NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP - Pdf 74

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN TRONG HOẠT
ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP.
1. Khái niệm và phân loại vốn.
Vốn trong hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay
không chỉ bao gồm giá trị của tiền nói chung mà vốn ở đây còn bao gồm cả vật
chất như nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu… Nếu hiểu theo
nghĩa rộng hơn thì vốn ở đay còn có thể bao gồm cả vốn con người theo đó thì
vai trò của con người ngày càng trở lên quan trọng đặc biệt là khi chúng ta sắp
bước vào nền kinh tế tri thức một nền kinh tế phát triển thì theo đó chất xám con
người là một nguồn vốn vô cùng quan trọng và quý giá nhiều khi vốn bằng tiền
tệ cũng chưa sánh được so với nguồn vốn con người, vốn tri thức.
Nhưng trong đề tài này thì chỉ đi vào tìm hiểu phân tích về vồn theo nghĩa
hẹp là vốn tiền tệ và vật chất. Vì vậy hiểu theo nghĩa hẹp một cách đơn giản nhất
thì vốn là toàn bộ giá trị của tiền và vật chất được ứng ra ban đầu và quá trình
tiếp theo để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhưng như trên đã nói thì ở đây vốn cũng có rất nhiều loại bao gồm vốn vật
chất và vốn tri thức. Hay như bên trong doanh nghiệp thì vốn cũng có bao gồm
hai loại vốn chính là vốn chủ sở hữu và vốn đi vay. Hoặc cũng có thể phân thành
vốn cố định và vốn lưu động.
Theo cách phân loại về nguồn hình thành thì bao gồm.
Vốn chủ sở hữu là lượng vốn mà chủ doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình
hình thành doanh nghiệp và được tích luỹ dần trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh mà thuộc quyền sở hữu và sử dụng của doanh nghiệp. Vốn chủ sở
hữu này được dùng để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Bản thân bên trong vốn chủ sở hữu cũng bao gồm nhiều loại như khấu
hao, lợi nhuận để lại, quỹ dự phòng…
Theo đó thì lợi nhuận để lại là phần còn lại của kết quả quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi chi phí
và các khoản khác như phần nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hay là phần lợi
nhuận dùng để chia cổ tức cho các cổ đông. Phần lợi nhuận để lại này được
doanh nghiệp giữ lại dùng để tiếp tục đầu tư vào quá trính sản xuất kinh doanh

vay nợ ra thị trường vốn để thu hút vốn từ các tầng lớp dân cư. Hay là vốn có
được từ liên doanh, liên kết theo đó thì doanh nghiệp sẽ có vốn khi tiến hành
liên doanh liên kết với bên ngoài. Với hình thức liên doanh liên kết này thì vừa
có vốn để hoạt động lại vừa có thể tham gia được vào thị trường mới hay là giảm
thiểu rủi ro của doanh nghiệp khi thất bại sẽ không phải chịu tất cả thua lỗ mà có
doanh nghiệp khác cùng chia sẻ.
Phân loại theo tính chất hoạt động thì có vốn cố định và vốn lưu động.
Vốn cố định là lượng vốn ứng ra ban đầu để đầu tư vào tài sản cố định như
nhà xưởng, máy móc… nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Vốn cố định có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất,
được khấu hao vào từng sản phẩm trong quá trình sản xuất.
Vốn lưu động là số tiền ứng trước để đầu tư vào tài sản lưu động, tài sản lưu
thông nhằm đảm bảo quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp diễn ra bình
thường.
2. Sự cần thiết phải huy động vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp.
Có thể nói vốn đối với từng doanh nghiệp là rất quan trọng nó quyết định đến
sự hoạt động suôn sẻ của doanh nghiệp.Mặc dù để có thể để doanh nghiệp hoạt
động một cách suôn sẻ thì cần phải có nhiều yếu tố cùng tham gia vào trong đó
vốn là quan trọng, nó được coi như là máu đối với mỗi doanh nghiệp, vì chỉ khi
có vốn doanh nghiệp mới có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh được.
