhà nước đối với việc bảo đảm quyền con người
trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa. ................................................................. 39
1.2.2. Nội dung vai trò của nhà nước đối với việc bảo đảm quyền con người
trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa .................................................................. 42
hƣơng . VAI TRỊ CỦ
QUYỀ

ƢỜ

ƢỚ


Đ I VỚI VIỆC BẢ

ỰC KINH TẾ

ĐẢM
Ó Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ..................... 62
2.1. Thực trạng vai trò của

hà nƣớc đ i với việc bảo đảm quyền con

ngƣời trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa ở Việt Nam hiện nay ................. 62
2.1.1. Những thành tựu của Nhà nước Việt Nam đối với việc bảo đảm

quyền con người, nhất là trong điều kiện thế giới cịn tồn tại nhiều hình thức
nhà nước và giai cấp khác nhau, với những chế độ chính trị vì mục tiêu và lợi
ích khác nhau. Điều này thể hiện rất rõ trong quan điểm chính trị, cách tổ
chức và thực thi quyền lực của các nhà nước.
Trong bối cảnh hiện nay, thế giới đang chịu sự tác động của q trình
tồn cầu hóa và hội nhập quốc tế, những thử thách và cơ hội đặt ra cho các
nước trong quá trình phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp. Việc tham gia
ngày càng sâu rộng vào quá trình này, một mặt đã làm cho các quốc gia
“xích” lại gần nhau hơn từ đó tạo thêm nhiều cơ hội thuận lợi cho sự phát
triển vì tiến bộ chung, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm ngày càng tốt
hơn các quyền con người. Mặt khác, cũng nảy sinh những vấn đề tiêu cực tác
động đến sự phát triển bền vững của các quốc gia. Tình trạng mâu thuẫn giữa
các dân tộc do sự chênh lệch, bất bình đẳng về cơ hội, điều kiện tiếp cận các
cơ hội, trong chiếm lĩnh các nguồn lực để thực hiện và phân chia hệ thống lợi
ích xã hội, trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nhân quyền và chủ quyền
1


quốc gia trong quá trình hội nhập; những mâu thuẫn lợi ích giữa các giai cấp
trong mỗi quốc gia đang cản trở cuộc đấu tranh vì những lợi ích chung cho
tồn xã hội, cản trở vì sự tiến bộ, phát triển xã hội… Điều này ảnh hưởng và
tác động một cách trực tiếp tới phạm vi và mức độ bảo đảm, thực hiện quyền
con người ở mỗi quốc gia. Giải quyết vấn đề này, mỗi nhà nước sẽ có quan
điểm, nguyên tắc riêng về bảo đảm quyền con người vì sự tiến bộ chung của
xã hội và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Theo Luật Nhân quyền quốc tế, bảo đảm quyền con người là trách
nhiệm của nhiều chủ thể trong đó nhà nước đóng vai trị quan trọng. Bảo đảm
quyền con người là trách nhiệm của nhà nước và là vấn đề mang tính nguyên
tắc trong hoạt động của nhà nước. Ở Việt Nam, tư tưởng về một chính quyền
của dân, bảo vệ các quyền của nhân dân đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh

cập, khó triển khai trong thực tế, công tác tuyên truyền giáo dục mang tính
hình thức… Bên cạnh đó, tình trạng thiếu trách nhiệm, vơ cảm, thậm chí vi
phạm nghiêm trọng các quyền con người của người dân của một số cán bộ,
công chức, gây bức xúc trong xã hội, tạo kẽ hở cho một số thế lực thù địch coi
đó là lý do để vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người.
Từ những hạn chế, bất cập kể trên, việc nghiên cứu vấn đề lý luận và
thực trạng thực hiện vai trò của nhà nước Việt Nam đối với việc bảo đảm
quyền con người trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa, trên cơ sở đó đề ra những
giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả của nhà nước trong việc bảo đảm
quyền con người trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa ở Việt Nam trong thời gian
tới là đòi hỏi cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ lý do trên, tác
giả chọn vấn đề: “ ai trò của nhà nƣớc đ i với việc bảo đảm quyền con
ngƣời ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn của mình. Trong quá trình
nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tiễn, tác giả nhận thấy vai trò của nhà nước
đối với việc bảo đảm quyền con người rất rộng, từ lĩnh vực kinh tế, chính trị,
3


