Quan điểm và giải pháp tiếp tục đổi mới cơ chế quản
lý hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Việt Nam
3.1. Quan điểm đổi mới cơ chế quản lý hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam
Trên cơ sở Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng
sản Việt Nam đã xác định :
Trong 5 năm tới hình thành tơng đối đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế
thị trờng định hớng Xã hội chủ nghĩa, khắc phục yếu kém, tháo gỡ những vớng
mắc.
Đổi mới sâu rộng cơ chế quản lý kinh tế, phát huy những yếu tố tích cực
của cơ chế thị trờng, triệt để xoá bỏ bao cấp trong kinh doanh, tăng cờng vai trò
quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nớc [ 60, tr 101 ] . Trong đó:
Xây dựng hệ thống ngân hàng thơng mại đáp ứng nhu cầu tín dụng, cung
ứng các dịch vụ ngân hàng thuận lợi cho xã hội. Kiện toàn các ngân hàng thơng
mại Nhà nớc thành những doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ tự chủ, tự chịu trách
nhiệm, có uy tín, đủ sức cạnh tranh trên thị trờng. Xoá bỏ sự can thiệp hành chính
của các cơ quan Nhà nớc đối với hoạt động cho vay của các ngân hàng thơng mại
Nhà nớc. Nâng cao năng lực giám sát của Ngân hàng Nhà nớc và công tác kiểm
tra nội bộ của các ngân hàng thơng mại. Tách tín dụng u đãi theo chính sách khỏi
tín dụng thơng mại. Thực hiện chính sách tỷ giá linh hoạt theo cung cầu ngoại tệ,
từng bớc thực hiện tự do hoá tỷ suất hối đoái có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc.
[60, tr 104 ]
Quan điểm đổi mới hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam đợc
xác định:
1 1
3.1.1. Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh phải phù hợp
với lĩnh vực kinh doanh đặc thù: tiền tệ, tín dụng và phục vụ nông
nghiệp nông thôn;
Nhằm tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh
- Xác định rõ đối tợng và mục tiêu phục vụ chủ yếu là công nghiệp hoá
hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Thông qua chức năng của mình để xác
định đối tợng và mục tiêu phục vụ chủ yếu là các thành phần kinh tế thông qua
các cơ chế về tín dụng, về lãi suất, thủ tục, đặc biệt quan tâm đến vốn trung và
dài hạn đầu t phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh;
- Xác định rõ trách nhiệm tham gia hoạt động công ích trong phát triển
cộng đồng nhằm làm giảm tính phân cực trong kinh tế thị trờng theo hớng phong
phú, đa dạng và tuỳ từng điều kiện cụ thể.
3.1.2. Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh để góp phần
cùng với các ngân hàng thơng mại Nhà nớc giữ đợc vai trò chủ đạo
hoạt động kinh doanh ngân hàng [41, tr 6 - 11]:
Theo quan điểm này, NHNo&PTNT Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò của
một ngân hàng thơng mại quốc doanh trong việc thực hiện đờng lối đổi mới,
công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nớc ta gần 15 năm qua
theo hớng :
- Nông nghiệp chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá, phát triển toàn diện,
tăng trởng cao (tốc độ bình quân 4,2%/ năm). Nền nông nghiệp tự cung, tự cấp,
lạc hậu, thiếu lơng thực những năm qua chuyển hẳn sang nền sản xuất hàng hoá,
đảm bảo an ninh lơng thực quốc gia, có tỷ suất hàng hoá ngày càng lớn, có nhiều
mặt hàng xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thế giới nh gạo, cà phê, hồ tiêu, thuỷ
sản ... Hình thành một số vùng sản xuất nông nghiệp tập trung gắn với công
nghiệp chế biến; khoa học kỹ thuật ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp, góp
phần tăng giá trị sản xuất nông nghiệp và kim ngạch xuất khẩu.
- Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ nông thôn
phát triển, góp phần quan trọng làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn .
3 3
- Quan hệ sản xuất tiếp tục đổi mới một bớc theo hớng xây dựng nền sản
xuất hàng hoá với nhiều thành phần kinh tế tham gia, phát huy mạnh mẽ vai trò
kinh tế hộ ; đổi mới kinh tế hợp tác và hợp tác xã; doanh nghiệp Nhà nớc chi phối
những khâu then chốt; kinh tế t nhân phát triển trong tất cả những lĩnh vực không
triển lực lợng sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng phát huy
lợi thế của từng vùng để sản xuất hàng hoá quy mô lớn với chất lợng và hiệu quả
cao, bảo vệ môi trờng, phòng chống thiên tai, hạn chế thiên tai để phát triển bền
vững;
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn phải dựa vào nội
lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài, trên cơ sở
phát huy mọi tiềm năng của các thành phần: kinh tế hộ, kinh tế hợp tác, kinh tế t
nhân, liên kết với kinh tế Nhà nớc, trong đó kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo,
cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc trong quá trình
phát triển;
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn phải chú trọng
giải quyết các vấn đề xã hội nh: giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở những vùng nông thôn, nhất là
đồng bào các dân tộc ở các vùng sâu, vùng xa; giữ gìn phát huy truyền thống văn
hoá và thuần phong mỹ tục.
Quan điểm trên nhằm hớng vào sự phát triển hài hoà giữa công nghiệp và
nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa kinh
tế và xã hội, đảm bảo cho nớc ta phát triển bền vững, đoàn kết toàn dân, tăng c-
ờng khối liên minh công- nông- trí thức, xây dựng đất nớc theo định hớng Xã hội
chủ nghĩa .
3.1.3. Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh đảm bảo tính
đồng bộ, thống nhất trên cơ sở hoàn thiện các cơ chế quản lý cụ
thể và về mặt hoạt động trong nội bộ NHNo&PTNT:
- Mục tiêu lâu dài của NHNo&PTNT Việt Nam là phấn đấu trở thành một
ngân hàng hiện đại, hội nhập vào khu vực và quốc tế, còn mục tiêu ngắn hạn là
5 5
đổi mới cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh nhằm phù hợp với kinh tế thị trờng
định hớng Xã hội chủ nghĩa. Trong đó những vấn đề đợc đặt ra nh tìm hiểu nhu
cầu, thị hiếu của khách hàng, phát triển các sản phẩm, liên tục cải tiến các quy
trình nghiệp vụ, đơn giản hoá thủ tục giấy tờ và đảm bảo an toàn vốn, xây dựng
cầu vay vốn của khách hàng đáp ứng nhu cầu đầu t sản xuất kinh doanh phát
triển nền kinh tế.
- Ngoài hoạt động tín dụng, ngân hàng còn có khả năng cung cấp các dịch
vụ đa dạng cho khách hàng với doanh số lớn và tiện ích.
- Từ các hoạt động trên, khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày
càng tăng cờng, với nhiều lợi thế. Từ đó mức doanh thu, lợi nhuận ngân hàng
ngày càng lớn, tạo điều kiện trích lập các quỹ, vốn ngân hàng tăng lên.
Với những tác động trên về quy mô và phạm vi hoạt động của ngân hàng
ngày càng mở rộng không chỉ ở trong nớc mà cả trên phạm vi thế giới; các ngân
hàng thơng mại trớc xu thế hội nhập khu vực và quốc tế cần có sự hợp tác để duy
trì, đứng vững và phát triển ngay trên thị trờng trong nớc cũng nh vơn ra thị trờng
quốc tế theo hớng cải cách hệ thống ngân hàng nói chung và ngân hàng thơng
mại Việt Nam nói riêng để thực thi chiến lợc tiền tệ trong chiến lợc phát triển
kinh tế - xã hội của đất nớc.
Thực tế đã minh chứng việc đổi mới cơ chế quản lý kinh doanh của một
ngân hàng thơng mại cần có sự hợp tác với các ngân hàng thơng mại khác thì
ngân hàng đó sẽ tồn tại trong môi trờng cạnh tranh và phát triển. Ngợc lại sẽ bị
thất bại và có thể dẫn đến phá sản .