Có vốn doanh nghiệp mới có thể thực hiện các hợp đồng, ký kết các hợp đồng
kinh doanh liên kết, có vốn thì doanh nghiệp mới có thể mua sắm trang thiết bị,
thay thế các trang thiết bị cũ, đổi mới công nghệ sản xuất, trả lương cho công
nhân… Theo đó thì vốn có vai trò quan trọng đối với các hoạt động sau.
2.1. Đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
Hoạt động đầu tư là hoạt động rất quan trọng thông qua hoạt động đầu tư mà
doanh nghiệp có thể tăng trưởng và phát triển. Đầu tư ở đây có thể là đầu tư vào
một dự án kinh doanh mới hay là đầu tư vào mua sắm trang thiết bị mới, xây
dựng nhà xưởng… Nhưng để có thể tiến hành hoạt động đầu tư thì doanh nghiệp
cần phải có vốn. Vốn như là dòng máu mang dinh dưỡng đến nuôi cơ thể vậy.

các dự án đầu tư. Doanh nghiệp nào có quy mô vốn càng lớn thì dự án đầu tư
càng có quy mô phạm vi lớn và ngược lại.
Tiềm lực vốn mà doanh nghiệp có sẽ quyết định đến khả năng đầu tư của
doanh nghiệp như để có thể tham gia vào một lĩnh vực kinh doanh mới hay là
mở rộng thị trường hoạt động hiện có thì cần có vốn để có thể tiến hành các hoạt
động xúc tiến thị trường. Để có thể tham gia vào lĩnh vực kinh doanh mới thì
doanh nghiệp cần phải tiến hành nhiều công việc như là mua sắm trang thiết bị,
tuyển dụng nhân công hay là tiến hành khảo sát thị trường nhưng để có thể làm
được những việc đó thì doanh nghiệp cần có vốn để mua sắm máy móc thiết bị
hay thuê nhân công… Đấy là trường hợp doanh nghiệp muốn tự mình tham gia
thị trường mới. Hoặc doanh nghiệp có thể tiến hành liên doanh liên kết với các
doanh nghiệp khác để cùng tham gia vào thị trường mới, nhưng cho dù là doanh
nghiệp liên doanh này hiện đang hoạt động ở thị trường mà doanh nghiệp muốn
xâm nhập hay là doanh nghiệp ở thị trường khác thì khi tiến hành liên doanh liên
kết thì doanh nghiệp cũng cần phải có vốn đối ứng để tham gia vào liên doanh,
vì nếu không có vốn đối ứng chúng ta sẽ không thể tiến hành liên doanh được,
quy mô vốn góp của mỗi bên sẽ quyết định đến vai trò của doanh nghiệp trong
liên doanh này, doanh nghiệp có quy mô vốn càng lớn thì càng có vai trò quyết
định, vai trò lớn. Vì vậy mà tiềm lực vốn của doanh nghiệp sẽ quyết định đến
khả năng tham gia vào lĩnh vực kinh doanh mới của doanh nghiệp. Thêm vào đó
thì khi doanh nghiệp hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào thì luôn muốn mở rộng
thị trường hoạt động của mình vì khi thị trường càng được mở rộng thì quy mô
của doanh nghiệp càng lớn lên, sức mạnh của doanh nghiệp càng được củng
cố… nhưng để có thể mở rộng thị trường, tăng doanh thu và lợi nhuận thì doanh
nghiệp cần phải có đầu tư vào hoạt động xúc tiến thị trường, đầu tư trang thiết bị
máy móc, nghiên cứu để có thể nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành
và chi phí sản xuất để có thể cạnh tranh. Vì vậy nếu có tiềm lực vốn lớn doanh
nghiệp sẽ có thể có ưu thế trong cạnh tranh trên thị trường nhờ có vốn mà doanh
nghiệp có thể đi trước đầu tư vào công nghệ mới để chiếm lĩnh thị trường, mở
rộng thị trường.

thì càng có hiệu quả.