văn hóa, xã hội…, với khn khổ của luận văn, tác giả xác định phạm vi
nghiên cứu vai trò của nhà nước đối với việc bảo đảm quyền con người trong
lĩnh vực kinh tế và văn hóa ở Việt Nam hiện nay.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, việc nghiên cứu về quyền con người, những vấn
đề lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền con người, vai trò của nhà nước đối với
việc bảo đảm quyền con người nói chung và bảo đảm quyền con người trong
lĩnh vực kinh tế và văn hóa nói riêng đã và đang trở thành vấn đề nhận được
sự quan tâm đặc biệt của nhiều tổ chức và cá nhân, các nhà lãnh đạo và các
nhà khoa học trong và ngồi nước. Vì vậy, có nhiều cơng trình nghiên cứu
liên quan đến đề tài này đã được xuất bản, thể hiện tập trung ở các nội dung
sau:

người là quá trình lâu dài trong lich sử, tự do và bình đẳng trừu tượng khơng
phải là thước đo thông dụng đối với quyền con người mà chỉ là tiêu chí để
đánh giá mức độ phát triển của quyền con người mà thôi.
Vấn đề bảo đảm quyền con người cũng có khá nhiều cơng trình nghiên
cứu. Về khái niệm quyền con người được đề cập trong một số bài viết như:
“Bảo đảm quyền con người bằng các hình thức pháp lý hành chính”(2009)
của tác giả Lê Thị Hồng Nhung [37], tuy nhiên bài viết phần lớn chỉ tập trung
vào phân tích kết quả và thực trạng bảo đảm quyền con người thơng qua việc
đưa ra các hình thức pháp lý hành chính. Tác giả Lê Hồng Sơn trong bài “Các
nhân tố pháp lý tác động đến việc hình thành và hoạt động của các cơ chế
bảo đảm quyền con người”(2009)cho rằng: “Bảo đảm quyền con người là
một q trình. Nó phụ thuộc vào tổng thể nhiều điều kiện khác nhau như kinh
tế, chính trị, văn hóa, pháp luật trong đó pháp luật giữ vị trí, vai trị và tầm
quan trọng hàng đầu” [48, tr.123]. Điều đó càng khẳng định, bảo đảm quyền
con người không thể thực hiện một cách độc lập, tách biệt, riêng lẻ với các
5


điều kiện khác, vấn đề quan trọng là làm thế nào để tạo ra các điều kiện thuận
lợi để bảo đảm thực hiện tốt nhất quyền con người.
Tác giả Nguyễn Thị Báo trong bài viết: “Một số suy nghĩ về cơ chế bảo
đảm và bảo về quyền con người ở Việt Nam hiện nay”(2009) cũng nhận định:
“Các quyền con người chỉ được bảo đảm và thực hiện khi bảo đảm được các
điều kiện bảo đảm về chính trị; về mặt thể chế; về nguồn nhân lực kinh tế và
văn hóa” [1, tr.121]. Trên cơ sở phân tích các điều kiện bảo đảm quyền con
người, tác giả nhấn mạnh: quyền con người chỉ có thể được bảo đảm khi có
sự vận hành của các cơ quan Đảng và nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Như vậy để bảo đảm quyền con người được thực hiện,
theo tác giả cần có hai điều kiện: thứ nhất là các điều kiện đảm bảo quyền con
người, thứ hai là cơ chế để bảo vệ quyền con người.

vụ bảo vệ và nghĩa vụ thực hiện” [49, tr.112]. Nghĩa vụ tôn trọng quyền con
người của quốc gia chính là việc đặt ra trách nhiệm của nhà nước phải kiềm
chế không can thiệp vào việc hưởng thụ các quyền con người, trong đó có
quyền kinh tế và văn hóa của cá nhân.
Đề cập đến phương hướng bảo đảm quyền con người của nhà nước,
chuyên đề “Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về
quyền con người” [11]. Chuyên đề đã đưa ra định hướng về bảo bảo đảm
quyền con người của Đảng và nhà nước. Đó là: (1) Giữ vững độc lập dân tộc,
chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ; (2) xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN, kiện toàn các thiết chế bảo vệ và thúc đầy quyền con người; (3) Phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội bảo đảm và nâng cao sự hưởng thụ của con
người; (4) Đẩy mạnh dân chủ, giữ vững ổn định xã hội; (5) Giáo dục về
quyền con người; (6) Mở rộng hợp tác quốc tế về quyền con người. Đây là
định hướng quan trọng nâng cao hiệu quả của nhà nước trong việc bảo đảm
quyền con người.
7


