CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN CHO VAY HỘ
NGHÈO.
I/ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ SỰ CẤN THIẾT PHẢI XOÁ ĐÓI GIẢM
NGHÈO
1/ Những vấn đề cơ bản về đói nghèo
Có rất nhiều các quan điểm khác nhau về xoá đói giảm nghèo trên thế giới.
Nhưng đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có đủ những nhu cầu cơ
bản, tối thiểu của cuộc sống như: ăn, ở, mặc, đi lại, vệ sinh, y tế, giáo dục....Tình
trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau về số lượhog và mức độ, thay
đổi theo không gian và thời gian. Người nghèo ở quốc gia này có thể có mức sống
cao hơn mức sống trung bình của các quốc gia khác. Vì vậy việc nhìn nhận và tổ
chức thực hiện một cách đầy đủ và có hiệu quả cần phải tham khảo khái niệm và
kinh nghiệm, chuẩn mực đánh giá, chỉ tiêu và các giải pháp thực hiện của các nước
trên thế giới từ đó nắm rõ tình hình của ta để có biện pháp thích hợp mang lại hiệu
quả cao.
1.1 Khái niệm của nghèo đói trên thế giới.
Trên thế giới sự phân định giàu nghèo dựa trên 4 khía cạnh: Về thời gian, về
không gian, về giới và về môi trường.
Về thời gian: Nghèo đói là những người có mức sống dưới mức chuẩn trong
một thời gian dài.
Về không gian: Nghèo đói chủ yếu diễn ra ở khu vực nông thôn nơi có đông
dân, phương thức sản xuất lạc hậu, các công cụ sản xuất thô sơ lạc hậu.
Về giới: Người nghèo là nữ giới thường đông hơn nam giơí.
Về môi trường: Đói nghèo thường xảy ra ở trong những vùng sinh thái khắc
nghiệt.
1.2 Khái niệm về đói nghèo ở Việt Nam.
Nghèo: Là một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối
thiểu nhằm duy trì cuộc sống.
Đói: Là bộ phận dân nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập
không đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống.
2/ Các tiêu chí để xác định hộ nghèo
Chỉ tiêu phụ: Là các chỉ tiêu về dinh dưỡng bữa ăn, nhà ở, mặc và các điều
kiện cho học tập chữa bệnh đi lại...
Tuy nhiên việc đánh giá cũng chủ yếu dựa vào mức thu nhập bình quân quy
ra gạo. Việc quy ra hiện vật dễ dàng nhằm so sánh với mức thu nhập của người dân
theo thời gian và không gian. Và nó có ý nghĩa đối với người nghèo nói chung và
người nghèo đói ở nông thôn nói riêng.
Để đo lường tình trạng nghèo đói hiện nay nhiều địa phương lấy tiêu chuẩn
thu nhập bình quân một khẩu trong một năm. Một số nhà kinh tế lấy tiêu thức
lương thực bình quân nhân khẩu. Gia đình nào có thu nhập 30kg gạo/khẩu/tháng
được coi là nghèo. Theo tổng cục thống kê lấy đơn vị kalory/ngày/người là 2100,
dưới đó sẽ là nghèo. Một khuynh hướng khác lấy mức lương thực tối thiểu do nhà
nước quy định làm chuẩn.
Theo quy định tại thông báo 1751 ngày 20/5/1997 của bộ lao động thương
binh xã hội hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân quy ra gao ở các vùng khác
nhau như sau:
- Vùng nông thôn miền núi hải đảo:15 kg gạo/người/tháng ~ 55 ngàn
- Vùng nông thôn đồng bằng trung du: 20 kg gạo/người/tháng ~70 ngàn
- Vùng thành thị dưới 25 kg gạo/người/tháng ~ 90 ngàn
Còn hộ đố là những có thu nhập bình quân đạt 13 kg gạo /người/tháng.
Theo chuẩn mực này thì đến cuối năm 2000 cả nước còn 10% hộ đói nghèo .
