Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp cổ phần - Pdf 74

Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp cổ phần
Trong những năm gần đây, cùng với việc đẩy mạnh quá trình
cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nhiều doanh nghiệp cổ
phần sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tình hình tài chính
lành mạnh, do đó các NHTM ngày càng mở rộng cho vay đối
với các doanh nghiệp cổ phần.
Về cho vay doanh nghiệp cổ phần
Theo báo cáo của 5 NHTM Nhà nước, tăng trưởng cho vay đối với doanh nghiệp cổ phần (bao
gồm doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa và doanh nghiệp cổ phần khác) trong những năm gần
đây ở mức cao, đặc biệt là từ năm 2003 do quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước
được đẩy mạnh. Dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp cổ phần liên tục tăng cả về số tuyệt đối và tỷ
trọng trong tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế (12/2004 dư nợ 25.212 tỷ đồng, chiếm 5,47%
tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế, 12/2005, con số này là 44.086 tỷ đồng và 7.93%). Tính đến
31/5/2006 dự nợ cho vay đối với doanh nghiệp cổ phần khoảng 51.603, chiếm 8,8% tổng dư nợ
của toàn hệ thống đối với nền kinh tế. Về cơ cấu loại hình doanh nghiệp, dư nợ cho vay doanh
nghiệp nhà nước cổ phần hoá luôn chiếm trên 70% tổng dư nợ cho vay doanh nghiệp cổ phần
(năm 2004 là 75,89%, năm 2005 là 73,3%, tháng 5 năm 2006 khoảng 73,98%).
Dư nợ cho vay 5 tháng đầu năm 2006 đối với các doanh nghiệp cổ phần tăng 17,05% so với dư
nợ cuối tháng 12/2005, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế (4,94%); trong
đó tốc độ tăng trưởng cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá khoảng 18,13% và
doanh nghiệp cổ phần khác khoảng 14,1%.
Thực trạng sử dụng vốn vay, khả năng trả nợ của DN cổ phần
Tính đến tháng 5/2006, nợ xấu của doanh nghiệp cổ phần khoảng 2.742 tỷ đồng, chiếm 14,72%
tổng nợ xấu của hệ thống ngân hàng, trong đó chủ yếu là nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước
cổ phần hoá, khoảng 2.484 tỷ đồng, chiếm 90,6% tổng nợ xấu của các doanh nghiệp cổ phần. Tỷ
lệ nợ xấu của doanh nghiệp cổ phần khoảng 5,31% trên tổng dư nợ vay của doanh nghiệp cổ
phần, cao hơn tỷ lệ nợ xấu chung (3,2%); trong đó, doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá có tỷ lệ
nợ xấu là 6,51%, doanh nghiệp cổ phần khác là 1,92% trên tổng dư nợ vay.
- Tình hình nợ xấu của các doanh nghiệp cổ phần có chiều hướng gia tăng trong những năm gần
đây (tỷ lệ nợ xấu năm 2003: 1,77%, năm 2004: 2,13%, năm 2005: 7,72%, tháng 5 năm 2006:
6,51%) chủ yếu là do một số nguyên nhân sau: (1) một số doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá

- Thủ tục cấp con dấu cho doanh nghiệp sau cổ phần hóa quá chậm (khoảng 1 tháng sau khi có
quyết định thành lập và đăng ký kinh doanh) trong khi doanh nghiệp có những hoạt động thường
xuyên với ngân hàng, liên tục, do đó nhiều doanh nghiệp đã sử dụng con dấu cũ (của pháp nhân
cũ) mà không thông báo cho ngân hàng nên các giao dịch giữa ngân hàng và doanh nghiệp trở
nên vô hiệu trong khỏang thời gian đó.
- Việc hoàn tất thủ tục chuyển giao tài sản, quyền và nghĩa vụ từ DNNN sang doanh nghiệp cổ
phần gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và thường diễn ra rất chậm chạp: đực biệt đối với việc cấp
sổ dỏ cho thuê đất và giao đất nên việc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của
doanh nghiệp gặp khó khăn.
- Thông tin về tài chính DN và tín dụng ngân hàng, từ DN à NHTM à Trung tâm thông tin tín dụng –
NHNN (CIC) và ngược lại, chưa được thông suốt và cập nhật, khối lượng thông tin chưa được đầy
đủ, cho nên chưa đáp ứng được tốt nhu cầu thông tin của các bên để đánh giá, thẩm định khoản
vay và kiểm soát chất lượng tín dụng còn hạn chế.
Admin (Theo
SBV
)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status