Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại SGD Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Pdf 12

Danh mục từ viết tắt :
NH: Ngân hàng
NHNo&PTNT VN : Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
SGD: Sở giao dịch
DN: Doanh nghiệp
TPKT: Thành phần kinh tế
KT- XH: Kinh tế- xã hội
DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
Sinh viên: Lê Trung Kiên
Lớp : KTNN 46A
1
Danh mục bảng biểu
Bảng Nội dung Trang Nguồn
Bảng 2.1
Kết quả huy động vốn của SGD
trong 3 năm gần đây 29
Báo cáo hoạt động kinh doanh
3 năm gần đây của SGD
NHNo&PTNT VN
Bảng 2.2
Tình hình cho vay tại SGD
NHNo&PTNT VN trong năm
2005,2006 và 2007.
31 nt
Bảng 2.3
Kết quả hoạt động tài chính của
SGD NHNo&PTNT VN trong năm
2005,2006 và 2007.
32 nt

- Thu thập số liệu thứ cấp (số liệu thống kê) tại SGD NHNo&PTNT
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phỏng vấn mở các cán bộ của SGD NHNo&PTNT VN
- Phương pháp thống kê.

Sinh viên: Lê Trung Kiên
Lớp : KTNN 46A
3
4.Phạm vi nghiên cứu :
Phòng tín dụng và các phòng ban liên quan
Thị trường khách hàng của SGD NHNo&PTNT VN
Thời gian: 2005-2006-2007
5.Kết cấu chuyên đề:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, chuyên đề kết cấu thành 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về sử dụng vốn của NHNo&PTNT VN
Chương II: Thực trạng sử dụng vốn tại SGD NHNo&PTNT VN
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại SGD NHNo&PTNT VN.
Sinh viên: Lê Trung Kiên
Lớp : KTNN 46A
4
Chương I: Lý luận chung về vốn của NHNo&PTNT VN:
1.Vốn và vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT VN
1.1/ Khái niệm về vốn:
Sẽ là không tưởng khi nói đến phát triển kinh tế mà không có vốn hoặc không
đủ vốn. Vốn đối với phát triển kinh tế không phải chỉ là vốn bằng tiền mặc dù đầu tư
vốn bằng tiền có ý nghĩa rất quan trọng trong nền kinh tế hàng hoá- tiền tệ. Cùng với
quá trình chuyển đồi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, nhiều
vấn đề từ lý luận đến thực tiễn vận hành vào nền kinh tế cần phải được nhận thức lại
cho đúng, trong đó nhận thức đúng về vốn có ý nghĩa rất lớn, nhằm thấy hết vai trò
của vốn trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế nước ta.

Trước hết, NHNo&PTNT cũng như bất kỳ doanh nghiệp nào muốn hoạt động
kinh doanh đều phải có vốn.Bởi vì, vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả
năng kinh doanh. Riêng đối với NHNo&PTNT , vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức
mọi hoạt động kinh doanh của mình. Nói cách khác, ngân hàng không có vốn thì
không thể thực hiện được các nghiệp vụ kinh doanh. Bởi vì, với đặc trưng của hoạt
động ngân hàng, vốn không chỉ là điều kiện để kinh doanh chính mà còn là đối tượng
kinh doanh chủ yếu của ngân hàng. NHNo&PTNT có rất nhiều vốn nên có thế mạnh
trong kinh doanh. Ngoài số vốn ban đầu cần thiết, ngân hàng còn phải thường xuyên
chăm lo tới việc tăng trưởng vốn, tức là tạo vốn trong suốt quá trình hoạt động của
mình.
Vốn tại ngân hàng sẽ quyết định qui mô hoạt động kinh doanh và các
hoạt động khác của ngân hàng:
Vốn tại ngân hàng có tính quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối
lượng tín dụng. NHNo&PTNT có số vốn lớn, nên các khoản mục đầu tư và cho vay
khá đa dạng, nguồn vốn luôn đáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng và giúp ngân hàng
có điều kiện không ngừng mở rộng thị trường kinh doanh của mình. Các mặt hoạt
động khác như kinh doanh ngoại hối, vàng, bạc, bảo lãnh, thanh toán, dịch vụ tư vấn,
đầu tư, liên doanh,… cũng không thể thoát ly được yếu tố vốn.
Vốn tại NHNo&PTNT quyết định khả năng thanh toán của ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và ngày càng mở rộng qui mô hoạt
động đòi hỏi NHNo&PTNT ngày càng phải có uy tín lớn trên thị trường. Uy tín đó
Sinh viên: Lê Trung Kiên
Lớp : KTNN 46A
6
phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng
của ngân hàng. Vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn thì khả năng thanh toán của
ngân hàng càng cao. Vì vậy, loại trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán của ngân
hàng tỷ lệ thuận với vốn tại ngân hàng nói chung và vốn khả dụng của ngân hàng nói
riêng.Với tiềm năng vốn lớn, NHNo&PTNT có thể hoạt động kinh doanh với qui mô
ngày càng lớn, tiến hành kinh doanh có hiệu quả, uy tín được đảm bảo và nâng cao,

