CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 74

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Rủi ro tín dụng của NHTM
1.1.1 Hoạt động tín dụng của NHTM
1.1.1.1 Các hoạt động chính của NHTM
* Khái niệm NHTM: Theo luật các TCTD năm 2004 định nghĩa: ”NHTM là
ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh
doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu
kinh tế của Nhà nước”.
Theo dự thảo luật các TCTD định nghĩa: ”Ngân hàng là loại hình tổ chức tín
dụng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo
tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, ngân hàng
chính sách, ngân hàng hợp tác xã và các loại hình ngân hàng khác”.
Theo quan điểm của Giáo sư Peter Rose, một nhà kinh tế Mỹ: “Ngân hàng
thương mại là một tổ chức tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và
thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế”. Định nghĩa này thể hiện rõ phạm vi, quy mô cũng như
vai trò của NHTM trên thị trường tài chính - tiền tệ, đồng thời phản ánh được ảnh
hưởng của NHTM tới nền kinh tế của một nước.
* Các hoạt động chính của NHTM:
- Huy động vốn: NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau:
+ Nhận tiền gửi của các tổ chức cá nhân và các TCTD khác dưới các hình
thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác;
+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động
vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước chấp thuận;
+ Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ
chức tín dụng nước ngoài;
+ Vay vốn ngắn hạn của NHNN theo qui định tại khoản 1 Điều 30 Luật ngân
hàng Nhà nước Việt Nam;
+ Các hình thức huy động vốn khác theo qui định của NHNN.

 Cung ứng các phương tiện thanh toán;
 Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng;
 Thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ;
 Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo qui định của NHNN;
 Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép;
 Thực hịện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng;
 Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên
ngân hàng trong nước. Việc tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế phải được
ngân hàng nhà nước cho phép.
Ngoài những hoạt động chính trên NHTM còn có thể có những hoạt động
khác như: được dùng vốn điều lệ và quĩ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh
nghiệp và của các TCTD khác trong nước theo qui định của pháp luật; Được tham
gia trên thị trường tiền tệ theo qui định của NHNN; Được trực tiếp kinh doanh
hoặc thành lập công ty trực thuộc có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập bằng
vốn tự có để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị trường
quốc tế theo qui định của NHNN.
Trong những hoạt động chủ yếu của ngân hàng kể trên thì hoạt động tín dụng
chiếm phần chủ yếu và hoạt động tín dụng được tổ chức dưới nhiều hình thức tín
dụng khác nhau và tuỳ vào đặc điểm của mỗi NHTM mà phát triển loại hình nào
cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
1.1.1.2 Các hình thức tín dụng ngân hàng
* Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người cho
vay và người đi vay theo nguyên tắc có hoàn trả và có lãi suất. Bên đi vay có trách
nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh
toán.
Căn cứ theo khoản 01 Điều 03 của Quy chế cho vay của Tổ chức Tín dụng đối
với khách hàng (QĐ 1627 của NHNN) “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng,
theo đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục
đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và

+ Tín dụng đầu tư: Là loại tín dụng được cung cấp cho các doanh nghiệp để
tiến hành sản xuất và kinh doanh.
+ Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng cấp phát cho các cá nhân để đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng.
- Căn cứ vào đối tượng tín dụng.
+ Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành vốn
lưu động của các tổ chức kinh tế. Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ
hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình
thức chiết khấu.
+ Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản
cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và
công trình mới.
- Căn cứ mức độ đảm bảo.
Tín dụng đảm bảo: Là hình thức tín dụng có tài sản đảm bảo hoặc người bảo
lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay.
Tín dụng không có đảm bảo: Là hình thức tín dụng không cần có tài sản thế
chấp, cầm cố hay bảo lãnh mà hoàn toàn dựa trên uy tín của khách hàng.
- Căn cứ vào mức độ rủi ro.
Cách phân loại này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nhà quản trị ngân
hàng đánh giá mức độ rủi ro của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp
thời. Theo cách phân loại này, tín dụng được phân thành:
+ TD lành mạnh: Là các khoản TD an toàn, có khả năng thu hồi vốn cao.
+ Tín dụng có vấn đề: Là những khoản tín dụng đã quá hạn với thời hạn ngắn
và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn.
+ Tín dụng quá hạn khó thu hồi: Là những khoản tín dụng quá hạn quá lâu,
khả năng trả nợ kém, tài sản thế chấp bị giảm giá hoặc mất giá…
Ngoài ra trong quá trình phân loại người ta còn phân chia tín dụng căn cứ vào
xuất xứ tín dụng, phương pháp hoàn trả và một số các căn cứ khác tuỳ theo mục
tiêu nghiên cứu.
Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình

thanh lý
HĐTD
Quyết định
cấp tín
dụng
Phân tích
tín dụng
Thiết lập
hồ sơ tín
dụng
Bước 2 - Phân tích tín dụng.
Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là thu thập và xử lý thông tin liên quan
đến khách hàng như: Năng lực pháp lý, mục đích vay vốn, uy tín của khách hàng,
năng lực tài chính của khách hàng, tính khả thi của dự án xin vay, tài sản đảm
bảo…
Bước 3- Quyết định cấp tín dụng.
Kết quả của quá trình phân tích tín dụng là đưa ra quyết định cấp tín dụng.
Trên cơ sở hồ của khách hàng và tờ trình của cán bộ tín dụng, cấp trên xem xét
kiểm tra lại xem có cấp tín dụng hay không. Nếu yêu cầu được chấp thuận thì lãnh
đạo ngân hàng được phân quyền cùng khách hàng tiến hành ký kết hợp đồng tín
dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay.
Bước 4 - Giải ngân.
Giải ngân là nghiệp vụ cấp tiền cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng được
cấp đã được phê duyệt. Cơ sở để ngân hàng thực hiện giải ngân là kế hoạch sử
dụng vốn tín dụng đã được nêu trong hợp đồng tín dụng Sau khi HĐTD đã được
ký kết ở bước 3, ngân hàng sẽ tiến hành giải ngân cho khách hàng như đã thoả
thuận.
Bước 5 - Giám sát và quản lý tín dụng
Giám sát và quản lý tín dụng được tiến hành từ khi tiền vay được phát ra cho
đến khi khoản vay được hoàn trả, nhằm đôn đốc khách hàng thực hiện đúng và đầy

Muốn quản trị rủi ro tốt nhằm hạn chế RRTD phải xác định nguyên nhân gây
rủi ro, thông thường nguyên nhân RRTD được phân theo các tiêu chí sau:
* Nguyên nhân từ phía ngân hàng.
- Chính sách, quy trình tín dụng.
+ Chính sách tín dụng.
RRTD phát sinh khi một nội dung trong danh mục tín dụng trở lên tương đối
lớn so với mức vốn, tài sản của ngân hàng, là loại rủi ro tập trung. Rủi ro tập trung
tín dụng không những phụ thuộc vào giá trị tín dụng mà còn phụ thuộc vào tỷ lệ
mất vốn cao khi xảy ra rủi ro.
Rủi ro tập trung tín dụng có thể được phân chia thành 2 loại: rủi ro tập trung
tín dụng thông thường - xảy ra khi tín dụng tập trung quá nhiều vào một khách
hàng, một nhóm khách hàng, một ngành hoặc một lĩnh vực (ví dụ như bất động
sản, xây dựng cơ bản...) và rủi ro tập trung tín dụng - do sự liên hệ qua lại các yếu
tố có liên quan nhiều đến các yếu tố đặc thù, chỉ có thể phát hiện qua phân tích. Ví
dụ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính tiền tệ ở châu Á năm 1997 do sự liên hệ
giữa RRTD, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản đã tạo các khoản lỗ/mất vốn rộng
khắp.
+ Quy trình tín dụng.
Các vấn đề trong qui trình cấp tín dụng là nguyên nhân gây ra RRTD, trong
đó chủ yếu liên quan đến quá trình thẩm định và theo dõi, giám sát tín dụng. Có rất
nhiều ngân hàng khó thực hiện một quá trình đánh giá tín dụng một cách chuyên
sâu bởi áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng tăng. Cũng chính do áp lực
này mà nhiều ngân hàng có xu hướng dựa vào một số chỉ tiêu đơn giản để cấp tín
dụng. Điều này chỉ có thể được hạn chế khi các ngân hàng đưa ra một số bước bắt
buộc phải thực hiện trong quá trình thẩm định tín dụng.
Chính sách tín dụng không hợp lý, ví dụ như quá nhấn mạnh vào lợi nhuận
ngân hàng mà đơn giản hoá việc phân tích đánh giá khách hàng, nên khi cho vay
đã quá chú trọng về lợi tức, đặt mong ước về lợi tức cao hơn các khoản cho vay
lành mạnh, hoặc do áp lực cạnh tranh mà các ngân hàng có chủ trương đơn giản
hoá việc phân tích đánh giá khách hàng nhằm thu hút được nhiều khách hàng đến

đích của từng khoản vay và nguồn sử dụng để trả nợ. Có thể xảy ra các nguyên
nhân sau:
- Khách hàng cố ý lừa đảo ngân hàng, trong quá trình đi vay và sử dụng vốn
vay, chẳng hạn như cung cấp thông tin không đúng sự thật, sử dụng vốn vay sai
mục đích khác với hồ sơ, rủi ro cao, dễ thua lỗ, không trả được nợ cho ngân hàng.
Mặt khác có trường hợp cho dù công việc kinh doanh có lãi nhưng họ vẫn chây ỳ
không trả nợ ngân hàng, mục đích để chiếm dụng vốn ngân hàng quay vòng trong
hoạt động kinh doanh.
- Năng lực điều hành của chủ doanh nghiệp (khách hàng vay) còn hạn chế,
thiếu thông tin từ thị trường và các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng đến kế hoạch
sản xuất kinh doanh. Công nghệ sản xuất không đủ khả năng tạo ra sản phẩm có
tính cạnh tranh cao, khả năng thích ứng thị trường, sản xuất kinh doanh còn thiếu
linh hoạt, sản phẩm làm ra không đáp ứng được nhu cầu thị trường dẫn đến tụt hậu
trong cạnh tranh làm giảm khả năng trả nợ hay phát sinh nợ có vấn đề.
* Nguyên nhân khác.
Ngoài những nguyên nhân từ ngân hàng và từ phía khách hàng còn có các
nguyên nhân khác như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status