một số vấn đề cơ bản về việc thực hiện khoán chi hành
chính và cơ chế tự trang trải
I. Khái niệm về khoán chi hành chính và cơ chế tự trang trải.
Để nghiên cứu về khoán chi hành chính và cơ chế tự trang trải trớc hết cần
thống nhất cách hiểu về khái niệm này. Tuy nhiên, sẽ rất khó khăn nếu nh muốn
đa ra những khái niệm hoàn chỉnh. Trong phạm vi Đề tài này, chúng tôi chỉ có ý
định đa ra khái niệm nhằm mục đích thống nhất cách hiểu và qua đó có thể thấy
rõ đợc những điểm cơ bản của những cơ chế này trong số rất nhiều cơ chế quản lý
tài chính đã, đang và sẽ có trong thực tế.
trr Để thống nhất cách hiểu và quan niệm về khoán chi hành chính và cơ chế
tự trang trải, trớc hết cần phân loại các cơ quan, đơn vị mà lâu nay vẫn đợc gọi
chung là đơn vị hành chính sự nghiệp. Các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp
hiện nay có thể phân thành 4 loại nh sau:
I + Cơ quan hành chính thuần tuý;
+ Cơ quan hành chính có thu (chủ yếu do cơ chế, do quy định của nhà nớc
cho phép đợc để lại một phần phí, lệ phí, ví dụ nh Kho Bạc Nhà nớc, cơ quan thuế,
Hải quan...);
+ Đơn vị sự nghiệp không có thu, hoặc có nguồn thu rất nhỏ so với nhu cầu
chi (trong thực tế, hầu hết các đơn vị sự nghiệp đều có thu).
+ Đơn vị sự nghiệp có thu, loại này có thể phân thành nhiều loại theo khả
năng cân đối giữa nguồn thu và nhu cầu chi cho hoạt động của đơn vị.
Từ cách phân loại nh trên, cùng với các khái niệm đợc trình bày dới đây, sẽ
cho phép xác định cơ chế quản lý phù hợp với từng loại hình hoạt động của đơn
vị.
1/ Khoán chi hành chính.
Cho đến nay cha từng có ai đa ra khái niệm này một cách chính thức, điều
đó cũng dễ hiểu vì bản thân cụm từ khoán chi cũng đã nói lên những nội dung
cơ bản của nó.
Khoán chi hành chính là một phơng pháp quản lý trong đó Nhà nớc (mà
trực tiếp là đơn vị có thẩm quyền duyệt dự toán ngân sách) giao cho các cơ quan
hành chính nhận khoán mức kinh phí ổn định trong một thời kỳ ( có thể là 1 năm
khoán cho đơn vị. Với cách hiểu này, chúng ta có thể xây dựng một cơ chế tài
chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, trong đó có phân loại các đơn vị theo
mức độ và khả năng tự trang trải.
Tuy vậy, dù hiểu theo cách nào đi nữa thì cơ chế tự trang trải cũng là việc
Nhà nớc (mà trực tiếp là đơn vị có thẩm quyền duyệt dự toán ngân sách) giao cho
các đơn vị sự nghiệp có thu (trừ những đơn vị có nguồn thu nhỏ) đợc dùng nguồn
thu để trang trải toàn bộ hoặc một số chi phí hoạt động của đơn vị ổn định trong
một thời kỳ( một năm hoặc một số năm) để đơn vị có thể chủ động sử dụng một
cách tiết kiệm, hiệu quả nguồn thu trên cơ sở hoàn thành đợc chức năng, nhiệm vụ
đợc giao. Phần kinh phí tiết kiệm đợc đơn vị có thể sử dụng vào các mục đích
theo quy định, trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ.
Nh vậy, với khái niệm này, phạm vi áp dụng của cơ chế đã đợc xác định rõ
là các đơn vị sự nghiệp có thu và với nguồn thu không quá nhỏ.
Tóm lại, thực chất của khoán chi hành chính và cơ chế tự trang trải là việc
thực hiện chuyển đổi phơng thức quản lý, cấp phát và thanh, quyết toán kinh phí
ngân sách nhà nớc đối với một số cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp.
II/ Sự cần thiết của việc thực hiện khoán chi hành chính và cơ chế tự
trang trải.
