GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN VAY VỐN NGÀNH BAO BÌ TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH BA ĐÌNH - Pdf 74

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN VAY VỐN
NGÀNH BAO BÌ TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI
NHÁNH BA ĐÌNH
Qua thực tế phân tích và đánh giá công tác thẩm định dự án vay vốn ngành bao bì
tại Ngân hàng Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình, chúng ta thấy rằng Ngân
hàng đã và đang có nhiều cố gắng để thực hiện tốt hơn công tác này. Trong điều kiện
hiện nay, khi nền kinh tế ở thời kỳ quá độ, hoạt động của Ngân hàng ngày càng giữ vai
trò quan trọng trong công cuộc Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa của đất nước, thì yêu
cầu cần phải có những biện pháp tích cực và cụ thể hơn nữa nhằm nâng cao vai trò và
hiệu quả của công tác thẩm định tại Ngân hàng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu là một
điều rất cần thiết. Để góp phần cùng Ngân hàng khắc phục những tồn tại trên, em xin
đưa ra một số ý kiến sau:
2.1. Định hướng công tác thẩm định các dự án đầu tư tại Ngân hàng trong thời
gian tới
2.1.1. Phương hướng phát triển công tác thẩm định dự án đầu tư trong thời gian tới
- Công tác thẩm định đầu tư phải xuất phát từ tình hình kinh tế - xã hội của đất
nước trong từng thời kỳ và từ thực tiễn cho vay của chính chi nhánh. Ngân hàng cần
hợp lý hóa các chính sách của mình cũng như các chính sách vĩ mô của nhà nước. Các
chính sách của Ngân hàng đưa ra cũng chưa đạt được sự hoàn hảo, do đó, để nâng cao
công tác thẩm định nói riêng, Ngân hàng cần đề ra trong thời gian tới sẽ điều chỉnh
thích hợp để hạn chế tối đa sự bất hợp lý tring hệ thống chính sách của mình, nhất là
chính sách về lãi suất.
- Ngân hàng ngày càng cố gắng hoàn thiện công tác khai thác thông tin từ nhiều
nguồn để chính xác hóa các thông tin sử dụng trong công tác thẩm định dự án đầu tư,
điều này phụ thuộc rất lớn vào độ chính xác của thông tin nên việc nâng cao chất lượng
thông tin là một đòi hỏi khách quan, cấp bách. Chúng ta biết rằng, thông tin sẽ được
chính xác hơn nếu được kiểm tra từ nhiều nguồn. Điều đó nói lên rằng. nên tránh sử
dụng thông tin một chiều, nghĩa là ngoài những dữ liệu do doanh nghiệp xin vay trình
ra, cán bộ tín dụng phải triệt để tận dụng các nguồn thông tin khác như thông tin điều
tra trực tiếp, thông tin do mối quan hệ khách hàng lâu dài và thông tin từ các nguồn bên
ngoài.

quyền hạn ra quyết định cho vay, nâng cao trách nhiệm của cán bộ thẩm định, dễ dàng
phân trách khi có sai sót xảy ra.
b) Về nội dung thẩm định
Nếu như trước đây, công tác thẩm định hầu như chỉ chủ yếu xem xét khía cạnh
tài chính thì đến nay nội dung thẩm định đã tính đến các khía cạnh khác nhau của một
dự án, đó không chỉ là việc đơn thuần tính toán các chỉ tiêu tài chính mà còn xem xét tư
cách pháp lý của người vay; xem xét các yếu tố đầu vào, đầu ra của dự án; phân tích rủi
ro mang tính thị trường. Không những thế còn thẩm định về phương diện kinh tế, kỹ
thuật, tổ chức và môi trường. Vậy nội dung thẩm định đã có sự thay đổi theo chiều
hướng tích cực, phù hợp với tiêu chuẩn chung, với đòi hỏi phát triển của nền kinh tế thị
trường.
c) Về phương pháp thẩm định
Các phương pháp ngân hàng sử dụng trong quá trình thẩm định ngày càng khoa
học và hiện đại. Các phương pháp này được áp dụng một cách linh hoạt tuỳ theo tính
chất của dự án và lượng thông tin mà cán bộ thẩm định thu thập được.
