Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Hàn Quốc vào Việt Nam
I. Đặc điểm và nhân tố ảnh hưởng FDI của Hàn Quốc vào Việt Nam
1. Đặc điểm FDI Hàn Quốc vào Việt Nam
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hàn Quốc tập trung chủ yếu trong công
nghiệp chế tạo, sử dụng nhiều lao động, sản phẩm được xuất khẩu là chính.Việc
tận dụng nguồn lao động rẻ vẫn là mục đích của nhiều nhà đầu tư nước ngoài
khi đầu tư vào Việt Nam. FDI của Hàn Quốc vào các ngành sản xuất ô tô, xe
máy, thiết bị điện tử, đồ dân dụng và các sản phẩm xuất khẩu.
- Các nhà đầu tư Hàn Quốc đầu tư vào Việt Nam chủ yếu dưới hình thức 100%
vốn đầu tư nước ngoài, chiếm khoảng 80%, tiếp đến là hình thức liên
doanh,chiếm khoảng 15% và còn lại là hợp đồng hợp tác kinh doanh...Có thể là
nhà đầu tư Hàn Quốc rất cẩn thận khi đầu tư vào đối tác và họ luôn cẩn trọng
trong việc lựa chọn hình thức kinh doanh, lĩnh vực đầu tư và địa điểm.
- Các dự án đầu tư của Hàn Quốc nhìn chung hoạt động tốt, quy mô bình quân
vốn lớn, cao hơn mức bình quân chung của cả nước ( trên 40triẹu USD) và chủ
yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất vật chất.
-Dự án đầu tư của Hàn Quốc tập trung chủ yếu vào 3 tỉnh, thành phố lớn là
thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đồng Nai, có thể nói, cho đến nay, hầu hết
các tập đoàn hàng đầu của Hàn Quốc (Chaebol) đều đã có mặt ở Việt Nam.
- Các dự án Hàn Quốc tập trung vào những địa bàn có cơ sở hạ tầng tương
đối tốt. Tỷ lệ các dự án bị giải thể của Hàn Quốc thấp (9%), nguyên nhân là các
nhà đầu tư Hàn Quốc rất thận trọng trong việc khảo sát, nghiên cứu trước khi
quyết định nên đã giảm thiểu được rủi ro khi đi vào hoạt động.
- Hạn chế của đầu tư của Hàn Quốc là khả năng chuyển giaocông nghệ còn
thấp và quy mô đầu tư vào Việt Nam thấp hơn nhiều so với đầu tư vào các nước
khác trong khu vực như Singapore, Malaixia, Thái Lan.
- Do khủng hoảng kinh tế của Hàn Quốc, nên trong giai đoạn 1996-2000,
nhiều dự án triển khai chậm hoặc xin tạm dừng triển khai. Các dự án trong giai
đoạn 1996-2000 gặp khó khăn chủ yếu trong lĩnh vực khách sạn, văn phòng,
căn hộ cho thuê, không loại trừ cả một số dự án công nghiệp. Cá biệt trong các
năm 1992-1996 một số doanh nghiệp của Hàn Quốc đã để xảy ra tranh chấp lao
- Dự án về kinh doanh bất động sản
- Dự án về khảo sát, tìm kiếm, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên
nhiên, môi trường sinh thái
- Dự án về phát triển GD và ĐT
Các dự án bị cấm đầu tư
- Các dự án gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia và lợi
ích công cộng
- Các dự án gây phương hại đến di tích lịch sử, văn hoá, đạo dức, thuần
phong mỹ tục VN
- Các dự án gây tổn hại sức khoẻ nhân dân, làm huỷ hoại thiên nhiên, tài
nguyên phá huỷ môi trường.