3.1.5 Đổi mới cơ chế quản lý để tồn tại, phát triển trong tiến
trình hội nhập quốc tế:
Việc hình thành các khu vực kinh tế và xu thế tòan cầu hoá nền kinh tế thế
giới là một tất yếu và đã trở thành hiện thực trong thời gian qua. Trớc hết là tự do
hoá thơng mại và dịch chuyển các luồng vốn trong khu vực, sau đó là phạm vi
7 7
rộng trên toàn thế giới. Với xu thế trên việc đổi mới cơ chế quản lý trong hệ
thống ngân hàng thơng mại nói chung và NHNo&PTNT Việt Nam nói riêng để
tồn tại và phát triển trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế là tất yếu. Bởi lẽ [28,
tr 2- 52] :
- IMF cho rằng cơ sở vốn của các Ngân hàng Thơng mại Việt Nam rất yếu,
khả năng sinh lời thấp, sự không ăn khớp về thời hạn trong thành phần của tài sản
Việt Nam
3.2.1. Tháo gỡ các vớng mắc và tiếp tục hoàn thiện cơ chế huy
động vốn [48, tr 109 - 115]:
Trong cơ chế thị trờng, huy động vốn qua kênh tín dụng ngân hàng chiếm
vị trí quan trọng. Bởi vì huy động qua kênh tín dụng ngân hàng là bằng cách "đi
vay để cho vay", nó giải quyết cả hai đầu (đầu vào và đầu ra), tạo ra kênh lu
thông vốn trong xã hội rất nhanh nhạy và liên tục. Việc khai thác nguồn vốn
này nh thế nào đó là trách nhiệm trớc hết thuộc về các tổ chức tín dụng và nó
cũng là chủ lực trong chiến lợc huy động vốn lâu dài; là giải pháp chủ yếu thực
hiện "nguồn vốn trong nớc là quyết định, nguồn vốn nớc ngoài là quan trọng".
Kinh nghiệm của một số nớc châu á cho thấy, thời gian đầu công nghiệp hoá
họ phải huy động vốn trong nớc khoảng 80 % số vốn cần thiết và phải duy trì
liên tục trong nhiều năm, mức đầu t trên 30 % tổng sản phẩm quốc nội mới trở
thành những con rồng ngày nay. Đối với nớc ta trong những năm trớc mắt, để có
mức tăng trởng bình quân hàng năm là 8%, phải đa tổng số vốn đầu t lên trên
mức 20 % GDP và cao hơn nữa trong những năm sau. Rõ ràng trong lúc nguồn
vốn ngân sách hết sức hạn hẹp, thì huy động vốn qua kênh ngân hàng thơng mại
có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhất là đối với nớc ta trong giai đoạn đầu
chuyển sang nền kinh tế thị trờng, xuất phát điểm của một nền kinh tế thấp.
Điều này lại càng có ý nghĩa quan trọng đối với NHNo&PTNT Việt Nam hoạt
động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Để khai thác tốt nguồn
vốn này NHNo&PTNT Việt Nam phải xử lý các vấn đề:
9 9
Một là, xác lập chiến lợc huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Việt Nam phải phù hợp với đặc điểm kinh tế-xã hội
của đất nớc
Thực hiện chiến lợc này, các chi nhánh của NHNo&PTNT Việt Nam:
- Đổi mới cơ chế huy động tiền của tại các chi nhánh, mà trớc hết phải là
lực lợng chủ yếu để thờng xuyên tăng trởng nguồn vốn tín dụng. Tạo điều kiện
cho các thành phần kinh tế mở và sử dụng các tài khoản đợc thuận tiện; không
séc hởng tỷ lệ, cho thuê mớn tài khoản... thì bị phạt. Qua một thời kỳ nhất định,
ngân hàng cần tổng kết và có chế độ thởng cho khách hàng thực hiện tốt công
tác thanh toán và quản lý tiền mặt. Qui chế này trong thời kỳ bao cấp đã đợc đ-
ợc đặt ra nhng việc thực hiện còn hạn chế, nay cần duy trì và phát huy ở mức
hợp lý hơn.