Tác giả Trương Thị Thanh Quý cũng có khá nhiều cơng trình nghiên
cứu về quyền con người, đảm bảo thực hiện quyền con người ở Việt Nam
như: Sách Vai trò của Nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở
Việt Nam hiện nay” [40]; Bài báo: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ quyền
con người và quyền độc lập dân tộc ở mỗi quốc gia”[41, tr.61- 70]; “Thực thi
quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở Tây Bắc- Thực trạng và giải
pháp”[42, tr. 95- 97]; “Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách an sinh xã hội
bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay”[43, tr.87- 93];
“Tư tưởng sơ khai về quyền con người ở Việt Nam thời kỳ phong kiến”[44,
tr.13-18]; “Bảo đảm thực hiện quyền bảo hiểm y tế của đồng bào dân tộc
thiểu số ở Việt Nam hiện nay”[45, tr.56- 65]. Tất cả những cơng trình trên chỉ
gián tiếp đề cập một khía cạnh nào đó của quyền con người cũng như vai trò

với bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa ở Việt Nam,
từ đó chỉ ra nguyên nhân những hạn chế của nhà nước đối với việc bảo đảm
quyền con người ở Việt Nam hiện nay trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của nhà nước
đối với bảo đảm quyền con người Việt Nam hiện nay trong lĩnh vực kinh tế
và văn hóa.
4 Đ i tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu vai trò của nhà nước đối với việc bảo đảm quyền con người
trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa ở Việt Nam hiện nay từ góc độ triết học.
Phạm vi nghiên cứu
Quyền con người rất rộng, bao quát nhiều phương diện khác nhau, từ
đời sống vật chất đến đời sống tinh thần, từ điều kiện ăn mặc ở đến mơi
trường, từ điều kiện kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, tơn giáo… Trong
giới hạn của đề tài, luận văn khơng có điều kiện nghiên cứu tất cả những
9


phương diện trên, mà chỉ tập trung nghiên cứu vai trò của nhà nước đối với
bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay trên hai phương diện: kinh tế,
văn hóa.
Luận văn khơng nghiên cứu tồn bộ lý luận về nhà nước đối với
việc bảo đảm quyền con người mà chỉ tập trung nghiên cứu quan điểm của
triết học phương Tây cận đại, chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề này dưới góc
độ triết học.
Trong phần thực trạng, luận văn chỉ giới hạn khảo sát thực trạng vai
trò của Nhà nước Việt Nam đối với việc bảo đảm quyền con người trong thời
kỳ đổi mới.
5


Nam hiện nay.
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu, giảng dạy về quyền con người và các vấn đề khác có liên quan.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 2 chương, 6 tiết.

11


hƣơng 1
VAI TRÒ CỦ

ƢỚ Đ I VỚI BẢ
ƢỜI- M T S

ĐẢM QUYỀN CON

VẤ ĐỀ LÝ LUẬN

1.1. Quyền con ngƣời và bảo đảm quyền con ngƣời
1.1.1. Khái niệm về quyền con người và bảo đảm quyền con người
- Khái niệm về quyền con người
Để làm rõ khái niệm bảo đảm quyền con người, trước tiên cần tìm hiểu
quyền con người là gì? Cho đến nay, có hàng trăm định nghĩa khác nhau về
quyền con người dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau, điển hình là:
Xét về bản chất quyền con người, Thuyết nhân quyền pháp lý có điểm
hợp lý là gắn quyền con người với pháp luật, với nhà nước và thấy được vai
trò quan trọng, tầm quan trọng của pháp luật trong việc bảo vệ quyền con
người "khơng có pháp luật thì khơng có quyền". Tuy nhiên, nếu chỉ coi ý chí