- Các dự án sử lý phế thải độc hại đưa từ bên ngoài vào VN; sx các loại
hoá chất độc hạibị cấm theo điều ước quốc tế
2.1.2 Chính sách hỗ trợ và ưu đãi Đầu tư
Ưu đãi về thuế : thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu, thuế thu nhập doanh
nghiệp…
Mức thuế suất 10%, 15%, 20%, và 28%, tuỳ theo lĩnh vực ngành nghề,
mục tiêu hoạt động và địa bàn đầu tư
Miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp: tối đa 4 năm và giảm 50% thuế
CIT trong 9 năm tiếp theo
Các doanh nghiệp FDI được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập
khẩu để tạo tài sản cố định (thiết bị máy móc, phơng tiện vận tải chuyên
dùng, vật t xây dựng trong nớc cha sản xuất đợc).
Dự án phát triển hạ tầng khu công nghiệp: thuế suất 10% trong 15 năm,
miễn 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 7 năm tiếp theo.
Dự án sản xuất trong KCN : thuế suất 15% trong 12 năm, miễn 3 năm và
giảm 50% số thuế phải nộp trong 7 năm liên tiếp theo.
Dự án cung cấp dịch vụ trong KCN: thuế suất 20% trong vòng 10 năm, miễn
2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 6 năm tiếp theo.
Dự án Đầu tư vào KKT được hưởng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn 4
được miễn thuế giảm thuế có thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ dưới 6 tháng, doanh nghiệp có quyền đuợc miễn thuế ngay năm đó
Ưu đãi về chế độ khấu hao tài sản cố định
Dự án Đầu tư trong lĩnh vực, địa bàn ưu đãi Đầu tư và dự án kinh doanh có
hiệu quả được áp dụng khấu hao nhanh đối với tài sản cố định; mức khấu hao
tối đa là hai lần mức khấu hao theo chế độ khấu hao tài sản cố định.
2.2 Môi trường Đầu tư của Việt Nam
Việt Nam là nước có môi trường chính trị ổn định và môi trường hòa bình,
hữu nghị, hợp tác trong quan hệ quốc tế đó mở rộng với hầu khắp các nước.
Môi trường pháp chế đang được tích cực và hoàn chỉnh. Trong điều kiện tình
hình chính trị thế giới biến động hết sức phức tạp như cuộc chiến ở Trung Đông
ngày càng gay gắt, các cuộc khủng bố nổ ra ở khắp nơi, đặc biết vụ khủng bố
ngày 11/9 vừa qua ở Mỹ làm cho tình hình chính trị kinh tế thế giới biến động
không ngừng. Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có môi trường
chính trị ổn định nhất.
Về kinh tế tương đối ổn định, có khả năng kiểm soát lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô, tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc loại cao trên thế giới (năm 2001 tốc
độ tăng trưởng là 7%). Đặc biệt trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu
vực Đông Nam ở năm 1997, Việt Nam là nước ít chịu ảnh hưởng nhất, điều đó
chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam khá ổn định, những điều chỉnh kinh tế vĩ mô là
hợp lý.
Môi trường kinh tế - chính trị ổn định tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư
nước ngoài về những rủi ro do biến động kinh tế, chính trị. Đây chính là điểm
mạnh để ta tích cực khai thác dòng FDI vào Việt Nam.
2.3 Luật đầu tư nước ngoài ngày càng hoàn thiện .
Thực hiện đường lối mở cửa, phát triển mạnh kinh tế đối ngoại, luật đầu tư
nước ngoài của Việt Nam đó được ban hành từ thỏng 12 năm 1987 trải qua hơn
10 năm đớ vào thực tiễn cuộc sống, đầu tư nước ngoài (FDI) đó phát huy nhiều
tác dụng như chúng ta đó thu hút được 3672 dự án, tổng vốn đăng ký 41603,8
triệu USD với tổng số vốn pháp định 19617,8 triệu USD; thu hút được khoảng
Ngoài những lĩnh vực này, nhà đầu tư nước ngoài được chủ động lựa chọn dự
án đầu tư, hình thức đầu tư, đối tác đầu tư, địa bàn, thời hạn đầu tư, thị trường
tiêu thụ sản phẩm, tỷ lệ gúp vốn pháp định phù hợp với quy định của luật đầu tư
nước ngoài. Đối với hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác
kinh doanh, để tạo điều kiện cho triển khai các dự án và cho các nhà đầu tư
nước ngoài , nghị định 24/2000/NĐ-CP quy định rằng trong quá trình kinh
doanh, nếu xét thấy cần thiết các bên hợp doanh có thể thỏa thuận thành lập ban
điều phối để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật đầu tư nước ngoài thì các
doanh nghiệp liên doanh không bắt buộc phải lấy ý kiến thống nhất của hội
đồng quản trị đối với quyết định liên quan đến bổ nhiệm và miễn nhiệm kế toán
trưởng, chấp thuận báo cáo tài chính, chi phí hàng năm và vay vốn đầu tư. Sự
điều chỉnh như trên tạo điều kiện lành mạnh hơn cho quá trính ra quyết định của
nhà đầu tư.