Quy mô của vốn cũng sẽ quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Vì
nếu có quy mô vốn lớn, tiềm lực vốn mạnh thì doanh nghiệp càng có nhiều điều
kiện để trang bị máy móc thiết bị hiện đại vào sản xuất nhờ đó mà có thể nâng
cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất hạ giá thành sản phẩm nhờ đó sẽ
tạo được ưu thế cạnh tranh trên thị trường cho doanh nghiệp trước các doanh
nghiệp khác. Nhờ có vốn mà doanh nghiệp cũng có thể tiến hành các hoạt động
xúc tiến thị trường, quảng bá sản phẩm rộng rãi hơn trên thị trường… Vì khi mà
có sản phẩm chất lượng tốt và giá cả hấp dẫn rồi thì vẫn chưa đủ mà thêm vào
đó thì khâu xúc tiến thị trường là rất quan trọng nó quyết định đến sự thành công
của sản phẩm nó sẽ góp phần làm cho mọi người biết về sản phẩm để có thể mua
sản phẩm. Nhưng để làm được những việc như tăng chất lượng sản phẩm, giảm
giá thành, xúc tiến thị trường thì cần phải có vốn.
Nhìn chung thì vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh là rất
quan trọng ngoài yếu tố con người ra thì vốn là rất quan trọng nó quyết định đến
hiệu quả hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanh, nói lên sự hiệu quả trong
hoạt động của doanh nghiệp.
2.3. Đối với việc tăng tài sản của doanh nghiệp.
Tài sản của doanh nghiệp cũng chính là lượng vốn mà doanh nghiệp có, ở
đây tài sản chính là biểu hiện về mặt vật chất của vốn. Số lượng tài sản mà
doanh nghiệp có cũng nói lên được tiềm lực của doanh nghiệp, nói lên quy mô
của doanh nghiệp và trình độ năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì
vậy mà việc tăng tài sản của doanh nghiệp luôn được doanh nghiệp tiến hành
qua các kỳ sản xuất kinh doanh, nó được tiến hành thường xuyên liên tục trong
mỗi doanh nghiệp. Nhưng việc tăng tài sản của mỗi doanh nghiệp cũng cần phải
có vốn vì tài sản ở đây là trang thiết bị máy móc nhà xưởng… đều cần có vốn.
Nguồn vốn sẽ quyết định đến khả năng mua sắm tài sản mới của công ty.
Việc mua sắm tài sản mới sẽ góp phần làm tăng tài sản của công ty nhưng để có
thể mua được tài sản mới thì công ty cần có được một lượng vốn nhất định.
Doanh nghiệp một khi muốn mua sắm thêm tài sản mới để nâng cao năng lực

luon có ưu thế so với các doanh nghiệp nhỏ khác. Mặt khác là doanh nghiệp có
quy mô lớn điều đó cũng đồng nghĩa với việc giá trị tài sản mà doanh nghiệp có
sẽ lớn hơn so với các công ty vừa và nhỏ đây là một thuận lợi lớn cho các công
ty lớn khi đi vay tín dụng ngân hàng vì khi đi vay tín dụng ngân hàng thì bao giờ
ngân hàng cũng căn cứ vào giá trị tài sản mà công ty có để cho vay vốn, ta
không thể vay vốn với số lượng lớn khi mà phần giá trị tài sản của công ty nhỏ
bé. Vì vậy mỗi khi đi vay tín dụng ngân hàng các công ty lớn với giá trị tài sản
lớn của mình có thể đem ra thế chấp để vay được số lượng vốn lớn cần thiết để
cung cấp vốn cho những hoạt động đầu tư của mình nhưng trái lại với các công
ty vừa và nhỏ thì việc vay tín dụng ngân hàng một khối lượng vốn lớn là không
dễ dàng khi mà giá trị tài sản mà công ty có chưa nhiều nên chưa thể tạo được
lòng tin đối với ngân hàng để cho vay. Một điểm mạnh nữa của những doanh
nghiệp có quy mô lớn là doanh nghiệp có quy mô vốn lớn thì thường hoạt động
trong nhiều lĩnh vực, hoạt động lâu trên thị trường nên có được lòng tin của
khách hàng và các đối tác nên họ có thể tiến hành vay tín dụng thương mại từ
các đối tác cũng trở lên dễ dàng. Họ có thể thoả thuận với bên đối tác kể cả bên
cung cấp và bên phân phối cho vay những khoản vay tín dụng thương mại một