doanh của NHNo&PTNT
− Vốn thuộc sở hữu của ngân hàng ( vốn tự có ):
Vốn tự có của ngân hàng là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được, thuộc
sở hữu của ngân hàng. Vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn tại ngân
hàng, nhưng lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi mới bắt đầu thành lập ngân hàng.
Do tính chất thường xuyên ổn định của vốn tự có, ngân hàng có thể chủ động sử
dụng chúng vào các mục đích như : Trang bị cơ sở vật chất, tài sản cố định phục vụ
cho bản thân ngân hàng.Mặt khác, với chức năng bảo vệ, vốn tự có được coi như tài
sản đảm bảo gây lòng tin với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường
hợp ngân hàng gặp nhiều thua lỗ. Nó còn là một trong những căn cứ quyết định đến
quy mô và khối lượng vốn huy động của ngân hàng ( điều này được luật quy định cụ
thể ). Theo luật các tổ chức tín dụng, vốn tự có là yếu tố cơ bản để xác định các chỉ
tiêu an toàn của ngân hàng.
Vốn tự có của NHNo&PTNT gồm những thành phần cơ bản sau :
 Thành phần chủ yếu nhất trong cơ cấu vốn tự có là vốn điều lệ được hình
thành do ngân sách Nhà nước cấp.
 Vốn tự có bổ sung vốn điều lệ thông thường : Vốn của ngân hàng không
ngừng được tăng lên theo thời gian nhờ có nguồn vốn bổ sung :
 Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ được trích từ lợi nhuận ròng hàng
năm của ngân hàng theo một tỷ lệ nhất định tuỷ theo Luật ngân
hàng quy định nhằm mục đích tăng cường vốn tự có ban đầu.
 Quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt
động kinh doanh của ngân hàng, nhằm đảm bảo vốn điều lệ.
Sinh viên: Lê Trung Kiên
Lớp : KTNN 46A
8
 Ngoài ra, vốn tự có bổ sung còn bao gồm lợi nhuận chưa phân bổ
hoặc các quỹ nghiệp vụ khác như: Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp
vụ ngân hàng, quỹ phúc lợi, khen thưởng, khấu hao…
Vốn tự có của ngân hàng nhằm cung cấp một vùng đệm, bù đắp sự thua lỗ và cho