người vào điều kiện thực tế. Hơn nữa, việc ghi nhận của pháp luật về các
quyền con người còn thể hiện mối quan hệ giữa pháp luật và các điều kiện
bảo đảm khác (chính trị, kinh tế, văn hóa...). Các điều kiện trên đều phải thơng
qua pháp luật, thể hiện dưới hình thức pháp luật mới trở thành giá trị xã hội
ổn định, được hiện thực hóa trên qui mơ tồn xã hội. Chỉ có như vậy thì các
điều kiện đó mới phát huy được vai trị của mình trong việc bảo đảm quyền
con người.
Để hiểu rõ hơn về quyền con người, chúng ta phân biệt: quyền con người
và quyền công dân. Đây là hai phạm trù gần nhưng khơng hồn tồn đồng
nhất.
Quyền cơng dân (citizen’ ringhts) chỉ gắn liền với sự xuất hiện của cách
mạng tư sản. Có thể khẳng định, cách mạng tư sản đã cống hiến cho nhân loại
một giá trị nhân văn to lớn là đưa con người từ những địa vị thần dân trở

15


thành những công dân (với tư cách là những thành viên bình đẳng của một
nhà nước) và pháp điển hóa các quyền tự nhiên của con người dưới hình thức
các quyền công dân trong pháp luật. Xét về bản chất, "quyền cơng dân chính
là quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân
của nước mình" [16, tr.21].
Quyền cơng dân là quyền con người trong một xã hội cụ thể, đứng
trong một chế độ chính trị, xã hội nhất định với hệ thống pháp luật cụ thể do
nhà nước thừa nhận và quy định. Do đó, quyền cơng dân là quyền con người
với tư cách là thành viên của cộng đồng chính trị, cộng đồng nhà nước. Nói
cách khác, đó là những quyền chính trị, những quyền cá nhân con người với
tư cách là thành viên "xã hội cơng dân", cịn "quyền con người là những đặc
quyền chỉ có ở con người với tư cách là con người, là thành viên của xã hội
loài người" [56, tr.14].

làm việc, nhưng người đó vẫn được hưởng các quyền con người phổ biến
(mà đồng thời cũng là các quyền công dân) áp dụng cho mọi thành viên của
nhân loại như: quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân...
- Khái niệm về bảo đảm quyền con người
Trong các tài liệu về quyền con người ở Việt Nam, mặc dù thuật ngữ
bảo "đảm quyền con người" được nhắc đến khá nhiều, nhưng việc đưa ra khái
niệm bảo đảm quyền con người chưa có nhiều tài liệu đề cập đến.
Về khái niệm "bảo đảm quyền con người", đến nay, có nhiều cách hiểu
khác nhau. Theo một số tài liệu của Liên hợp quốc thì cụm từ bảo đảm quyền
con người hay được sử dụng để chỉ ra nghĩa vụ của các chủ thể có trách
nhiệm trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người. Lời nói đầu Cơng
ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị và Cơng ước quốc tế về các quyền
kinh tế, xã hội, văn hóa (1966) đều khẳng định: "theo Hiến chương Liên Hợp
17


Quốc thì các quốc gia có nghĩa vụ thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ các quyền
và những tự do cơ bản của con người" [57, tr.230].
* Một số quan niệm về quyền con người và bảo đảm quyền con người
hiện nay.
Theo một số tài liệu của Liên hợp quốc thì cụm từ bảo đảm quyền con
người hay được sử dụng để chỉ ra nghĩa vụ của các chủ thể có trách nhiệm
trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người. Lời nói đầu Cơng ước
quốc tế về các quyền dân sự chính trị và Cơng ước quốc tế về các quyền kinh tế,
xã hội, văn hóa (1966) đều khẳng định: "theo Hiến chương Liên Hợp Quốc thì
các quốc gia có nghĩa vụ thúc đẩy sự tơn trọng và tuân thủ các quyền và những
tự do cơ bản của con người"[50, tr.230].
Ở Việt Nam, quyền con người nói chung và bảo đảm quyền con người
trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa nói riêng được khẳng định trong Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 của Đảng, đó là: "phải bảo đảm quyền con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status