MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
THẺ TẠI SGD NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT
NAM
3.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh thẻ từ 2003-2010
Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VIII có nêu rõ “ Từ nay đến năm 2020 ra
sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Lực lượng sản
xuất đến lúc đó sẽ đạt trình độ tương đối hiện đại ... .Tổng sản phấm trong nước
tăng từ 8 đến 10 lần so với năm 1990. Trong cơ cấu kinh tế tuy nông nghiệp tiếp
tục phát triển mạnh, song công nghiệp và dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng rất lớn trong
tổng sản phẩm trong nước và trong lao động xã hội”.
Với định hướng như vậy, Đảng ta đã đề ra các chương trình phát triển để đạt
các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Các nhà kinh tế đã nhận định:
đến năm 2010, GDP bình quân đầu người tăng gấp đôi năm 2000 và sẽ đạt khoảng
700 USD / năm. Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt khoảng 6 - 8%;
sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp khoảng 4,5 - 5%, công nghiệp 14 - 15%, dịch vụ
12 - 13%, xuất khẩu khoảng 28%. Tỷ lệ đầu tư / GDP khoảng 25%. Năm 2010,
nông nghiệp chiếm khoảng 14 - 15%, công nghiệp và xây dựng 34 - 35%, dịch vụ
49 - 50% GDP.
Trong những năm tới, với môi trường kinh tế và xã hội phát triển như vậy,
sẽ có nhiều nhân tố tích cực thúc đẩy quá trình phát triển hoạt động kinh doanh thẻ,
phạm vi sử dụng và thanh toán thẻ sẽ ngày càng được mở rộng.
*Đối với nghiệp vụ phát hành thẻ
Nhiệm vụ trọng tâm của SGD là tập trung lỗ lực đẩy mạnh hoạt động kinh
doanh thẻ.Phối hợp với các phòng ban khác trong SGD để tạo nên 1 sự nhịp nhàng
trong phát hành nhằm cải tiến cả về chất lượng và số lượng của hoạt động này. Để
giới thiệu rộng rãi hình thức thanh toán tiên tiến này, các chương trình tiếp thị
quảng cáo, khuyến mãi lớn cần được xúc tiến cả về chiều rộng và chiều sâu .
*Đối với công tác nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới.
Hiện nay, SGD NHNN&PTNT VN chỉ mới phát hành các sản phẩm thẻ nội
địa với số lượng chưa nhiều ,các sản phẩm thẻ quốc tế mới đang trong giai đoạn
triển khai. Giai đoạn sắp tới sẽ tổ chức phát hành sản phẩm thẻ quốc tế mang
ATM lên 1082 máy trong toàn hệ thống ngân hàng nông nghiệp và dần dân đưa hệ
thống máy ATM vào đời sống.
Tiếp tục mở rộng các hoạt động kinh doanh thẻ. Lượng giao dịch thanh toán
thẻ được xử lý tự động đảm bảo an toàn và phòng ngừa rủi ro cho hoạt động thẻ sẽ
đạt tới khoảng 90%, tăng cường các hoạt động Maketing tới mọi tầng lớp dân cư
trong xã hội .Phấn đấu thực hiện tốt các chỉ tiêu kế hoạch được giao năm 2007.
Nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ khách hàng. Phấn đấu thị phần tăng 10% so
với năm 2006
* Đối vói nghiệp vụ thanh toán thẻ
Đảm bảo cho các phần mềm quản lý và xử lý cấp phép, thanh toán hoạt
động ổn định, tăng cường phối hợp với bưu điện và các khách hàng có liên quan
nhằm khắc phục lỗi của hệ thống, khai thác toàn diện hệ thống thẻ chuẩn quốc tế
SeMa, giảm các chương trình giao diện để nâng cao khả năng an toàn và ổn định
của hệ thống công nghệ thẻ .