trên 70%..
Theo đối tượng huy động vốn, ngân hàng có thể huy động vốn tiền gửi từ các đối
tượng sau : Các tổ chức kinh tế; các tầng lớp dân cư; các ngân hàng và tổ chức tài
chính khác. Trong đó, nguồn vốn tiền gửi của các doanh nghiệp, dân cư là quan trọng
nhất, vì nó là nguồn vốn chủ yếu và mang tính chất lâu dài.Mọi ngân hàng đều phải
biết dựa vào tiết kiệm và tích luỹ của các doanh nghiệp và dân cư để huy động vốn.
Các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng với mục đích tạo tiền đề cho việc sử dụng
các dịch vụ ngân hàng, cá nhân gửi tiền vào ngân hàng với mục đích tìm kiếm thêm
thu nhập qua việc ngân hàng trả lãi cho các khoản tiền gửi này.
− Các khoản vay của ngân hàng khác và của ngân hàng Trung ương:
Vốn đi vay là quan hệ vay mượn giữa NHNo&PTNT với ngân hàng Trung ương,
hoặc với các ngân hàng thương mại khác hay các tổ chức tài chính khác.
NHNo&PTNT sẽ đi vay vốn để bổ sung vào vốn hoạt động của mình khi
NHNo&PTNT đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ vốn hoạt động, hay
nói cách khác ngân hàng tạm thời thiếu vốn khả dụng.
Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn mà NHNo&PTNT chia thành
các loại : Vốn vay ngắn hạn bổ sung, vay để thanh toán và vay tái cấp vốn.
 Vốn vay ngắn hạn là hình thức mà ngân hàng xin vay vốn bổ sung vốn
ngắn hạn của mình. Trong hình thức vay này, ngân hàng chỉ được vay khi
còn hạn mức tín dụng hoặc trong hạn mức tín dụng đã thoả thuận.
 Vốn vay để thanh toán : NHNo&PTNT vay ngân hàng Trung ương nhằm
bù đắp thiếu hụt tạm thời trong thanh toán.
 Tái cấp vốn: Ngân hàng Trung ương cho NHNo&PTNT vay trên cơ sở
chứng từ có giá. Các chứng từ này phải bảo đảm tính hợp lệ, hợp pháp bảo
đảm an toàn. Tái cấp vốn gồm hai hình thức :
• Tái chiết khấu : Ngân hàng Trung ương nhận các chứng từ có giá
mà NHNo&PTNT đã chiết khấu trước đây để thực hiện nghiệp vụ
Sinh viên: Lê Trung Kiên
Lớp : KTNN 46A
10

11
Hoạt động sử dụng vốn của NHNo&PTNT được tập trung nghiên cứu trong
Chuyên đề này là hoạt động đầu tư vốn tín dụng,Vì vậy, chuyên đề chỉ xem xét hiệu
quả sử dụng vốn đối với NHNo&PTNT dưới góc độ hiệu quả hoạt động đầu tư vốn
tín dụng của NHNo&PTNT .Xuất phát từ vai trò, cơ chế hoạt động của
NHNo&PTNT liên quan đến việc thông qua đánh giá hiệu quả bằng hệ thống chỉ
tiêu ( định tính, định lượng) về hoạt động đầu tư vốn tại NHNo&PTNT , cần nhất
quán: Thứ nhất, hiệu quả đầu tư vốn tại NHNo&PTNT cao hay thấp thể hiện ở chỗ
đầu tư vốn làm gì để góp phần thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, thúc đẩy nền
kinh tế xã hội phát triển. Tiếp đến, hiệu quả hoạt động đầu tư vốn đối với
NHNo&PTNT còn thể hiện trực tiếp mang lại hiệu quả cho công tác ngân hàng :
Làm lợi cho ngân hàng một trong các chỉ tiêu, một số chỉ tiêu hoặc tất cả : Lợi nhuận,
số lượng khách hàng, tăng thị phần…Giữa hai nhận thức này có quan hệ chặt chẽ, bổ
sung cho nhau và không thể tách rời nhau.
Như vậy, trước hết, hiệu quả sử dụng vốn đối với NHNo&PTNT mà không
gắn liền với sự tăng trưởng của nền kinh tế thì hiệu quả đó sẽ là hiệu quả cục bộ. Do
đó, trong bất kỳ trường hợp nào, đầu tư vốn tại NHNo&PTNT cũng phải góp phần
thúc đẩy nền kinh tế phát triển, phù hợp với định hướng, mục tiêu của Nhà nước.Tuy
nhiên, đầu tư vốn không thể tham gia vào quá trình sản xuất- kinh doanh với bất kỳ
giá nào; ngân hàng không thể cho vay thiếu sự tính toán, cân nhẳc trên cơ sở các dự
án có tính khả thi. Hiệu quả sử dụng vốn đối với NHNo&PTNT phải được xác định
cả về định lượng và định tính.
Thứ hai, hiệu quả sử dụgn vốn đối với NHNo&PTNT còn phải đảm bảo thực
hiện mục tiêu của nguồn vốn huy động. Chẳng hạn, mục tiêu của nguồn vốn huy
động là để cho vay xoá đói giảm nghèo, có hoàn trả, không hoàn trả, có lãi suất,
không lãi suất, thời gian dài hay ngắn… tuỳ theo tính chất của từng nguồn vốn.
Thứ ba, hiệu quả sử dụng vốn đối với NHNo&PTNT còn phải thực hiện có
hiệu quả các cơ chế về đầu tư vốn tại NHNo&PTNT .
Từ những phân tích trên, chuyên đề rút ra nhận thức về hiệu quả sử dụng vốn
tại NHNo&PTNT như sau:

hội thay đổi. Mỗi chủ thể có những mục tiêu khác nhau khi tham gia hoạt động đầu
tư vốn.Mục tiêu của mỗi chủ thể cũng thay đổi tuỳ theo từng thời kỳ. Nếu
Sinh viên: Lê Trung Kiên
Lớp : KTNN 46A
13
NHNo&PTNT coi nâng cao lợi nhuận là tiêu chuẩn hàng đầu thì tiêu chuẩn cơ bản
để đánh giá hiệu quả kinh tế là lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận thu được từ hoạt động
đầu tư vốn đó. Còn khi ngân hàng không nhấn mạnh yêu cầu về lợi nhuận mà nhấn
mạnh mục tiêu trước mắt là phải thu hút khách hàng và mở rộng đầu tư vốn thì tiêu
chuẩn để đánh giá hiệu quả là số lượng dự án đầu tư và số lượng khách hàng được
đầu tư…
3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại NHNo&PTNT :
Chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn tại NHNo&PTNT có nhiều, nhưng
trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của chuyên đề chỉ nghiên cứu những chỉ tiêu chủ
yếu,trong đó thông qua các chỉ tiêu này tác động đến đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
tại NHNo&PTNT . Các chỉ tiêu chủ yếu là các chỉ tiêu đầu tư vốn tín dụng và một số
chỉ tiêu liên quan khác.
Hiệu quả sử dụng vốn là một khái niệm tổng hợp, vừa mang tính cụ thể, vừa
mang tính trừu tượng. Nó được biểu hiện qua các chỉ tiêu liên quan đến nhiều đối
tượng :NHNo&PTNT , bên sử dụng vốn tại NHNo&PTNT , tình hình kinh tế xã hội.
Các chỉ tiêu đó có thể là chỉ tiêu định lượng hay định tính và có mối liên hệ phụ
thuộc lẫn nhau. Do đó, để đánh giá một cách chính xác hiệu quả sử dụng vốn ( chủ
yếu là hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tín dụng) tại NHNo&PTNT thì phải đánh giá
toàn bộ các chỉ tiêu đó trong một hệ thống chỉ tiêu cả định tính lẫn định lượng. Đồng
thời, cũng cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để có sự ưu tiên cho chỉ tiêu này
hay chỉ tiêu khác, cho đối tượng này hay đối tượng khác.
Thứ nhất, các chỉ tiêu định tính
Hiệu quả sử dụng vốn tại NHNo&PTNT được thể hiện qua : Sau khi bỏ vốn
ra đầu tư trong một khoảng thời gian đã quy định trong hợp đồng sử dụng vốn tại
NHNo&PTNT ; khả năng sản xuất kinh doanh của các khách hàng vay vốn từ

