Những vấn đề cơ bản về công tác huy động vốn của ngân hàng th-
ơng mại trong nền kinh tế thị trờng
I . nhtm và các nghiệp vụ của nhtm
1. Khái quát về NHTM
Ngân hàng là một lĩnh vực hoạt động không thể thiếu của mỗi quốc gia; Sự
ra đời hoạt động của Ngân hàng đã đánh dấu một bớc ngoặc lịch sử phát triển và
tiến bộ của xã hội loài ngời, Lê nin coi đó nh là: Sự phát minh ra lửa hay Sự
phát minh ra bánh xe. Có thể nói Ngân hàng thơng mại ra đời là sự kết tinh của
nền sản xuất hàng hoá nhng ngợc lại cũng chính ngành Ngân hàng lại là động lực
to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
Hệ thống Ngân hàng ngày nay là hệ thống Ngân hàng hai cấp, đợc hình
thành đảm bảo hoạt động đồng bộ, có tổ chức theo các quy định và pháp luật do
Nhà nớc ban hành.
Ngân hàng Trung ơng làm nhiệm vụ quản lý vĩ mô, quản lý hoạt động của
toàn hệ thống, đa ra những quyết định chính sách về tiền tệ, tín dụng và thực hiện
nghiệp vụ phát hành tiền.
Ngân hàng thơng mại là các Ngân hàng chuyên doanh với chức năng chủ
yếu là kinh doanh tiền tệ, thu lợi nhuận, thực hiện các nghiệp vụ trung gian, chấp
hành đúng và chịu sự quản lý của Ngân hàng trung ơng.
Tại Việt Nam đến năm1988 mới hình thành hên thống Ngân hàng 2 cấp với
chức năng nh trên.
Theo pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính ngày
25/4/1990 ( điều 1 khoản 1), Ngân hàng thơng mại đợc định nghĩa nh sau: Ngân
hàng thơng mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, hoạt động chủ yếu và thờng
xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền
đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phơng tiện thanh toán.
Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng ( 12/1997 ) có nêu : Tổ chức tín
dụng là doanh nghiệp đợc thành lập theo quy định của luật này và các quy định
khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với
nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ
để doanh nghiệp có thể sử dụng vốn vay một cách tối u. Đồng thời thông qua tín
dụng Ngân hàng các doanh nghiệp có khả năng cải tiến mua sắm máy móc thiết
bị, đầu t đổi mới dây truyền công nghệtạo ra những sản phẩm có giá thành sản
xuất hợp lý, có tính cạnh tranh cao giúp doanh nghiệp có đợc vị thế kinh doanh
vững chắc trong nền kinh tế thị trờng hiện nay, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung.
Thứ ba: NHTM thông qua cơ chế lãi suất khuyến khích tiết kiệm hay thúc
đẩy tiêu dùng của các tầng lớp dân c.
Tăng lãi suất huy động vốn, NHTM có thể thu hút thêm đợc số lợng vốn
lớn từ các tầng lớp dân c, xét về khía cạnh xã hội ngời gửi tiền đã tiết kiệm các
khoản chi tiêu của mình để gửi vào Ngân hàng nhằm thu thêm lợi tức, giảm lãi
suất huy động vốn, NHTM có thể cung ứng vốn giá thấp cho các doanh nghiệp
thúc đẩy đầu t, và hạ giá thành sản phẩm. Mặt khác ngời gửi tiền sẽ có lựa chọn
tăng tiêu dùng do giảm lợi tức thu về từ tiền gửi, góp phần thúc đẩy lu thông hàng
hoá.
Thứ t: NHTM tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân bổ và phát triển kinh tế
vùng trong một quốc gia.
Giữa các vùng trên một lãnh thổ thờng có sự phát triển kinh tế xã hội không
đồng đều mà nguyên nhân chính là do ảnh hởng của điều kiện tự nhiên. NHTM
bằng việc thực hiện cơ chế tín dụng u đãi, điều chuyển nguồn vốn huy động trong
hệ thống, đầu t cho phát triển kinh tế vùng, xoá dần sự khác biệt về kinh tế, xã hội
giữa các vùng trên lãnh thổ.
Thứ năm: NHTM hoạt động có hiệu quả là công cụ để Nhà nớc điều tiết vĩ
mô nền kinh tế.