- Cần có chiến lợc khách hàng, đặc biệt là khách hàng có số d tiền gửi lớn
và thờng xuyên nộp tiền mặt vào ngân hàng lớn. Ngân hàng nên có chính sách
phổ cập và u tiên lãi suất cả tiền gửi và cho vay với mức độ nhất định so với
thông thờng nhằm động viên họ gửi tiền vào ngân hàng, tránh sự cho vay mợn
lẫn nhau không qua ngân hàng.
Hai là, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn
Việc tăng cờng và khuyến khích các doanh nghiệp và các tổ chức cá nhân
mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng là rất cần thiết và quan trọng, góp phần thu
hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong các doanh nghiệp và các tầng lớp dân c, bởi
vì tài chính hộ gia đình cũng là một bộ phận trong hệ thống tài chính. Do đó cần
mở ra các hình thức huy động vốn phong phú đa dạng hơn để có thể huy động
vào ngân hàng lợng vốn ngày càng lớn [12, tr 13 - 35].
- áp dụng nhiều hình thức huy động tiết kiệm khác nhau: tiết kiệm
không thời hạn và có thời hạn, tiết kiệm bằng vàng, ngoại tệ, tiết kiệm xây dựng
nhà ở... Để thực hiện cần cố gắng mở rộng mạng lới huy động đến tận địa bàn
11 11
dân c; đơn giản thủ tục, đổi mới phong cách giao dịch, mở rộng tiền gửi một
nơi, lĩnh nhiều nơi. Mở rộng hình thức kỳ phiếu, tiết kiệm thành các hình thức
có khả năng chuyển nhợng (hoặc nghiệp vụ chiết khấu), tiết kiệm dỡng già, tiết
kiệm hu trí,... Đặc biệt là cơ chế lãi suất tiết kiệm phải phù hợp với diễn biến
của thị trờng tiền tệ và tỷ lệ lạm phát. Lãi suất tiết kiệm phải đợc điều chỉnh sao
cho cả ngân hàng và ngời gửi có đợc lãi suất thoả đáng. Lãi suất tiết kiệm phải
kích thích ngời gửi, gửi càng lâu lãi suất càng cao nhằm động viên tối đa nguồn
tiền nhàn rỗi mà trớc đây ngời dân thờng cất trữ bằng vàng, ngoại tệ để dự
phòng.
đây đã phát huy tác dụng tốt và có hiệu quả; trên cơ sở rút kinh nghiệm cần tiếp
tục duy trì và phát triển nó. NHNo&PTNT Việt Nam căn cứ vào nhu cầu vốn
của các doanh nghiệp từng thời kỳ, từng hoàn cảnh mà phát hành kỳ phiếu, đáp
ứng đủ và kịp thời nhu cầu vốn của họ. Lãi suất phát hành kỳ phiếu thờng cao
hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm cùng loại vì việc phát hành kỳ phiếu không thờng
xuyên, mỗi khi phát hành đều có mục đích. Thực tế hiện nay NHNo&PTNT
Việt Nam luôn phát hành kỳ phiếu để tạo vốn và phần lớn số d tiền gửi tiết kiệm
lại đợc rút ra và chuyển sang mua kỳ phiếu có mục đích, và nh vậy việc huy
động vốn sẽ ít đem lại hiệu quả thiết thực, cụ thể là làm tăng thêm chi phí kinh
doanh cho ngân hàng. Để khắc phục cần xác định lãi suất huy động vốn thông
qua kỳ phiếu ngân hàng trên cơ sở mức độ rủi ro và thời gian đến hạn. Bên cạnh
hình thức huy động kỳ phiếu nh lâu nay vẫn làm, nên áp dụng hình thức huy
động kỳ phiếu chuyển nhợng, tạo điều kiện thuận lợi cho ngời gửi và góp phần
phát triển thị trờng vốn, thị trờng chứng khoán ở nớc ta.