rộng quy mô đầu tư tín dụng qua các thời kỳ.Dư nợ vay lớn và tốc độ cho tăng cho
thấy khả năng mở rộng tín dụng của NHNo&PTNT . Đây là tình hình tốt đối với
NHNo&PTNT .Tuy nhiên, đây mới chỉ là điều kiện chứ chưa thể khẳng định hiệu
quả sử dụng vốn tín dụng của NHNo&PTNT mà cần phải kết hợp nghiên cứu, phân
tích với các chỉ tiêu khác.
Sinh viên: Lê Trung Kiên
Lớp : KTNN 46A
15
−Tổng vồn huy động : Là chỉ tiêu biểu hiện quy mô vốn mà NHNo&PTNT
huy động từ các nguồn vốn trong nền kinh tế xã hội và các tổ chức tài chính quốc
tế…trong một khoảng thời gian nhất định. Chỉ tiêu này biểu hiện khả năng cho vay
của -NHNo&PTNT . Nếu tổng vốn huy động cao, khả năng cho vay của
NHNo&PTNT lớn và ngược lại.Tuy nhiên, cũng cần kết hợp với các chỉ tiêu định
lượng khác để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tín dụng. Như,nếu tổng vốn huy động
của NHNo&PTNT lớn, trong khi doanh số cho vay nhỏ, tốc độ tăng doanh số cho
vay chậm thì hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của NHNo&PTNT thấp.
−Hiệu suất sử dụng vốn: Hiệu suất sử dụng vốn cho biết trong một đồng vốn
tại NHNo&PTNT cho vay là bao nhiêu. Tức là, chỉ tiêu này nói lên khả năng cho
vay vốn so với tổng nguồn vốn tại NHNo&PTNT . Hiệu suất sử dụng vốn càng cao
thì hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của NHNo&PTNT càng cao và ngược lại. Tuy
nhiên, cũng cần kết hợp với các chỉ tiêu khác để đánh giá một cách tổng quát, không
chỉ dựa trên cơ sở chỉ tiêu này để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của
NHNo&PTNT . Nếu chỉ dựa vào một chỉ tiêu này, đánh giá sẽ phiến diện, dễ dẫn đến
đánh giá sai.Ví dụ, tỷ lệ nợ quá hạn cao trong khi hiệu suất sử dụng vốn cũng cao thì
hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của NHNo&PTNT chưa hẳn đã cao, thậm chí còn
thấp.
−Tỷ lệ nợ quá hạn: Chỉ tiêu này phản ánh về tình hình nợ quá hạn của
NHNo&PTNT trong quá trình cho vay. Chấp nhận một tỷ lệ nợ quá hạn nhất định
được coi như giới hạn an toàn. Theo khuyến nghị của Ngân hàng thế giới, tỷ lệ này
nên ở mức dưới 5% là có thể chấp nhận được.