Thực hiện khoán chi hành chính và cơ chế tự trang trải có ý nghĩa quan
trọng trên nhiều mặt, cụ thể:
Về vấn đề biên chế, tổ chức bộ máy và hiệu quả công việc của cơ quan:
Với cơ chế khoán chi hành chính, cơ chế tự trang trải, các đơn vị thực hiện sẽ tích
cực sắp xếp lại biên chế, tổ chức và phân công lao động trong cơ quan hợp lý hơn,
xoá bỏ tâm lý muốn tăng biên chế khi cha thực sự cần thiết... từ đó sẽ làm cho
biên chế của cơ quan, đơn vị đợc gọn nhẹ, nâng cao hiệu quả và chất lợng công
việc của đơn vị.
Về thu nhập, chất lợng cán bộ, hiệu quả công tác của từng cán bộ, công
chức: Có thể thấy, với đội ngũ cán bộ, công chức đợc tinh giản trong khi tổng quỹ
lơng của đơn vị vẫn đợc giữ nguyên sẽ tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho cán bộ
công chức, đồng thời giải quyết chế độ, trợ cấp thêm cho những ngời dôi d do quá
hành chính sự nghiệp trong điều kiện ngân sách nhà nớc không phải cấp phát
thêm thì thực hiện khoán chi hành chính và cơ chế tự trang trải sẽ có tác dụng
mạnh mẽ thúc đẩy các cơ quan đổi mới, rà soát lại để có sự phân định rõ nhiệm vụ
chức năng của từng bộ phận, sắp xếp lại biên chế và điều hành quản lý. Chỉ có
trên cơ sở tổ chức lại lao động hợp lý, quản lý chi tiêu chặt chẽ thì đơn vị mới có
điều kiện để tăng thu nhập cho cán bộ trong đơn vị.
- Thực hiện khoán chi hành chính và cơ chế tự trang trải là biện pháp hữu
hiệu để hạn chế việc xin tăng biên chế hàng năm, mở rộng quyền tự chủ, quyền tự
quản của đơn vị trong việc điều hành chi tiêu tài chính, nâng cao ý thức tiết kiệm
và tinh thần đấu tranh chống lãng phí của các cán bộ trong đơn vị hành chính sự
nghiệp.
- Tạo điều kiện cho cơ quan, đơn vị có thể thực hiện khuyến khích vật chất
xứng đáng đối với những ngời làm việc có năng lực, có hiệu quả, tạo ra phong trào
thi đua thực sự trong đơn vị, thu hút đợc ngời tài, góp phần hạn chế tình trạng
chảy máu chất xám. Hợp pháp hoá đợc các khoản thu nhập chính đáng của cán
bộ, hạn chế các hiện tợng tiêu cực trong quản lý và lãng phí trong chi tiêu tài
chính. Nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi ngời và của tập thể cán bộ, công
chức trong việc thực hiện tốt công việc đợc giao.
- Là biện pháp quan trọng thúc đẩy các cơ quan phải thờng xuyên xem xét
lại về tổ chức, về chức năng nhiệm vụ của từng ngời, từng bộ phận cũng nh tự điều
chỉnh các định mức chi tiêu của đơn vị mình sao cho hợp lý, phù hợp với khả năng
tài chính hiện có.
Lợi ích đem lại từ việc khoán quỹ lơng và ngân sách hoạt động là: tăng c-
ờng chủ động cho đn vị hành chính sự nghiệp, xoá bỏ cơ chế "xin-cho", giảm
phiền hà và tiêu cực; thực hiện có hiệu quả chính sách tiết kiệm; tạo điều kiện
thực hiện cơ chế trả lơng theo kết quả công việc, đảm bảo công bằng, có điều kiện
tăng thu nhập, khuyến khích tinh thần hăng say làm việc, tận tuỵ với công việc
của cán bộ công chức; tạo điều kiện cho cấp trên tập trung vào việc kiểm tra chất
lợng công việc, đem lại hiệu quả trong quản lý của các cấp.
Tóm lại, khoán chi hành chính và cơ chế tự trang trải là một việc
(sản
phẩm,
dịch vụ,
kết quả
công)
tác)
Đầu vào
(nhân
lực, vật
lực, tài
lực)
Mục
tiêu