Mặt đáng nói ở đây là ngân hàng đã chuyển từ phương pháp phân tích tài chính
trong trạng thái tĩnh sang trạng thái động. Cụ thể là việc áp dụng phương pháp phân tích
độ nhạy của các chỉ tiêu phân tích dự án trong trạng thái động, các yếu tố biến động
theo hướng bất lợi để đánh giá tính vững chắc của dự án trong trường hợp có rủi ro.
Phương pháp này giúp các cán bộ thẩm định có thể lương trước được các kịch bản có
thể xảy ra và đánh giá lại hiệu quả của dự án từ đó có thể đưa ra nhận xét về mức độ an
toàn, vững chắc của dự án trong điều kiện bất lợi của dự án. Vì vậy sẽ giảm được hậu
quả rủi ro mất khả năng thu hồi vốn của ngân hàng.
Mặt khác việc áp dụng Excel vào tính toán các chỉ tiêu hiểu quả tài chính và
phân tích độ nhạy, khiến cho việc tính toán, phân tích nhanh hơn, chính xác hơn tạo
thuận lợi cho cán bộ thẩm thẩm định rút ngắn thời gian tính toán.
e) Về cán bộ thẩm định
Đội ngũ cán bộ thẩm định của chi nhánh ngày càng được nâng cao về năng lực,
trình độ, gia tăng về dân số.
Phần lớn cán bộ thẩm định đều có trình độ từ đại học trở lên, đều là những người

Không những thế, trong điều kiện hiện nay, các cán bộ thẩm định được trang bị và
hỗ trợ khá tốt với những phương tiện làm việc cần thiết như máy tính nối mạng, điện
thoại giúp cho cán bộ thẩm định nhanh chóng thu thập được những thông tin cần thiết,
rút ngắn thời gian thẩm định.
Đặc biệt, ngân hàng Công thương Việt Nam đã triển khai thành công dự án hiện
đại hoá Ngân hàng cho toàn hệ thống từ Trụ sở chính đến các Chi nhánh, trong đó có
chi nhánh NHCT Ba Đình. Dự án này đã xây dựng chiến lược và kế hoạch lưu trữ dữ
liệu phù hợp với công nghệ lưu trữ hiện đại, nâng cấp đường truyền thống nối các chi
nhánh Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh với trụ sở chính.
2.1.2.2. Điểm yếu
a) Về thông tin
Để có những kết quả tính toán chính xác về hiệu quả dự án đầu tư thì phải dựa trên
những thông tin, số liệu đầy đủ, có chất lượng, chính xác về dự án trên nhiều mặt, nhiều
góc độ khác nhau. Chất lượng và sự đầy đủ những thông tin này phụ thuộc một phần
vào việc lập, thẩm định dự án đầu tư của chủ dự án và cung cấp thông tin của các chủ
thể liên quan khác.
Nhưng thực tế, trong quá trình thẩm định các dự án đầu tư, cán bộ tín dụng chỉ có
một nguồn thông tin duy nhất do khách hàng cung cấp. Vì chỉ là nguồn thông tin một
chiều nên mức độ chính xác của nó không cao. Khách hàng có thể nộp cho Ngân hàng
những báo cáo không trung thực, phân tích sai lệch thực trạng sản xuất kinh doanh của
đơn vị họ hoặc dự án chứa đựng số liệu không chính xác.
Nhưng vì nguồn hàng có rất ít cơ hội tìm kiếm các nguồn thông tin khác để kiểm
chứng nên rất khó khăn cho công tác thẩm định, có thể dẫn đến quyết định cho vay
không đúng đắn.
Mặt khác, nền kinh tế nước ta mới chuyển sang nền kinh tế thị trường nên các tài
liệu về dự án đầu tư phần lớn là của nước ngoài. Do đó các khái niệm, thuật ngữ được
đề cập đến trong dự án là khá mới mẻ đối với các chủ đầu tư, nên không thể tránh khỏi
sự thiếu nhất quán trong sử dụng. Thị trường tư vấn nước ta lại chưa phát triển nên hầu
hết các dự án đầu tư đều do các lực lượng của chủ đầu tư với trình độ còn nhiều hạn
chế lập ra. Kết quả là các dự án được lập không đầy đủ, chưa chính xác, thiếu thông tin

có liên quan đến dự án. Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, đa số các dự án chưa được
phân tích kỹ càng, xử lý toàn diện, bản thẩm định vẫn còn sơ sài. Tính khả thi của dự án
được đánh giá chủ yếu dựa vào kết quả phân tích, tính toán trên phương diện tài chính
mà thôi. Điều đó dẫn đến kết quả của việc thẩm định không đầy đủ, chính xác, và có
thể dẫn đến những quyết định đầu tư sai lầm, gây hậu quả nghiêm trọng không lường
trước được.