cách dễ dàng hơn điều đó sẽ tạo lợi thế cho họ trong việc huy động vốn. Một
doanh nghiệp có quy mô vốn lớn cũng có thuận lợi hơn các công ty vừa và nhỏ
khác trong việc vay vốn từ kênh huy động vốn phát hành cổ phiếu hay trái phiếu
vì muốn phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ra thị trường thì điều đầu tiên cần
phải đáp ứng được là quy mô vốn của doanh nghiệp phải đủ lớn để có thể phát
hành trái phiếu nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Khi mà doanh
nghiệp có quy mô lớn thì cũng đảm bảo lòng tin đối với những nhà đâầutư khi
mà các công ty lớn định phát hành trái phiếu, rõ ràng khi phải lựa chọn giữa hai
loại trái phiếu thứ nhất là của một công ty vừa và nhỏ và một bên là của một
công ty lớn thì chúng ta thường có xu hướng chọn trái phiếu của doanh nghiệp
có quy mô lớn tất nhiên sự lựa chọn này còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như
là uy tín của doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt
động của doanh nghiệp… Với doanh nghiệp có quy mô vốn lớn thì nguồn quỹ

Khi mà doanh nghiệp đang hoạt động tốt, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao
thì khả năng huy động vốn của doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn rất nhiều đối với
những doanh nghiệp làm ăn đình đốn. Khi mà doanh nghiệp hoạt động sản xuất
kinh doanh đạt hiệu quả điều đó đồng nghĩa với việc vòng quay của vốn được
rút ngắn, vốn không bị ứ đọng làm cho vốn liên tục được đầu tư tiếp tục làm
tăng giá trị đồng vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng đồng nghĩa với việc
doanh thu và lợi nhuân của công ty sẽ lớn làm cho phần lợi nhuận để lại của
công ty lớn thì sẽ tạo được nhiều tích luỹ hơn cho doanh nghiệp, tao lên số
lượng vốn chủ sở hữu được gia tăng. Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao thì
uy tín của doanh nghiệp càng lớn càng thu hút được nhiều nhà đầu tư quan tâm,
chú ý từ đó sẽ dễ dàng hơn khi mà kêu gọi các nhà đầu tư vào doanh nghiệp, khi
mà hiệu quả sản xuất kinh doanh cao thì việc đi vay tín dụng ngân hàng và vay
tín dụng thương mại cũng trở lên dễ dàng hơn vì khi sản xuất kinh doanh đạt
hiệu quả cao tạo được lòng tin đối với những nhà cho vay từ đó mà dễ dàng huy
động vốn vào để đầu tư vào những dự án kinh doanh của mình. Còn trái lại khi
mà sản xuất kinh doanh không đạt hiệu quả, vốn bị ứ đọng không lưu thông
được thì doanh nghiệp khó có khả năng huy động vốn lớn vì không thu hút được
sự quan tâm của những nhà đầu tư, không tạo được niềm tin về khả năng thanh
toán tới những nhà cho vay do vậy mà khó khăn hơn khi đi vay.
3.4. Uy tín của doanh nghiệp.
Uy tín của doanh nghiệp cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả
năng huy động vốn của doanh nghiệp. Rõ ràng khi mà doanh nghiệp có được uy
tín trên thị trường tạo được niềm tin đối với khách hàng và đối tác, các nhà đầu
tư thì doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn khi thu hút đầu tư thu hút vốn. Uy tín của
doanh nghiệp nhiều khi còn quan trọng hơn cả hiệu quả sản xuất kinh doanh hay
quy mô của doanh nghiệp trong việc thu hút vốn đầu tư vì hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh là sự biểu hiện tại những thời điểm nhất định, không doanh
nghiệp nào là có thể hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao trong suốt
thời gian dài cả, nhưng uy tín của doanh nghiệp thì khác nó được xây dựng qua
nhiều giai đoạn, phải được tạo dựng rất lâu vì vậy mà uy tín của doanh nghiệp sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status