Theo luật mới sửa đổi thí doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên
hợp doanh thực hiện dự án đầu tư không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện về
hình thức đầu tư được chuyển đổi hình thức đầu tư.
Như vậy, với việc xây dựng và sửa đổi luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam
ngày càng hoàn thiện, thông thoáng, tạo thế chủ động và có lợi cho đối tác đầu
tư, làm cho môi trường đầu tư của Việt Nam ngày càng trở nên hấp dẫn hơn.
2.4 Môi trường đối với đầu tư nước ngoài ngày càng thông thoáng.
Chính phủ Việt Nam đã có nhiều thay đổi trong các chính sách đối với đầu tư
nước ngoài theo hướng có lợi hơn cho đối tác. Với mục đích đẩy nhanh tốc độ
thực hiện các dự án đã đăng ký trên tinh thần coi trọng vốn thực hiện hơn vốn
đăng ký, nghị định số 10 và chỉ thị số 11 của Chính phủ ra đời nhằm phát huy
nội lực, tận dụng FDI làm mọi việc giúp các nhà đầu tư yên tâm, trụ vững ở
Việt Nam trong hoàn cảnh khó khăn. Thời điểm bắt đầu là sau hội nghị đầu tiên
của Chính phủ và các nhà đầu tư nước ngoài vào khoảng tháng 2/1998, Nhà
nước chủ trương xóa bỏ một số thủ tục hành chính rườm rà như việc cấp giấy
phép đầu tư, thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh... thời gian làm thủ
nhiều thập kỉ liên quan đến phát triển các vùng biên giới. Những ưu đãiđó và
các biện pháp khác được tiến hành với tốc độ khẩn trương nhất, một tín hiệu
của thiện chí và cam kết của chính phủ để giúp cho các doanh nghiệp nước
ngoài làm ăn tại Hàn Quốc.
Còn có những ví dụ thành công khác : nhà bán lẻ của Anh(Tesco) đã làm
ăn rất có hiệu quả tại Hàn Quốc chiếm tới 1/3 doanh thu ở nước ngoài của nhà
bán lẻ này; hoạt dộng xuất sắc của GM Daewoo. Công ty này trong quý I 2006
một lần nũa trở thành nhà sản xuấtô tô thứ hai của Hàn Quốc. Đây là một tiến
bộ to lớn vĩ đại chỉ trong vòng bốn năm. Trên thực tế GM Daewwo hoạt động
tốt cũng là để giúp cho tăng cường cho hình ảnh của hãng GM ở Châu á hy
vọng đạt 11 tỷ đô la Mỹ DTNN năm 2006- mức tương đương năm 2005. Bên
cạnh các lĩnh vực thông thường như tài chính và bảo hiểm, còn có các khu vực
khác mà các nhà đầu tư đang quan tâm trong lĩnh vực thiết bị nghiên cứu phát
triển, trung tâm giao vận và trụ sở các tập đoàn đa quốc gia. Các công ty sản
xuất nguyên vật liệu cũng rất quan tâm tới lĩnh vực điện tử phát triển cao của
Hàn Quốc. Sự quan tâm của các nhà đầu tư trong lĩnh vực này là đương nhiên
khi xem xét tới Đầu tư nghiên cứu và phát triển ( R & D) khổng lồ của Hàn
Quốc hàng năm, giúp cho Hàn Quốc đứng thứ 10 hàng năm. Việc công hiên
như vậy đã đem lại nhiều thành tựu trong nhiều lĩnh vực. Trong năm 2005, Hàn
Quốc đứng thứ 6 xét về số lượng xin cấp bằng phát minh sáng chế quốc tế nộp
tại tổ chức sở hữu trí tuệ (WIPO)
Nắm bắt được tầm quan trọng của đầu tư đối với tương lai của đất nước, Hàn
Quốc quyết tâmthực hiện tất cả những gì có thể để thoả mãn nhu cầu của nhà
Đầu tư . Hàn Quốc đang thực thi những biện pháp nhằm trợ giúp cải tiến môi
trường kinh doanh. Khu mới Invest Plaza ở Nam Seoul được hy vọng để giúp
đỡ các doanh nghiệp có Đầu tư nước ngoài thâm nhập dễ dàng vào nền kinh tế.