Ba là, huy động vốn thông qua thị trờng tiền tệ và thị trờng vốn.
Để có vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trớc hết phải cải cách và
hoàn thiện thị trờng tín dụng nhằm đổi mới các quan hệ tín dụng giữa
NHNo&PTNT Việt Nam với khách hàng bằng cách đa dạng hoá các hình thức
huy động vốn, tăng cờng việc cung ứng vốn của Ngân hàng Nhà nớc cho
13 13
NHNo&PTNT Việt Nam trên cơ sở tái chiết khấu, tái cấp vốn. Hiện nay trên
lĩnh vực này hệ thống Ngân hàng Việt Nam thực hiện còn yếu, thậm chí nhiều
khi coi nh không có, hoặc có cũng chỉ là giải quyết có tính hcất vụ việc không
thờng xuyên. Do đó, cần phải gấp rút hoàn thiện và phát triển các thị trờng này;
- Thị trờng tiền tệ :
Nhu cầu vốn càng tăng đặt ra cho NHNo&PTNT Việt Nam phải có kế
hoạch và biện pháp cụ thể để tập trung vốn. Trớc hết phải hiện đại hoá công
nghệ thanh toán để đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn trên địa bàn cũng nh cả
nớc; từng bớc thực hiện cải cách chính sách lãi suất hợp lý trên cơ sở cung cầu
tiền tệ, vốn trong khung lãi suất quy định; cải tiến tổ chức theo hớng xoá bỏ
mới ở dạng manh nha ban đầu, nhng rồi đây nó sẽ đợc phát triển cả qui mô và
chất lợng. Bởi vì, chúng ta đã có những điều kiện nhất định: kinh tế đã ổn định,
có hàng hoá cho thị trờng: trái phiếu kho bạc Nhà nớc, kỳ phiếu ngân hàng, cổ
phiếu công ty, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp nhà nớc.
+ Nên thành lập trung tâm t vấn tín dụng và đầu t để giúp đỡ ngời có tiền
vốn nhàn rỗi lựa chọn hình thức đầu t có lợi nhất tuỳ thuộc vào khối lợng tiền
vốn của từng ngời và kế hoạch sử dụng tiền vốn của họ. Trớc mắt trung tâm t
vấn tín dụng và đầu t hoạt động dới sự bảo trợ của Ngân hàng Nhà nớc, sau một
thời gian có thể chuyển sang hoạt động dịch vụ, vừa làm t vấn, vừa marketing
cho NHNo&PTNT Việt Nam.
Bốn là, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam cần gắn kết với việc hình thành và phát triển các
trung gian tài chính khác để luân chuyển vốn, vận động vốn có hiệụ quả [50,
tr 105 - 112]
Vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế mà trực tiếp là kĩnh
vực nông nghiệp, nông thôn là nguồn vốn tổng hợp của toàn bộ nền kinh tế
quốc dân, đợc hình thành từ nhiều nguồn; nguồn vốn tín dụng ngân hàng chỉ là
một bộ phận trong tổng nguồn vốn đó. Hơn nữa bản thân NHNo&PTNT Việt
Nam cũng là một trung gian tài chính, nên sự phối kết hợp trong hệ thống là
15 15
một lẽ đơng nhiên. Do đó, muốn hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Việt
Nam phát huy hiệu quả và đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng thì phải gắn kết với các nguồn vốn đầu t của các trung gian tài chính khác
hoạt động trên thị trờng tài chính cùng đầu t vào quá trình công nghiệp hoá nền
kinh tế. Điều này phải đợc thể hiện rõ trong chiến lợc tạo vốn gắn liền với việc
giải quyết các yêu cầu cung ứng và chuyển dịch các nguồn vốn trong nền kinh
tế giữa các chủ nguồn vốn, các nhà đầu t, các doanh nghiệp. Chính vì vậy, các
giải pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lu vốn là một bộ phận cấu
thành của chính sách huy động và sử dụng vốn của NHNo&PTNT Việt Nam.