−Tổng giá trị tài sản bị rủi ro :Chỉ tiêu phản ánh tổng giá trị tài sản bị thiệt hại
do nhiều lần bị rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT .Thông
thường, chỉ tiêu này càng thấp thì mức độ rủi ro hoạt động tín dụng của
NHNo&PTNT càng nhỏ, hiệu quả tín dụng càng cao và ngược lại.
Sinh viên: Lê Trung Kiên
Lớp : KTNN 46A
17
−Tổng dư nợ/ Tổng tài sản Có: Chỉ số này tính toán hiệu quả sử dụng vốn tín
dụng của một đồng tài sản Có. Ngoài ra chỉ số này còn xác định quy mô hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
−Tỷ lệ dư nợ ngắn hạn/ Tổng dư nợ và Tỷ lệ dư nợ ngoài quốc doanh/ Tổng
dư nợ: Chỉ số này xác định cơ cấu tín dụng trong trường hợp tổng dư nợ được
phân theo thời hạn cho vay, theo đối tượng vay.
Mỗi loại chỉ tiêu nêu trên, trên từng góc độ nhất định đều phản ánh hiệu quả
sử dụng vốn tại NHNo&PTNT .Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà NHNo&PTNT vận
dụng chỉ tiêu nào để đánh giá trên từng góc độ khác nhau cho thích hợp và nhấn
mạnh chỉ tiêu này hay chỉ tiêu khác.
3.3.Sự cần thiết khách quan tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại
NHNo&PTNT
Mặc dù là ngân hàng quốc doanh, nhưng muốn tồn tại và phát triển,
NHNo&PTNT phải hoạt động có hiệu quả. Trong đó hoạt động sử dụng vốn là một
trong những hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHNo&PTNT .Vì vậy, tăng cường
hiệu quả sử dụng vốn phải đảm bảo các nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, tăng cường hiệu quả sử dụng vốn do yêu cầu hoạt động kinh doanh
của NHNo&PTNT :
Tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại NHNo&PTNT là nhằm đảm bảo cho
NHNo&PTNT thực hiện tốt chức năng kinh doanh tiền tệ gắn liền với các nghiệp vụ
trong kinh doanh, đảm bảo ngân hàng tồn tại và phát triển. Để thực hiện được mục
tiêu này đòi hỏi NHNo&PTNT phải đảm bảo được các yêu cầu:
−Hoạt động sử dụng vốn tại NHNo&PTNT vừa phải đảm bảo tính khách

trong lưu thông; nó góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng
trưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia. Đồng thời, thông qua các công trình
đầu tư vốn phát huy tác dụng, tạo ra những sản phẩm, dịch vụ cho nền kinh
tế, làm tăng uy tín quốc gia.
−Ngân hàng là một trong những công cụ để thực hiện các chủ trương của
Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tê- xã hội theo từng ngành, từng lĩnh
vực.Nâng cao chất lượng sử dụng vốn trên cơ sở tăng cường hiệu quả sử
dụng vốn sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự phát triển
Sinh viên: Lê Trung Kiên
Lớp : KTNN 46A
19
cân đối giữa các ngành, các vùng trong cả nước, ổn định và phát triển nền
kinh tế.
Hoạt động kinh doanh ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với nền kinh tế - xã
hội. Để có chất lượng hoạt động kinh doanh ngân hàng, hiệu quả sử dụng vốn ngoài
sự nỗ lực của bản thân NHNo&PTNT đòi hỏi nền kinh tế phải ổn định và phải có
một cơ chế, chính sách phù hợp, sự phối kết hợp nhịp nhàng có hiệu quả giữa các
cấp, các ngành tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Thứ ba, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của NHNo&PTNT :
Khi tăng cường hiệu quả sử dụng vốn không những nó có tác dụng với phát
triển nền kinh tế- xã hội, mà còn đảm bảo cho ngân hàng tồn tại và phát triển. Bởi vì,
thông qua nó:
−Là điều kiện mở rộng hoạt động kinh doanh ngân hàng làm tăng khả năng
cung cấp dịch vụ của NHNo&PTNT do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng
được vòng quay vốn và thu hút thêm được nhiều khách hàng bởi các hình
thức của sản phẩm, dịch vụ, tạo ra một hình ảnh tốt về biểu tượng và uy tín
của ngân hàng cùng sự trung thành của khách hàng.
−Tăng khả năng sinh lợi của các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng do giảm
được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý, các chi phí thiệt
hại do không thu hồi được vốn cho vay.Từ đó cải thiện được tình hình tài