NHTM với t cách là trung tâm tiền tệ tín dụng, thanh toán đã thông qua
nghiệp vụ của mình để kiểm soát bằng tiền hoạt động của nền kinh tế nh điều hoà
lu thông tiền tệ, đẩy nhanh vòng quay của lợng tiền cung ứng, ổn định sức mua
đồng tiền, từ đó góp phần chống lạm phát, xử lý những biến động không hợp lý
của nền kinh tế.
chính gặp ngời đầu t trực tiếp. Với chức năng trung gian tín dụng NHTM đã góp
phần tạo lợi ích cho tất cả các bên trong quan hệ là ngời gửi tiền, Ngân hàng, ngời
đi vay và đảm bảo đợc lợi ích của nền kinh tế.
Đối với ngời gửi tiền, họ thu đợc lợi từ vốn tạm thời nhàn rỗi của mình do
Ngân hàng trả lãi tiền gửi cho họ. Hơn nữa Ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an
toàn và cung cấp các phơng tiện thanh toán.
Đối ngời đi vay sẽ thoả mãn đợc nhu cầu về vốn để kinh doanh, chi tiêu,
thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm
nơi cung ứng vốn tiện lợi.
Đối với NHTM, họ sẽ tìm kiếm đợc lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh
lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi. Lợi nhuận này chính là cơ sở để tồn
tại và phát triển của NHTM.
Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc
đẩy tăng trởng kinh tế vì nó đáp ứng đợc nhu cầu vay vốn để đảm bảo cho quá
trình sản xuất đợc thc hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất.
Với chức năng này, Ngân hàng đã kích thích quá trình luân chuyển vốn,
thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản
và quan trọng nhất của NHTM vì nó phản ánh bản chất của NHTM là đi vay để
cho vay, nó quyết định sự phát triển và lớn mạnh của chính bản thân Ngân hàng.
3.2. Chức năng trung gian thanh toán
Trên cơ sở nhận tiền gửi của khách hàng, NHTM thực hiện các khoản thanh
toán chi trả cho khách hàng theo các hợp đồng mua bán, giao dịch. Với vai trò là
trung gian thanh toán, Ngân hàng thực hiện theo yêu cầu của khách hàng nh trích
tiền trên tài khoản ngời mua để chuyển sang tài khoản ngời bán hoặc phục vụ
thanh toán về hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng. Thực hiện chức năng trung gian
thanh toán, Ngân hàng đã trở thành ngời thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá
nhân bởi Ngân hàng là ngời giữ tài khoản của khách hàng. NHTM cung cấp cho
khách hàng nhiều công cụ thanh toán thuận lợi nh séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm
chi, thẻ rút tiền, th tín dụngNhờ đó mà các chủ thể kinh tế tiết kiệm đợc nhiều
chi phí lao động, thời gian lại đảm bảo đợc thanh toán an toàn. Qua chức năng
Nguyệp vụ thuộc tài sản có phản ánh việc sử dụng vốn của NHTM. Nghiệp
vụ này mang lại thu nhập cho Ngân hàng thông qua việc thu lãi cho vay, lãi đầu t
giúp cho Ngân hàng tạo ra lợi nhuận. Kết cấu tài sản có của NHTM bao gồm các
nghiệp vụ sau:
- Nghiệp vụ ngân quỹ.
- Nghiệp vụ cho vay của NHTM.
- Nghiệp vụ đầu t tài chính.
- Các nghiệp vụ khác
4.1.1.Nghiệp vụ ngân quỹ.
Khoản mục này phản ánh các khoản vốn của Ngân hàng đợc dùng với mục
đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện quy định về dự
trữ bắt buộc do NHTW đề ra gồm các loại sau:
- Tiền mặt tại quỹ gồm tiền giấy và tiền kim loại hiện có ở Ngân hàng.
- Tiền gửi ở NHTW gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc theo yêu cầu mục tiêu của
chính sách tiền tệ và tiền gửi thanh toán giữa các Ngân hàng thông qua vai trò
trung gian thanh toán của NHTW.
Hai bộ phận này hình thành nên phần dự trữ của NHTM. Nó không tạo ra
lợi nhuận cho Ngân hàng vì phần dữ trữ bắt buộc chính sách tiền tệ và đảm bảo
khả năng thanh toán.