Đầu tư chiến lược Marketing để mở rộng thị trường thanh toán dưới các hình
thức: Tăng chi phí marketing để nghiên cứu phát triển các sản phẩm thẻ mới, khuyến
mãi khách hàng sử dụng thẻ ,tranh thủ kinh nghiệm và nguồn lực của đối tác nước
ngoài.
Duy trì và phát triển các cơ sở chấp nhận thẻ song song với việc tự động hóa
và nâng cao chất lượng phục vụ thanh toán thẻ tại các cơ sở này. Hợp tác với các
ngân hàng chưa thanh toán thẻ để mở rộng mạng lưới CSCNH. Giảm chi phí cho
các CSCNH có doanh số thanh toán lớn và ổn định.
Nghiên cứu kết hợp thanh toán thẻ với các nghiệp vụ thanh toán khác của
Ngân hàng một cách dồng bộ và có sức cạnh tranh nhất.
*Đối với tổ chức con người
Tổ chức tập huấn trong và ngoài nước cho đội ngũ cán bộ nhân viên để có
thể đáp ứng ngày càng cao đòi hỏi của sự thay đổi về công nghệ thẻ trên thế giới.
Xây dựng tinh thần đoàn kết, học hỏi giúp đỡ lẫn nhau vì mục tiêu là hoàn
thành tốt công việc giữa các nhân viên.
* Đối với công nghệ kỹ thuật
không những đạt được kế hoạch đề ra mà còn vững mạnh hơn nữa trong hoạt động
thẻ? Trên cơ sở nghiên cứu về nghiệp vụ thẻ ,về thực trạng hoạt động và phát triển
kinh doanh thẻ tại SGD NHNN &PTNT VN em xin đưa ra một số ý kiến cũng như
đề xuất để thúc đẩy việc kinh doanh thẻ tại SGD NHNN &PT NT VN như sau:
3.2.1.1 Giải pháp về hoạt động Marketing.
*Lựa chọn thị trường mục tiêu
Ngân hàng là chủ thể quan trọng nhất trong việc mở rộng và phát triển dịch
vụ thẻ thanh toán.Kinh doanh thẻ là hoạt động kinh doanh mới có ứng dụng công
nghệ kỹ thuật cao và hiện đại, có triển vọng rất to lớn trong tương lai. Vấn đề đặt
ra là để phát triển hoạt động kinh doanh này đòi hỏi lượng đầu tư ban đầu tương
đối lớn và có tính chất lâu dài nên không phải ngân hàng nào cũng có điều kiện và
thế mạnh để tham gia ngay. Vì vậy, SGD NHNN& PTNT VN cần căn cứ vào lợi
thế và khả năng của mình trên thị trường để xây dựng một chiến lược thị trường
chính xác và ổn định. Trên cơ sở xác định đúng khách hàng mục tiêu ngân hàng có
thể đưa ra các đối sách kinh doanh phù hợp hơn với yêu cầu của nhóm khách hàng
đã chọn từ đó xác định hướng đầu tư và mức đầu tư cho hợp lý, hạn chế rủi ro và
nâng cao hiệu quả kinh doanh. Như chúng ta đã biết Việt Nam là một nước đông
dân nên sẽ có thị trường tiềm năng phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ, tuy
nhiên so với các nước khác trên thế giới chúng ta vẫn ở trong nhóm nước chậm
phát triển ,hơn 70% dân số sống ở nông thôn và gần 80% lao động làm trong lĩnh
vực nông nghiệp, thu nhập còn thấp như vậy đây không phải là đối tượng để phát
triển kinh doanh thẻ.