Có nhiều chương trình tới các nhà đầu tư tiềm năng, chương trình quan trọng
nhất là những tư vấn thực hiện và trợ giúp ban đầu cho các doanh nghiệp chuẩn
bị hoạt động tại Hàn Quốc. Plaza đạt mục tiêu trở thành địa chỉ dịch vụ một cửa
cho các nhà Đầu tư : nhà quản lí dự án sẽ giúp mọi thứ từ việc tìm ra địa điểm
tăng cường các quy chế giám sát thị trường và xây dựng một hệ thống cảnh báo
sớm. Chính phủ đã vạch ra các kế hoạch phát triển thị trường trung tâm và dài
hạn trong tháng 4 năm 2002 để biến Hàn Quốc trở thành một đất nước thân
thiệnvới kinh doanh và biến thi trường ngoại hối Hàn Quốc trở thành một trung
tâm tài chính Đông á. Những kế hoạch này sẽ được triển khai cho tới năm 2011
theo ba giai đoạn. Theo đó, nhiều hạn chế được áp dụng trong giai đoạn một và
hai cuă quá trình tự do hoá ngoại hối sẽ được bỏ dỡ trong năm 2011.
Trong năm 2002, thủ tục cấp phép của ngân hàng trung ương Hàn Quốc đã bị
bãi bỏ và các thủ tục giấy tờ cho giao dịch tài chính cá nhân và công ty đã được
đơn giản hoá. Cùng lúc này, quá trình lưu chuyển vốn đã được tự do hơn nhiều.
Nhằm phục hồi DTNN , Chính phủ đã tích cực làm việc về tự do hoá kể từ năm
2005. Ví dụ như nới lỏng các luật lệ về DTNN trực tiếp và việc mua bán bất
động sản ở nước ngoài bởi công dân Hàn Quốc . Trong năm 2006, tất cả các
giao dịch vốn được chuyển từ một hệ thống cấp phép sang một hệ thống báo cáo
đơn giản cho tự do hoá việc tái Đầu tư
II. Thực trạng Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Hàn Quốc vào Việt
Nam
1. Tổng quan về FDI của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua
Năm 2006, Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã đạt mức cao nhất trong
quá trình thu hút Đầu tư nước ngoài của chính phủ Việt Nam với 7,48 tỉ USD.
Đầu tư nước ngoài vào ngành Công nghiệp của Việt Nam trong năm 2006
chiếm 67,2%, trong đó Đầu tư cho nghành Công nghiệp nhẹ chiếm tới 79%,
Đầu tư nhằm mục tiêu sử dụng nguồn lao động rẻ vẫn chiếm tỉ lệ cao, ngoài
Đầu tư trong các ngành dịch vụ, kinh doanh khách sạn và du lịch, xây dựng
chung cư, văn phòng cũng chiếm tỉ lệ lớn.
Từ giai đoạn 1988 đến 2006 vốn Đầu tư thực hiện chiếm 47,6 tổng số vốn
Đầu tư .
Về địa bàn Đầu tư thì khu vực phía Nam vẫn thu hút chủ yếu và lớn nhất cả
nước, chiếm đến 67% tổng số vốn Đầu tư nước ngoài, còn lại là các địa phương
khác.