Một số vấn đề lý luận chung về rủi ro và phòng ngừa,
hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của các
Ngân hàng thơng mại
___________
1.1- Rủi ro tín dụng, sự cần thiết phải phòng ngừa và hạn chế rủi ro
tín dụng của Ngân hàng thơng mại trong nền kinh tế thị trờng:
1.1.1- Sự ra đời của Ngân hàng thơng mại ở Việt Nam:
Việt Nam là một nớc nông nghiệp lạc hậu, thơng mại kém phát triển nên
đến mãi thế kỷ XIX mới xuất hiện Ngân hàng đầu tiên: Ngân hàng Đông Dơng
của Pháp, Ngân hàng này hoạt động phục vụ cho ý đồ thống trị của Thực dân
Pháp ở Đông Dơng. Tên gọi có thay đổi nhng chức năng vẫn là quản lý Nhà nớc
về tiền tệ - tín dụng ngân hàng, chịu trách nhiệm phát hành tiền quốc gia và các
nghiệp vụ tiền tệ, tín dụng và Ngân hàng.
Đến tháng 5 năm 1951 Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh thành lập Ngân hàng quốc
gia Việt Nam.
Thực hiện đờng lối đổi mới toàn diện của Đảng, ngành Ngân hàng đã đi
đầu trong sự nghiệp vĩ đại này. Đánh dấu sự đổi mới của Ngân hàng là sự ra đời
Nghị định 53 của HĐBT, tháng 7/1988 chuyển hệ thống Ngân hàng từ hệ thống
một cấp thành hệ thống Ngân hàng hai cấp. Trong đó Ngân hàng Nhà nớc làm
nhiệm vụ quản lý và các Ngân hàng chuyên doanh thực hiện kinh doanh tiền tệ,
tín dụng và Ngân hàng.
Tuy nhiên cho đến năm 1990 khi hai sắc lệnh Ngân hàng ra đời thì sự
nghiệp đổi mới Ngân hàng thực sự đi vào chiều sâu, chức năng quản lý nhà nớc
của Ngân hàng nhà nớc và chức năng kinh doanh của Ngân hàng thơng mại thực
sự đợc quy định rõ ràng. Ngân hàng Nhà nớc cấp chỉ đạo quản lý trên bình diện cả
nớc về tín dụng, thanh toán Ngân hàng cả về đối nội và đối ngoại, Ngân hàng Th-
ơng mại là cấp trực tiếp làm nghĩa vụ giao dịch đối với các doanh nghiệp và tổ
chức kinh tế để làm nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ.
Ngân hàng thơng mại là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và
- Với đặc tính dài hạn của cổ phiếu và trái phiếu là nguyên nhân thứ hai
làm nản lòng ngời tiết kiệm mua chứng khoán của công ty. Điều này có thể khiến
cho ngời tiết kiệm u tiên nắm giữ tiền mặt nhằm mục đích thanh khoản hơn là đầu
t vào các chứng khoán dài hạn nhất là khi họ có kế hoạch sử dụng khoản tiết kiệm
vào chi tiêu trong thời gian ngắn.
- Lý do cuối cùng đó là mặc dù trong thực tế, các chứng khoán cha mua
bán trên thị trờng thứ cấp tạo ra một độ thanh khoản nhất định cho tài sản, những
nhà đầu t thờng phải chịu rủi ro biến động giá cả của chứng khoán (nhất là cổ
phiếu) và phải chịu các chi phí chuyển nhợng có liên quan. Điều này dẫn đến thu
nhập thực tế từ việc chuyển nhợng chứng khoán trên thị trờng thứ cấp giảm đáng
kể và trong một số trờng hợp thu nhập còn thấp hơn giá mua chứng khoán ban
đầu.
Tóm lại: Những nguyên nhân chính làm cho quy mô các nguồn từ những
ngời đầu t tiết kiệm trực tiếp vào chứng khoán các công ty thấp là do: chi phí để
giám sát hoạt động của công ty là lớn; chi phí chuyển nhợng (thanh khoản) các
chứng khoán công ty rất cao và rủi ro biến động chứng khoán trên thị trờng.