Nhóm đối tượng khách hàng thứ hai là dân cư thành thị.Ở thành thị các
thành phần có đa dạng hơn nhưng phần đông là những người buôn bán nhỏ ,cán bộ
công nhân viên trong các cơ quan nhà nước Mức thu nhập hàng tháng cộng với câc
khoản phụ cấp khác vào khoảng hơn 1,5 triệu đồng.Chính vì vậy ,việc phát triển
kinh doanh thẻ nhằm vào đối tượng này sẽ là không kinh tế ,chắc chắc lợi nhuận
thu được sẽ không cao, bộ phận dân cư thành thị được hưởng dịch vụ ngân hàng rất
hạn chế, chỉ đơn giản ở nghiệp vụ gửi tiền tiết kiệm và 1 số nghiệp vụ khác . Chính
vì vậy, việc phát triển dịch vụ ngân hàng hướng vào khu vực tư nhân, trong đó có
đa dạng hóa sản phẩm thẻ phát hành là một yếu tố góp phần thúc đẩy hoạt động
của nghiệp vụ thẻ trở nên linh động và hiệu quả.Với thực trạng sản phẩm thẻ còn
quá đơn điệu trong hoạt động thẻ hiện nay tại SGD thì việc đa dạng hóa sản phẩm
thẻ cung ứng càng trở nên cấp thiết.
Tính cho đến thời điểm hiện nay SGD mới triển khai được hai loại thẻ nội
địa cơ bản đó là thẻ tín dụng nôi địa và thẻ ghi nợ nội địa.Sản phẩm thẻ quốc tế
mới (Thẻ tín dụng quốc tế Visa và Master) đang trong giai đoạn triển khai và dự
kiến chuẩn bị phát hành trong năm tới .Bộ phận phụ trách về thẻ tại SGD cần có
những kế hoạch cụ thể để mở rộng phạm vi thẻ tín dụng nội địa ,không chỉ dừng lại
ở việc cấp tín dụng cho nội bộ cán bộ trong SGD mà phải phát triển đối với khách
hàng bên ngoài. Hiện nay có 3 giải pháp khác nhau để phát hành thẻ nội địa đó là:
Hiệp hội thẻ VN đứng ra yêu cầu các ngân hàng thành viên phát hành thẻ
nội địa dùng chung cho các ngân hàng.Mọi giao dịch thanh toán bằng thẻ đều sử
dụng đồng VN và thanh toán tập trung thông qua hiệp hội thẻ. Các giao dịch này
không tốn chi phí cho việc truyền nhận dữ liệu giữa các ngân hàng trong nước với
các ngân hàng quốc tế.
- Một vài ngân hàng thành viên của hiệp hội thẻ Việt Nam thỏa thuận với
nhau phát hành một loại thẻ tín dụng dùng chung cho các ngân hàng và chỉ dùng
trong lãnh thổ VN. Loại thẻ nội địa này giống như các loại thẻ trên nhưng không
phải là thẻ của tất cả các ngân hàng thành viên mà là của 1 nhóm ngân hàng, quá
trình thanh toán không thông qua Hiệp hội thẻ VN mà trực tiếp liên lạc và thanh
toán bù trừ cho nhau.
- Thẻ nội địa do một ngân hàng thành viên phát hành chỉ sử dụng ở VN Đây
là thẻ tín dụng nội địa có tính năng tương tự như thẻ tín dụng quốc tế và được sử
dụng tại các chi nhánh đại lý của ngân hàng phát hành.
Bên cạnh việc phát hành thêm thẻ ghi nợ, ngân hàng cũng nên phát hành loại
thẻ liên kết. Ngân hàng cần tăng cường việc triển khai phát hành thẻ liên kết giữa
ngân hàng và các doanh nghiệp lớn như bưu điện, hàng không, taxi, các trung tâm
thương mại…Việc phát hành loại thẻ này đem lại lợi ích cho các bên liên quan. Về
phía khách hàng, họ sẽ nhận được những ưu đãi đặc biệt khi thanh toán tại các
ra nhiều kênh phân phối để sản phẩm đến được với khách hàng thuận tiện, hợp lý
và thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng.