Theo quy định mới của bộ lao động thương binh xã hội thì chuẩn mực áp dụng cho
giai đoạn 2001 - 2005 sẽ là:
- Vùng nông thôn miền núi hải đảo dưới 80 ngàn
- Vùng nông thôn đồng bằng trung du dưới 100 ngàn
- Vùng thành thị dưới 150 ngàn
Theo chuẩn mới này đến đầu năm 2001 cả nước có khoảng 27 triệu hộ
nghèo chiếm tỷ lệ 17% tổng số hộ trong cả nước trong đó có 4 vùng tỷ lệ nghèo đói
chiếm trên 30% .
Tuy nhiên nếu tính theo định mức mà ngân hàng thế giới nêu ra thì Việt
Nam đã giảm được tỷ lệ đói nghèo từ 53% năm 1993 xuống còn 37% năm 1998.
hội, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Muốn thực hiện xoá đói giảm nghèo
thành công thì cần phải kết hợp xoá đói giảm nghèo với các chương trình kinh tế
xã hội, khuyến khích nhân dân đem tài năng sức lực ra xây dựng tổ quốc, giảm dần
khoảng cách giầu nghèo giữa các vùng các tầng lớp dân cư, nâng cao chất lượng
cuộc sống.
c) Quan điểm xoá đói giảm nghèo trên cơ sở phát huy nội lực của người nghèo, xã
nghèo tự vươn lên thoát khỏi nghèo đói, kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước, cộng
đồng, đồng thời tranh thủ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hợp tác quốc tế,
đẩy nhanh xoá đói giảm nghèo vững chắc.
d) Quan điểm xoá đói giảm nghèo tập trung vào địa bàn nông thôn nơi chiếm 90%
số hộ đói nghèo, các xã đặc biệt khó khăn, khu căn cứ cách mạng, biên giới, đồng
bào dân tộc, phụ nữ nghèo.
3.2. Sự cần thiết phải thực hiện xoá đói giảm nghèo
Việt Nam là một trong những nước chậm phát triển đồng thời phải đương
đầu với 4 nguy cơ lớn: tụt hậu xa hơn về kinh tế, chệch hướng xã hội chủ nghĩa,
tham nhũng và tệ nạn quan liêu, và diễn biến hoà bình do các thế lực thù địch gây
ra. Các nguy cơ là đan xen vào nhau, tác động qua lại với nhau. Vì vậy muốn đi lên
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì Việt Nam phải thực hiện đồng thời cả 4
nhiệm vụ, không được quá coi nhẹ hay quá coi trọng một nguy cơ nào. Nước ta
vẫn còn là một nước kém phát triển đời sống nhân dân còn quá thấp trong khi cuộc
cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Nếu chúng ta không cố gắng vươn lên thì
chúng ta sẽ càng tụt hậu xa hơn về kinh tế.
Thực hiện xoá đói giảm nghèo còn giúp củng cố lòng tin của nhân dân đối
với về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước .
4. Những nhân tố ảnh hưởng tới công tác xoá đói giảm nghèo .
4.1. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội.
Đây là nhân tố cơ bản, xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
mà bất kỳ giai cấp tầng lớp nào nắm quyền hành Nhà nước đều phải đưa ra. Đó là
kim chỉ nam định hướng cho sự phát triển kinh tế xã hội. Nước ta là một nước của
dân do dân và vì dân vì vậy việc chăm lo đến các mặt của đời sống nhân dân là
động, giúp họ có thêm thu nhập cải thiện đời sống để từ đó thoát khỏi đói nghèo,
giúp họ cởi trói tâm lý mặc cảm an phận, bi quan để vươn lên làm giàu cho bản
thân và xã hội
II/ NHỮNG CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC XOÁ ĐÓI GIẢM
NGHÈO .
1. Tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam trong thời gian qua.
Đối với đất nước ta thế kỷ 20 là thế kỷ của những biến đổi to lớn, thế kỷ đấu
tranh oanh liết giành lại độc lập dân tộc tự do thống nhất đất nước và xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Thế kỷ của những chiến công và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời
đại. Nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu đã bước vào thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Năm 1975 nước ta đã hoàn toàn giải phóng, thoát khỏi ách thống trị của chủ
nghĩa thực dân phong kiến, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy vậy công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt nam đã gặp không ít những khó khăn là:
-Sự bao vây về kinh tế: Việt Nam tuy đã hoàn toàn được giải phóng có độc
lập chủ quyền nhưng vẫn bị bao vây, cấm vận về kinh tế. Nên Việt Nam chưa thể
mở rộng hợp tác làm ăn với nhiều nước trên thế giới.
- Việt Nam đi lên xã hội chủ nghĩa từ một nền kinh tế thuần nông với hơn
85% dân số sống bằng nghề nông, trình độ dân trí thấp, công cụ lao động thô sơ, cơ
sở hạ tầng yếu kém với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chỉ có hai thành phần là
kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể được phép hoạt động.
- Cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra vào cuối thập kỷ 70 và kéo dài suốt thập
kỷ 80 gây ra tình trạng:
+ Tốc độ tăng trưởng trì trệ kéo dài, có năm tốc độ tăng trưởng âm.
+ Lạm phát cao kéo dài, đặc biệt năm 1988 đã lên tới 774,7%.
+ Nhập siêu nghiêm trọng, tổng giá trị xuất khẩu thường chỉ bằng 1/3 tổng
giá trị nhập khẩu.
+Tình trạng khan hiếm hàng hoá, cung không đủ cầu diễn ra khá phổ biến và
kéo dài.
Cuộc khủng hoảng này đã góp phần giúp Việt Nam trong việc lựa chọn
Theo báo cáo của tỉnh Hà tây năm 1998, cả nước có 1498 xã có tỷ lệ nghèo
trên 40% trở lên và 1168 xã thiếu cơ sở hạ tầng. Trong đó 2/3 số xã có tỷ lệ hộ
nghèo đói trên 40% trở lên vừa thiếu cơ sở hạ tầng là các xã miền núi. Ngày 24
tháng 12 năm 1999, thủ tướng chính phủ đã phê duyệt danh sách 1870 xã đặc biệt
khó khăn và xã biên giới, trong đó có 1726 xã đặc biệt khó khăn và 144 xã biên
giới. Ngân sách trung ương sẽ đầu tư cho 1602 xã đặc biệt khó khăn và 144 xã
biên giới, ngân sách địa phương sẽ đầu tư cho 124 xã đặc biệt khó khăn.
Do có sự phân chia lại về đơn vị hành chính, một số xã được tách ra nên
hiện nay tổng số xã đặc biệt khó khăn và biên giới được đầu tư thông qua các dự án
xoá đói giảm nghèo thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giải quyết việc làm là
1878 xã. Ngoài danh sách 1878 xã này, còn có khoảng 500 xã cũng thuộc loại
nghèo và có nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng nên tổng số xã cần được đầu tư hiện nay
là 2200 xã.
- Theo chuẩn mực cũ thì cuối năm 2000 còn 10% tỷ lệ hộ đói nghèo. Trong
đó:
+ Có 13 tỉnh thành phố tỷ lệ đói nghèo dưới 5%.
+ 18 tỉnh có tỷ lệ đói nghèo từ 5 % đến 10%.
+ 27 tỉnh có tỷ lệ đói nghèo từ 10% đến 20%.
+ 2 tỉnh có tỷ lệ hộ đói trên 20% là Bắc Kạn và Quảng Bình.
+ Đặc biệt Riêng Lai Châu có tỷ lệ đói nghèo 31%.