Chính sách này có liên quan và định hớng trớc hết là hệ thống các tổ chức tài
phát hành các chứng khoán ngắn hạn và dài hạn của Nhà nớc (công trái quốc
gia, tín phiếu kho bạc), của doanh nghiệp, của NHNo&PTNT Việt Nam...Trên
cơ sở đó, sớm hình thành thị trờng tài chính (thị trờng tiền tệ và thị trờng vốn)
trong cả nớc, trớc mắt tổ chức hoạt động tốt của sở giao dịch chứng khoán tại
Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh.
- Đổi mới công nghệ phục vụ của các tổ chức tài chính trung gian, nhằm
mục đích phục vụ nhanh, gọn và kịp thời và yêu cầu về mua, bán chứng khoán,
ngoại tệ, về thanh toán, chuyển nhợng các giấy tờ có giá và các hợp đồng mua
bán.
Nghiên cứu các mặt hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian, của
thị trờng tài chính và sở giao dịch chứng khoán cho thấy hoạt động này rất phức
tạp, nhng rất cần thiết đối với nền kinh tế trong quá trình luân chuyển các
nguồn vốn tiền tệ, phục vụ cho các nhu cầu của sản xuất và đời sống. Để có một
thị trờng tài chính thực sự, trớc hết phải đảm bảo các điều kiện nhất định cho sự
ra đời và phát triển của các công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu; sự hoàn
thiện và hoạt động đa dạng của các tổ chức tài chính trung gian, mà trung tâm là
hệ thống các ngân hàng thơng mại. Bên cạnh đó, hệ thống luật pháp phải đợc
17 17
ban hành một cách đồng bộ, chặt chẽ, để có thể giám sát hoạt động của thị tr-
ờng này, chống lại các hành vi lừa đảo, bảo vệ lợi ích của ngời mua và ngời bán
chứng khoán; kiểm tra t cách pháp nhân, tài sản, vốn của các công ty và các
nhân viên môi giới trên thị trờng; và cuối cùng là phải có quy chế về luật chơi
rõ ràng, bình đẳng cho các bên tham gia thị trờng.
Tóm lại, việc mở rộng và đa dạng hoá các hình thức huy động và thu hút
vốn nhằm tăng vốn kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam để phục vụ cho
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế là hết sức quan trọng và cần
thiết, song cần có bớc đi cụ thể, rõ ràng ở cả tầm vĩ mô, vi mô bao gồm những
hình thức trực tiếp, gián tiếp và sự kiên trì trong thực hiện. Chúng ta sẽ khắc
phục đợc khó khăn và tìm ra đợc những giải pháp xử lý nếu thực sự coi đây là
một nội dung cấu thành của chiến lợc huy động vốn và sử dụng vốn để tạo vốn
Thứ hai, để mở rộng tín dụng cần thiết phải đa dạng hóa các hình thức
đảm bảo:
Trên thực tế đảm bảo tín dụng hiện nay chủ yếu tập trung hàng thế chấp
bất động sản và quyền sử dụng đất.
Thứ ba, mở rộng các hình thức đảm bảo. Chẳng hạn, xây dựng ngành
kinh doanh kho bãi; mở rộng hình thức cầm cố bằng quyền sở hữu về tài sản;...