Hiện nay, tuy các cán bộ tín dụng đã có nhiều nỗ lực đáng kể nhưng hiệu quả chưa
thực sự cao. Chẳng hạn, thẩm định doanh nghiệp vay vốn về hoạt động sản xuất kinh
doanh chưa được chú trọng. Công doạn này nếu tiến hành đầy đủ theo yêu cầu sẽ chiếm
nhiều thời gian và công sức, đặc biệt là với khách hàng mới có quan hệ với ngân hàng.
Tuy nhiên, trên thực tế Ngân hàng chưa quan tâm đúng mức tới khâu thẩm định tài
chính doanh nghiệp vay vốn mà chỉ dừng lại ở mức nêu ra và chỉ tiêu chung nhất,
không kèm theo nhận xét, đánh giá trong biên bản báo cáo thẩm định. Bước thẩm định
này không những cho ta cái nhìn bao quát về tình hình doanh nghiệp mà còn là cơ sở
cho việc kiểm nghiệm sự đúng đắn của các khoản mục nêu ra trong dự án. Tình hình tài
chính doanh nghiệp vay vốn trong quá khứ thực sự là quan trong và liên quan mật thiết
tới hoạt động tương lai của doanh nghiệp nói chung trong đó có dự án.
- Thị trường là nơi tiêu thụ sản phẩm, tạo ra nguồn thu cho dự án và đảm bảo trang trải
nợ cho Ngân hàng. Việc đánh giá khả năng cạnh tranh, khả năng tiêu thụ của các dự án
lên quan tới nhiều vấn đề đòi hỏi ở cán bộ tín dụng khả năng phân tích tổng hợp và óc
phán đoán mới nắm bắt được tình hình.
Yêu cầu này thực sự không đơn giản, nhất là đối với sản phẩm mới xuất hiện hoặc
chưa có trên thị trường. Về mặt này, việc thẩm định còn quá sơ sài, thiếu chính xác,
thậm chí mang tính lấy lệ là chủ yếu.
Về phương diện kỹ thuật cũng xảy ra tình trạng tương tự, thực ra cán bộ tín dụng
đâu phải là chuyên gia kỹ thuật mà trái lại họ chỉ có chuyên môn về kinh tế, về tài
chính, ở lĩnh vực này ngân hàng hầu như không có mấy kinh nghệm, chủ yếu vẫn phải
dựa vào phân tích kỹ thuật trong luận chứng kinh tế ký thuật mà doanh nghiệp đưa ra.
Cán bộ tín dụng không xác định chính xác được tính tiên tiến của máy móc thiết bị,
chưa xác định được máy móc công suất có trong dự án có phù hợp với nhà máy hay

2.1.2.3. Cơ hội
Một là: Hội nhập quốc tế sẽ làm tăng uy tín và vị thế của hệ thống ngân hàng
Việt Nam nói chung và Chi nhánh nói riêng, nhất là trên thị trường tài chính khu vực.
Hội nhập là cơ hội để Chi nhánh tăng cường phối hợp với các NHTW và các tổ
chức tài chính quốc tế về chính sách tiền tệ, trao đổi thông tin và ngăn ngừa rủi ro, qua
đó hạn chế biến động của thị trường tài chính trong nước và đảm bảo an toàn cho hệ
thống ngân hàng Việt Nam. Hệ thống NHTM và thị trường tiền tệ hoạt động an toàn và
hiệu quả sẽ tạo thuận lợi cho việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính sách tiền tệ.
Hội nhập quốc tế sẽ thúc đẩy cải cách thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật và
nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan quản lý tài chính, loại bỏ các biện pháp
bảo hộ, bao cấp vốn, tài chính đối với các NHTM trong nước, hạn chế tình trạng ỷ lại,
trông chờ vào sự hỗ trợ của NHNN và Chính phủ.