Một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện việc sử dụng thẻ là việc
mở tài khoản tại ngân hàng. Vì vậy, SGD ngân hàng cần có những biện pháp
khuyến khích để tăng số lượng tài khoản cá nhân tại ngân hàng như: khách hàng
không phải nộp lệ phí khi thực hiện các nghiệp vụ thanh toán qua tài khoản tiền
gửi tại ngân hàng, khách hàng được hưởng lãi suất không kì hạn cho các khoản dư
nợ trên tài khoản, ngân hàng có những hình thức khuyến mãi cụ thể như gửi quà
lưu niệm đối với các khách hàng thường xuyên giao dịch và có số dư bình quân
trên tài khoản tiền gửi ổn định vào những ngày lễ hoặc bốc thăm may mắn dành
cho các khách hàng mở tài khoản trong một khoản thời gian nhất định.
3.2.1.2 Giải pháp nhằm mở rộng mạng lưới cơ sở chấp nhận thẻ
SGD NHNN&PTNT VN cần phải tăng nhanh mạng lưới CSCNT vì đây là
một chủ thể quan trọng trong quy trình thanh toán thẻ. Số lượng CSCNT là cũng là
một trong những yếu tố quan trọng nhằm đẩy mạnh doanh số thanh toán cũng như
số thẻ phát hành.Do thẻ được sử dụng quá ít tại Việt Nam nên các CSCNT chưa
thấy được những lợi ích có thể nhận được từ việc thanh toán thẻ. Hiện nay, vì các
máy đọc thẻ được lắp đặt miễn phí tại các CSCNT nên chi phí của ngân hàng khá
cao nếu đầu tư phát triển rộng mạng lưới CSCNT trong khi đó các CSCNT lại
không có ý thức bảo quản máy. Để mở rộng các CSCNT, điều quan trọng là ngân
hàng phải làm cho các CSCNT cần đến ngân hàng. Ngân hàng nên dành cho các cơ
sở này những ưu đãi trong hoạt động giao dịch với ngân hàng như trong các hoạt
động cho vay, thanh toán… Khi thấy rằng những ưu đãi này đem lại những hiệu
quả thiết thực cho các CSCNT, các cơ sở khác cũng sẽ tự nguyện muốn tham gia
vào mạng lưới này. Đối với những CSCNT mới, ngân hàng vẫn tiếp tục tiến hành
trang bị cho họ máy đọc thẻ nhưng không trang bị miễn phí nữa. Ngân hàng nên
yêu cầu các cơ sở này đóng góp một phần kinh phí nhất định hoặc chỉ cho họ sử
dụng trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó cho họ thuê hoặc mua lại. Khi
phải bỏ tiền ra để đầu tư dưới hình thức này, các CSCNT sẽ có ý thức hơn trong
việc giữ gìn và bảo quản các máy móc và thúc đẩy tăng doanh số theo hình thức
Tăng cường quản lý rủi ro cho phát hành và thanh toán thẻ là mối quan tâm
hàng đầu của Sở giao dịch ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam. Việc xây dựng quy trình nghiệp vụ của mỗi bộ phận chặt chẽ an toàn, việc
đảm bảo cho hệ thống quản trị dữ liệu hoạt động ổn đinh, hiệu quả đã góp 90% cho
quản lý rủi ro.
Một chủ thẻ có thể sử dụng thẻ của mình để chi tiêu trên khắp thế giới tại
các cơ chấp nhận thẻ (CSCNT) thích hợp. Luồng thông tin và luồng chu chuyển
tiền liên quan đến việc chi tiêu này của chủ thẻ là rất lớn và luôn vận động. Do vậy
đặt ra yêu cầu bức thiết về công nghệ ( hệ thống quản lý và xử lý thông tin: phần
cứng phần mềm tại ngân hàng và các thiết bị đầu cuối chấp nhận thanh toán thẻ tại
các cơ sở cung ứng hàng hoá dịch vụ) cũng như nhân sự quản lý đối với SGD
NHNN& PTNT Việt Nam. Hệ thống quản lý này đóng vai trò đặc biệt quan trọng
trong việc cung cấp dịch vụ đạt chất lượng cao cho khách hàng - chủ thẻ, CSCNT
và việc phòng ngừa rủi ro, thiệt hại do nạn lừa đảo, giả mạo gây ra.
3.2.1.4 Giải pháp về nguồn nhân lực