Thứ t, thực hiện chính sách cho vay không bảo đảm đối với tất cả các
thành phần kinh tế có phơng án và dự án kinh doanh có hiệu quả:
Chính phủ ra nghị quyết số 49/CP ngày 06/05/1997 quy định một số giải
pháp cấp bách để đảm bảo thực hiện kế hoạch Nhà nớc năm 1997, trên cơ sở đó
Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam đã ban hành công văn số 417/CV-NH14 ngày
31/05/1997 hớng dẫn thực hiện, trong đó qui định: "Các doanh nghiệp Nhà nớc
vay vốn của các ngân hàng thơng mại quốc doanh không phải thế chấp, không
giới hạn theo tỷ lệ vốn điều lệ của doanh nghiệp mà căn cứ vào hiệu qủa sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp". Với quy định này thì chỉ có doanh nghiệp
nhà nớc đóng vai trò ngời đi vay và ngân hàng thơng mại nhà nớc mới đợc đi
19 19
vay và cho vay không đảm bảo. Theo chúng tôi Nhà nớc cần cho phép tất cả
các loại hình doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, có uy tín, tình hình tài
chính mạnh đợc phép vay không cần đảm bảo và tất cả các tổ chức tín dụng đ-
ợc cho vay không đảm bảo theo các điều kiện quy định.
Một thực tế cũng cần phải chú ý: Nhà nớc cho phép các ngân hàng đợc
quyền cho vay không đảm bảo, điều đó không có nghĩa là phải cho vay không
đảm bảo. Việc chọn lựa có đảm bảo hay không là thuộc thẩm quyền kinh
doanh của các ngân hàng và chịu trách nhiệm về quyết định cho vay của
mình.
3.2.2.2. Mở rộng tín dụng trung, dài hạn; đồng thời gắn với tín dụng
ngắn hạn phục vụ cho phát triển nền kinh tế quốc dân [31]
Chia tách giữa vốn ngắn hạn và dài hạn trong quá trình sử dụng chỉ là ph-
ơng diện quản lý và nghiên cứu, còn trên thực tế giữa hai loại vốn này luôn luôn
Để thực hiện mục tiêu đổi mới cơ bản thiết bị và công nghệ lạc hậu vào
những năm đầu thế kỷ 21, theo các nhà kinh tế thì mức đổi mới hàng năm phải
đạt khoảng 15%. Để thực hiện đợc chỉ tiêu này chúng ta phải có chính sách huy
động vốn thích hợp để khai thác nguồn vốn trong nớc và mở rộng nguồn vốn từ
bên ngoài. Bên cạnh những biện pháp huy động vốn, việp áp dụng phơng thức
tài trợ thích hợp cũng giúp cho chúng ta mở rộng nguồn vốn đầu t. Cũng cần
thấy rằng trong thời gian qua nguồn vốn trong nớc cha đợc khai thác triệt để, kể
cả nguồn vốn đã huy động vào các ngân hàng; nhiều ngân hàng ứ đọng vốn
không cho vay ra đợc, mặc dù đã đợc phép chuyển một tỷ lệ nhất định vốn ngắn
hạn để cho vay trung, dài hạn. Trong lúc đó nền kinh tế đang thiếu vốn trầm
trọng để đổi mới thiết bị công nghệ.
Nh vậy, nhu cầu vốn cho đầu t phát triển nói chung và đầu t để đổi mới
thiết bị công nghệ nói riêng rất lớn, đòi hỏi chúng ta không chỉ có những chính
sách, biện pháp huy động vốn thích hợp, mà còn phải đa vào áp dụng các kỹ
thuật tài trợ mới để thực hiện quá trình đầu t, đây cũng là biện pháp tận dụng
21 21
nguồn vốn trong nớc, tức là nhanh chóng đa vốn tiết kiệm sang đầu t, đồng thời
cũng nhằm mục đích khai thác thêm các nguồn vốn nhập khẩu từ bên ngoài.
3.2.2.3. Nâng cao chất lợng tín dụng
Trong bối cảnh chung trên tất cả các mặt báo ngành và báo kinh tế hiện
nay đều quan tâm đến vấn đề chất lợng tín dụng ngân hàng ở nhiều góc độ: mô
tả thực trạng chất lợng tín dụng ngân hàng còn nhiều yếu kém hiện nay, phân
tích tìm kiếm nguyên nhân và giải pháp cứu chữa... Đây quả thật là một trong
những trọng tâm quan trọng nhất của hoạt động ngân hàng, lại càng có ý nghĩa
đối với NHNo&PTNT Việt Nam thể hiện qua biểu 2.21:
Biểu 2.21: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng d nợ của Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 1996-2001
Đơn vị: %
Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Tỷ lệ % 5,5 5,1 4,1 2,9 1,1 0,7
này.