- Theo chuẩn mực mới đầu năm 2001, cả nước có 2,7 triệu hộ nghèo Khoảng
13,5 triệu người chiếm tỷ lệ 17%, trong đó số hộ thường xuyên thiếu đói chiếm
gần 1% tổng số hộ trong cả nước
- Về cơ sở hạ tầng xã nghèo đến đầu năm 2001đã có trên 90% xã có đường ô
tô đến trung tâm xã, 80% xã có đủ trường học, lớp học bậc tiểu học, 98% số xã có
trạm y tế, 80% xã có công trình thuỷ lợi nhỏ, 70% xã có trên 50% số hộ được sử
dụng nước sạch, 85% xã có điện sinh hoạt tới trung tâm xã, 70% xã có chợ hoặc
chợ trung tâm được xây dựng.
Nhìn chung về thu nhập bình quân đầu người hiện nay vẫn ở mức thấp,
khoảng 350 USD, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt, đặc biệt giữa thành thị
349.139
298.386
433.257
271.593
107.914
166.758
442.736
2.069.7
83
16.87
14.42
20.93
13.12
5.21
8.06
21.39
100
Nguồn: Ngân hàng phục vụ người nghèo (năm 1999)
3. Nguyên nhân của nghèo đói.
Đói nghèo là hậu quả của rất nhiều nguyên nhân, ở Việt Nam những nguyên
nhân chính gây ra đói nghèo được chia làm 3 nhóm.
-Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên khí hậu: Khí hậu khắc nghiệt, thiên
tai, lũ lụt, hạn hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, kinh tế
chậm phát triển, do hậu quả của chiến tranh để lại.
- Nhóm nguyên nhân chủ quan của người nghèo: Thiếu kiến thức làm ăn,
thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc tệ nạn xã hội hoặc
lười lao động, do tập quán canh tác, cách thức sản xuất chưa được cải thiện.
- Nhóm nguyên nhân về cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không đồng bộ về các
chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng cho các vùng khó khăn, chính sách khuyến khích
nào cũng có nhiều việc để đi làm thuê.
+ Đất đai canh tác ít: Số liệu điều tra cho thấy 61% hộ nghèo thiếu đất và ở
nhiều nơi có tình trạng các hộ nghèo không có khả năng thanh toán những khoản
nợ đối với uỷ ban nhân dân xã, cho nên địa phương đã dùng biện pháp rút bớt
ruộng đất giao cho họ, vì vậy họ thiếu ruộng. Thêm vào đó một số gia đình không
có khả năng thâm canh nên không dám nhận đủ số ruộng được giao. Do đó bình
quân một hộ nghèo chỉ có 2771 m
2
đất nông nghiệp.
+ Một nguyên nhân nữa của sự đói nghèo là do số nhân khẩu đông lao động
lại ít: Bình quân một hộ nghèo có 5,8 nhân khẩu nhưng lao động chỉ có 2,4 người,
nếu tính cả lao động quy đổi thì cũng chỉ có 2,6 người. hiện tại một người trong độ
tuổi lao động của hộ nông dân nghèo phải nuôi khoảng 2 người, như vậy rất khó
khăn.
+ Ngoài các nguyên nhân kể trên còn một số các nguyên nhân khác nữa đó
là gặp tai nạn, rủi ro, thiên tai, dịch hoạ ...
Có thể hữu ích nếu phân chia ra hai nhóm đói nghèo. Nhóm thứ nhất thường
không có khả năng hoặc hầu như không tham gia vào nền kinh tế thị trường đang
tăng trưởng. Thậm chí nếu đường xá được mở mang, chương trình tín dụng được
phát triển và khả năng cải thiện mức sống được nâng cao thì họ vẫn bị bỏ lại phía
sau. Một số người tàn tật, những người cao tuổi, độc thân và các nhóm thiểu số
sống ở những vùng bị cách biệt đều thuộc về những nhóm trên. Nhóm thứ hai là
những người hiện nay đang nghèo nhưng có tưopưng lai sáng sủa hơn khi mà bản
thân làng của họ có đường sá tốt hơn để giao lưu với thị trường lớn, hoặc khi vay
vốn tín dụng sẵn có và dễ dàng hơn. Họ có thể trồng các loại cây khác hoặc tham