Trong một thế giới mà hệ thống Ngân hàng không tồn tại, thì những
nguyên nhân nêu trên làm cho dân chúng giảm động lực tiết kiệm, tăng chi tiêu
hoặc tiết kiệm ở dạng tiền mặt. Tuy nhiên, chúng ta đang sống trong một thế giới
mà ở đó hệ thống Ngân hàng phát triển mạnh mẽ và đợc coi nh bộ xơng sống của
nền kinh tế. Hệ thống Ngân hàng cung cấp một kênh dẫn vốn gián tiếp từ những
ngời có nhu cầu đầu t đến các công ty. Do tồn tại các nguyên nhân nh nêu trên
cho nên ngời tiết kiệm thờng u tiên gửi tiền vào Ngân hàng hơn là đầu t trực tiếp
vào các công ty.
1.1.3 - Vai trò tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trờng:
Sự ra đời và phát triển của tín dụng ngân hàng:
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã khởi đầu cho cuộc sống đổi mới nền
kinh tế đất nớc chuyển từ cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp
sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng để xây dựng một nền kinh tế
nội dung và ý nghĩa tơng đơng nhau. Chúng ta có thể hiểu một cách khái quát
rằng. Tín dụng là sự chuyển nhợng tạm thời một lợng giá trị từ ngời sở hữu sang
ngời sử dụng và sau một thời gian nhất định quay về ngời sở hữu với lợng giá trị
lớn hơn.
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài ngời, tín dụng đã ra đời và tồn tại
cùng với sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá. Nó là phạm trù kinh tế đồng
thời là phạm trù lịch sử gắn liền với mỗi phơng thức sản xuất, nhng dù ở phơng
thức sản xuất nào: T bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa thì tín dụng ngân hàng
cũng là t i sản quan trọng không chỉ đối với hoạt động của bản thân Ngân hàng
mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trờng.
Trong nền kinh tế nhiều thành phần nh ở nớc ta hiện nay, tín dụng Ngân
hàng không chỉ là "cầu nối" giữa những nơi thừa vốn và nơi thiếu vốn. Bằng việc
huy động và cho vay, tín dụng ngân hàng đã điều hoà linh hoạt vốn giữa các đơn
vị, các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế có hình thức sở hữu khác nhau.
Thông thờng nhà nớc sử dụng nguồn thu ngân sách để cấp cho các tổ chức kinh tế
thuộc quyền sở hữu nhà nớc mà không cấp cho các tổ chức kinh tế ngoài quốc
doanh. Do vậy không thể thông qua ngân sách để điều hoà vốn thuộc các quyền
sở hữu khác ấy với nhau. Chỉ có tín dụng ngân hàng mới có thể tận dụng đợc mọi
nguồn vốn tạm thời cha sử dụng phục vụ cho mối quan hệ qua lại không thể thiếu
đợc giữa kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể và các thành phần kinh tế khác mà
không xâm phạm đến quyền sở hữu vốn đó. Sự gắn bó tất yếu trên phạm trù tín
dụng với quyền sở hữu khác nhau về vốn càng khẳng định việc điều hoà vốn giữa
các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần sở hữu khác nhau thông qua phạm trù
tín dụng là cần thiết.
Thực hiện việc tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng ngân hàng đã
tạo điều kiện tiến hành bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận giữa các ngành sản xuất
vật chất. Thực hiện điều hoà vốn tín dụng ngân hàng đã chuyển dịch t bản từ các
ngành sản xuất có lợi nhuận thấp sang các ngành sản xuất cho lợi nhuận cao hơn.
Đó cũng là sự đáp ứng đòi hỏi mang tính chất khách quan của các nhà t bản trong
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng lớn, nó đóng vai trò quan trọng
đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng /nh toàn bộ nền kinh tế.
Cùng với ngân sách Nh n ớc, tín dụng ngân hàng là nguồn hỗ trợ vốn chủ yếu
cho việc hình thành lên vốn cố định và vốn lu động của các doanh nghiệp, đảm
bảo thoả mãn nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh một cách hợp lý và linh
hoạt tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm,
tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới công
nghệ... Nh vậy, tín dụng ngân hàng thực sự là nhân tố không thể thiếu đợc trong
quá trình quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp và nền kinh tế.
1.1.4 - Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thơng mại:
Huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế và dân c:
Đây là nhiệm vụ đặc trng của Ngân hàng thơng mại đồng thời là nghiệp vụ
có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tăng trởng và phát triển của Ngân hàng.