- Đối với khách hàng:
Nâng cao năng lực đi vay của khách hàng trên cơ sở vốn tự có, khả năng
kinh doanh, trình độ quản trị,...
Chỉ có trên cơ sở giải quyết đợc vấn đề chất lợng tín dụng mới có điều
kiện mở rộng hoạt động tín dụng ngân hàng kể cả tín dụng ngắn hạn và dài hạn,
thông qua đó nâng cao khả năng tạo vốn kinh doanh của NHNo&PTNT Việt
Nam càng đợc mở rộng và phát triển.
3.2.3. Tiếp tục đổi mới cơ chế thanh toán nhằm nâng cao năng
lực tạo vốn kinh doanh đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam [42, tr 131-134]
Trong lĩnh vực thanh toán, nếu tốc độ thanh toán nhanh, sẽ góp phần chu
chuyển vốn vật t, hàng hoá, dịch vụ, tăng hiệu quả sản xuẩt-kinh doanh. Đầu t
cho lĩnh vực thanh toán thờng đem lại hiệu quả rất lớn.
23 23
Công tác thanh toán không dùng tiền mặt của NHNo&PTNT Việt Nam,
sẽ thu hút các thành phần kinh tế và các tầng lớp dân c mở tài khoản, gửi tiền và
thanh toán qua ngân hàng. Do đó khối lợng tiền mặt sử dụng trong lu thông sẽ
giảm xuống, NHNo&PTNT Việt Nam có đợc nguồn vốn to lớn.
Nh vậy, nếu ngân hàng làm tốt công tác thanh toán sẽ ảnh hởng rất lớn
đến hoạt động tín dụng. Một mặt thu hút đợc nguồn vốn ngày càng nhiều để
tiến hành cho vay phục vụ phát triển kinh tế, mặt khác nếu thanh toán nhanh
chóng thì vòng quay của sử dụng vốn tín dụng ngày càng tăng và có hiệu quả.
Thời gian qua, đặc biệt là những năm trớc đây công tác thanh toán qua
ngân hàng cha đợc chú trọng đúng mức, đối tợng thanh toán qua ngân hàng còn
hạn hẹp, mới chỉ giới hạn ở các đơn vị kinh tế quốc doanh, các cơ quan Nhà nớc
và một phần kinh tế ngoài quốc doanh. Trong khi hầu hết là thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh cha mở tài khoản và thanh toán qua ngân hàng.
Chỉ mới trong vòng một vài năm trở lại đây, Ngân hàng Nhà nớc đã có
chủ trơng mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt đến dân c và doanh nghiệp
- Đổi mới phong cách, ý thức phục vụ khách hàng trong quan hệ thanh
toán, nhằm tạo ra sự hấp dẫn lôi cuốn khách hàng.
Hai là, ứng dụng các thành tựu kỹ thuật tiên tiến để thanh toán nhanh
chóng, chính xác, an toàn và tiện lợi:
- Ngân hàng Nhà nớc cùng các ngân hàng thơng mại nhà nớc; trong đó
có NHNo&PTNT Việt Nam nhanh chóng thiết lập hệ thống thanh toán tự động,
liên kết mạng thanh toán quốc gia giữa các ngân hàng với nhau và giữa ngân
hàng thơng mại với khách hàng trong cả nớc. Chuẩn bị từng bớc tham gia hoà
nhập hệ thống truyền thông quốc tế SWIFT để phục vụ thanh toán quốc tế
nhanh chóng . Đây là xu hớng tất yếu đối với nền kinh tế mở của Việt Nam.
- Từng bớc áp dụng mở rộng thẻ thanh toán điện tử của ngân hàng và
doanh nghiệp, thẻ thanh toán không dùng tiền mặt và thẻ rút tiền mặt, thẻ phát
25 25