- Tiền mặt trong quá trình thu là khoản phát sinh do quan hệ thanh toán
vãng lai giữa các Ngân hàng, khi Ngân hàng đã ghi vào bên nợ nhng thực chất lại
cha nhận đợc tiền.
- Tiền gửi ở các Ngân hàng khác : nhiều Ngân hàng nhỏ gửi tiền trong
những Ngân hàng lớn để đổi lấy nhiều dịch vụ khác nhau nh thanh toán giữa các
Ngân hàng, giao dịch ngoại tệ, giúp mua chứng khoán. Các Ngân hàng cũng có
thể mở tài khoản ở các Ngân hàng khác để thực hiện nghiệp vụ thanh toán.
4.1.2.Nghiệp vụ cho vay của NHTM.
Đây là nghiệp vụ tạo khả năng sinh lời chính trong hoạt động kinh doanh
của các NHTM. Nó thờng chiếm tỷ trọng lớn trong các khoản mục thuộc tài sản
có ( khoảng 70% ). Nghiệp vụ này bao gồm các khoản đầu t sinh lời của Ngân
bảo tiền vay. Trị giá hợp đồng tín dụng đợc tính theo giá thị trờng vào thời điểm
vay. Theo hình thức này, Ngân hàng có quyền bán hàng hoá cầm cố để thu nợ
trong trờng hợp ngời đi vay không có khả năng thanh toán.
-Cho vay thuê mua :
Là hình thức tín dụng trung, dài hạn đợc thực hiện thông qua việc cho thuê
tài sản nh máy móc thiết bị và các bất động sản. Ngân hàng sẽ dùng vốn của mình
để mua tài sản theo yêu cầu của ngời thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản
cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản phải thanh toán tiền thuê và không đợc huỷ bỏ
hợp đồng trớc hạn.
-Tín dụng tiêu dùng :
Đây là hình thức tín dụng đợc thực hiện để tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng cá
nhân nh mua sắm, sửa chữa, cải tạo nhà ở, các đồ dùng sinh hoạt khácTuỳ thuộc
vào tình hình tài chính của mình mà ngời vay có nhu cầu vay khác nhau.
-Tín dụng cho vay bằng chữ ký :
Ngày nay, trong thơng mại quốc tế, thơng phiếu đợc sử dụng rất phổ biến.
Nhng trong một số trờng hợp, độ tin cậy và khả năng thanh toán của ngời đi vay
cha đợc đảm bảo. Vì vậy các thơng phiếu cần có sự chấp nhận, bảo lãnh trả tiền
của các Ngân hàng lớn, có uy tín thì nó mới đợc lu thông một cách dễ dàng.
Nghiệp vụ này chia làm hai loại :
+Tín dụng chấp nhận là việc Ngân hàng đứng ra chấp nhận thơng phiếu cho
khách hàng, hoặc là xác nhận việc đảm bảo thanh toán vốn của ngời trả tiền thơng
phiếu.
+Tín dụng bảo lãnh là việc Ngân hàng đứng ra đảm bảo thực hiện một
nghĩa vụ của khách hàng thay cho ngời đợc bảo lãnh nếu ngời này không thực
hiện đợc nghĩa vụ.
4.1.3.Nghiệp vụ đầu t tài chính.
Các NHTM thực hiện quá trình đầu t bằng vốn của mình thông qua các
hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trờng. Đầu t vào
chứng khoán là hình thức phổ biến trong nghiệp vụ tài sản có của các NHTM và
TCTD. Ngân hàng có thể đầu t vào trái khoán chính phủ hoặc trái khoán công ty
-Tiền gửi tiết kiệm:
Là tiền để dành của dân c đợc gửi vào Ngân hàng nhằm mục đích hởng lãi.
Trên các tài khoản tiền gửi loại này khách hàng có thể bổ sung hay rút ra bất cứ
lúc nào và mỗi lần giao dịch hay thanh toán lãi đều đợc ghi vào sổ tiết kiệm do
ngời sở hữu tài khoản giữ.
-Tiền gửi của các Ngân hàng khác nhằm mục đích thanh toán hộ và một số
mục đích khác, NHTM này có thể gửi tiền tại các Ngân hàng khác. Tuy nhiên quy
mô nguồn vốn này thờng không lớn.