Ngân hàng thơng mại có thể huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân c
và các tổ chức kinh tế bằng nhiều hình thức, thời gian và lãi suất khác nhau đó là:
- Huy động vốn của các tổ chức kinh tế.
- Huy động tiền gửi tiết kiệm.
- Huy động tiền gửi kỳ phiếu, trái phiếu.
Ngoài các hình thức huy động trên, các Ngân hàng thơng mại còn có thể
vay vốn của Ngân hàng Trung ơng và các tổ chức tín dụng khác khi có nhu cầu.
Nghiệp vụ tín dụng:
Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận nhất
cho Ngân hàng thơng mại và cũng là hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thơng
mại. Chính vì vậy hoạt động này mang ý nghĩa quyết định đối với Ngân hàng th-
ơng mại. Tín dụng là một nghiệp vụ trong đó một thể nhân hay một pháp nhân
(gọi là ngời cho vay). Để một ngời khác (gọi là ngời đi vay) sử dụng một số tiền,
với cam kết hoàn trả gốc và lãi đúng hạn đã cam kết xong hoạt động tín dụng.
Nghiệp vụ thanh toán hộ khách hàng:
Đây là nghiệp vụ của Ngân hàng thơng mại xuất phát từ việc Ngân hàng
mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng, qua đó khách hàng uỷ quyền
Nghiệp vụ thanh
toán cho khách hàng
Cho vay
sản xuất
Nghiệ
p vụ
tín
dụng
Cho vay
tiêu dùng
Nghiệp vụ thanh
toán cho khách hàng
Nghiệp vụ thanh
toán cho khách hàng
Tham
gia thị
trờng
ngoại
hối
Nghiệp vụ của
ngân hàng th-
ơng mại
Tham gia
cung cấp
ngoại tệ
KD ngoại
hối
Tham gia thị trờng
chứng khoán
Tham gia thị trờng
liên quan đến sự xuất hiện một biến cố không mong đợi.
Theo Mark - Hurt - Mecarly - Học giả Anh (1986): Rủi ro là một tình trạng
trong đó các biến cố xẩy ra trong tơng lai có thể xác định đợc.
Tuy có nhiều các định nghĩa khác nhau, song chúng đều khẳng định đợc
rằng, rủi ro là những sự kiện diễn ra ngoài ý muốn của con ngời, nó thờng đem
đến những hậu quả xấu. Rủi ro xuất hiện bất cứ lúc nào, bất cứ lĩnh vực nào của
đời sống kinh tế xã hội. Trong hoạt động Ngân hàng rủi ro là mối đe doạ tổn thất
một phần nguồn vốn của mình, không đạt đợc các khoản thu nhập hay đòi hỏi các
khoản chi phí bổ sung để thực hiện các nghiệp vụ tài chính nhất định. Rủi ro còn
là những thiệt hại xẩy ra gắn liền với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thơng
mại.
Tất cả các nhà khoa học nghiên cứu về rủi ro đều thừa nhận: Không một
ngành kinh doanh nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại nhiều nh kinh doanh tín
dụng. Chính vì vậy, mà các Ngân hàng thơng mại đặc biệt cần phải quan tâm
nghiên cứu, nhận biết, phân biệt rủi ro để hạn chế rủi ro tới mức thấp nhất.
1.2.1.2 - Phân loại rủi ro:
Rủi ro luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cho nên có
ngời đã gọi nghề Ngân hàng là nghề kinh doanh rủi ro và mạo hiểm. Ngời ta cũng
khẳng định rằng hơn mọi doanh nghiệp khác, Ngân hàng phải đối phó với nhiều
loại rủi ro từ nhiều phía.
- Rủi ro tín dụng.
- Rủi ro thiếu vốn khả dụng.
- Rủi ro lãi suất
- Rủi ro hối đoái
- Rủi ro tín dụng quốc tế và ngoại thơng.
- Rủi ro mất khả năng thanh toán
Rủi ro tín dụng.
Đây là loại rủi ro chủ yếu, thờng gặp nhất, gắn liền với hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng thơng mại. Đến nay cha có một văn bản nào hớng dẫn có
thể loại bỏ đợc rủi ro. Rủi ro tín dụng là rủi ro không thu đợc nợ khi đến hạn. Việc
các khoản cho vay tín dụng qua đồ thị sau:
Xác suất (P)