Đối với các TCTD, hội nhập quốc tế là động lực thúc đẩy cải cách, buộc Chi
nhánh phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường, khắc phục những nhược điểm còn tồn
tại, đồng thời phải tăng cường năng lực cạnh tranh trên cơ sở nâng cao trình độ quản trị
điều hành và phát triển dịch vụ ngân hàng. Trong quá trình hội nhập và mở cửa thị
trường tài chính trong nước, khung khổ pháp lý sẽ hoàn thiện và phù hợp dần với thông
lệ quốc tế, dẫn đến sự hình thành môi trường kinh doanh bình đẳng và từng bước phân
chia lại thị phần giữa các nhóm ngân hàng theo hướng cân bằng hơn, thị phần của
NHTMNN có thể giảm và nhường chỗ cho các nhóm ngân hàng khác, nhất là tại các
thành phố và khu đô thị lớn. Tùy theo thế mạnh của mỗi ngân hàng, sẽ xuất hiện những
ngân hàng hoạt động theo hướng chuyên môn hóa như ngân hàng bán buôn, ngân hàng
bán lẻ, ngân hàng đầu tư, đồng thời hình thành một số ngân hàng qui mô lớn, có tiềm
lực tài chính và kinh doanh hiệu quả. Kinh doanh theo nguyên tắc thị trường cũng buộc
các tổ chức tài chính phải có cơ chế quản lý và sử dụng lao động thích hợp, đặc biệt là
chính sách đãi ngộ và đào tạo nguồn nhân lực nhằm thu hút lao động có trình độ, qua
đó nâng cao hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh trên thị trường tài chính.
Mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng và nới lỏng hạn chế đối với các tổ chức tài
chính nước ngoài là điều kiện để thu hút đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực tài chính – ngân
hàng, Chi nhánh có điều kiện để tiếp cận sự hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn, đào tạo thông qua

động xấu từ bên ngoài. Thị trường xuất khẩu bị co hẹp, hoạt động sản xuất kinh doanh,
tiêu thụ hàng hóa của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, đà tăng trưởng kinh tế
giảm. Thị trường bất động sản khó có khả năng phục hồi sớm, là một trong những yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến việc mở rộng tín dụng, chất lượng tín dụng cũng như thu
hồi nợ xấu (do tài sản đảm bảo của các Ngân hàng thương mại chủ yếu là bất động sản).
Sự có mặt của các Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài sẽ đẩy mạnh mức độ
cạnh tranh giữa các Ngân hàng mạnh mẽ.
Áp lực cạnh tranh quốc tế là thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp Việt
Nam nói chung, với Chi nhánh NHCT Ba Đình nói riêng. Lĩnh vực tài chính Ngân hàng
là lĩnh vực chịu tác động đầu tiên và mạnh mẽ nhất khi nước ta gia nhập WTO. Thị
trường tài chính sẽ càng trở nên sôi động khi các công ty bảo hiểm, các Ngân hàng lớn
của nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam .
Những giao dịch mới ngày càng nhạy cảm và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho công tác
thẩm định dự án đầu tư trong khi đó khách hàng ngày càng đòi hỏi chất lượng phục vụ
tốt hơn.
Sự phát triển nhanh chóng của hệ thống NHTM gây nên một sự thiếu hụt về nguồn
nhân lực. Đây sẽ là bài toán khó nếu Chi nhánh không có được chính sách thu hút và
đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên phù hợp.
Hai là: Khi khách hàng nhận khoản giải ngân từ ngân hàng, họ sẽ dùng đồng vốn
vào mục đích kinh doanh như: Đầu tư vào dây chuyền sản xuất, đầu tư mua nguyên vật
liệu…
Trong quá trình sản xuất kinh doanh tất yếu sẽ phát sinh những rủi ro không mong
muốn mà đôi khi các doanh nghiệp không lường trước được như:
+ Rủi ro do nền kinh tế không ổn định.
Khi tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh, bao giờ doanh nghiệp cũng tiến hành
đánh giá tình hình thị trường cũng như đưa ra những dự báo phát triển thị trường, dự
báo tăng trưởng doanh số. Nếu nền kinh tế thế giới cũng như nền kinh tế quốc nội vận
hành theo quỹ đạo đã dự báo thì doanh nghiệp sẽ thực hiện tốt các kế hoach đề ra.
Tuy nhiên, ta biết rằng: Nền kinh tế nước ta hiện giờ đang phụ thuộc nhiều vào
các ngành sản xuất nông nghiệp và các ngành công nghiệp phục vụ nông nghiệp. Mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status