dụng tới mức độ nào có ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn. Nếu mở rộng tín dụng
quá giới hạn cho phép sẽ làm tăng quá mức tổng phương tiện thanh toán, gây áp lực
lạm phát tốc độ cao. Trong trường hợp này, NHNo&PTNT sẽ chịu thiệt hại lớn do
giá trị đồng tiền giảm. Khi đó sử dụng vốn tuy tăng, nhưng hiệu quả sử dụng vốn sẽ
thấp. Ngoài ra, chính sách điều tiết kinh tế của Nhà nước nhằm ưu tiên hay hạn chế
sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực nào đó để đảm bảo sự cân đối trong nền
kinh tế cũng ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng.
Hoạt động sử dụng vốn có hiệu quả hay không phụ thuộc chủ yếu vào công
tác huy động và cho vay vốn. Hay nói cách khác là phụ thuộc vào chất lượng khách
hàng.Các hoạt động nghiệp vụ của NHNo&PTNT nhịp cầu nối giữa hoạt động kinh
doanh của ngân hàng với hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp.Do
đó, mỗi biểu hiện tốt hay xấu trong hoạt động của khách hàng sẽ có ảnh hưởng tương
Sinh viên: Lê Trung Kiên
Lớp : KTNN 46A
21
ứng tới hoạt động của ngân hàng thông qua các cơ chế tác động của thị trường.
Chẳng hạn, khi khách hàng sản xuất kinh doanh có lãi, có khả năng chiếm lĩnh thị
trường và có quan hệ tín dụng tốt thì cầu nối giữa đi vay và cho vay sẽ thống nhất,
tạo điều kiện tăng vòng quay tín dụng, mở rộng qui mô đầu tư. Bằng cơ chế chính
sách tín dụng phù hợp, NHNo&PTNT sẽ tìm kiếm được khách hàng tốt để cho vay,
tạo sự tương ứng hợp lý giữa nguồn vốn huy động với việc đáp ứng nhu cầu vay vốn
của khách hàng.
Chu kỳ phát triển kinh tế cũng có tác động tới hoạt động sử dụng vốn tại
NHNo&PTNT .Trong thời kỳ đình trệ sản xuất- kinh doanh bị thu hẹp, hoạt động sử
dụng vốn tại ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn trên cả hai phía huy động và sử dụng
vốn.Như, khi cần vốn để cho vay thì không huy động được, hoặc có khi huy động
được lại không cho vay được…gây nên tình trạng mất cân đối cung cầu và ngược lại.
Nhóm thứ hai, nhân tố xã hội :
Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sử dụng vốn tại NHNo&PTNT là
các tác nhân trực tiếp tham gia quan hệ ngân hàng, đó là người gửi tiền vào ngân

mạng lưới hoạt động, các công cụ quản lý kinh doanh…)
Ngoài những yếu tố trên, còn có những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động sử
dụng vốn như: Đạo đức xã hội, trình độ dân trí..Bên cạnh đó sự biến động của tình
hình kinh tế, chính trị xã hội ở nước ngoài cũng có ảnh hưởng tới chất lượng sử dụng
vốn. Ngoài ra hoạt động sử dụng vốn tại NHNo&PTNT còn phụ thuộc nhiều vào các
yếu tố môi trường như thời tiết, dịch bệnh, bão, lũ lụt.. và các biện pháp bảo vệ cải
thiện môi trường sinh thái.
Nhóm thứ ba, nhân tố pháp lý :
Nhân tố pháp lý bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính đầy đủ,
thống nhất, kịp thời của các văn bản dưới luật. Đồng thời gắn liền với trình độ dân trí
quá trình chấp hành luật. Thực tiễn kinh tế thị trường hàng trăm năm qua có cơ sở để
kết luận rằng: Pháp luật là bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế thị trường
có sự điều tiết của Nhà nước.Không có pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp thì
mọi hoạt động kinh tế sẽ không thể tiến hành trôi chảy được.Pháp luật là cơ sở pháp
lý để giải quyết các khiếu nại,tranh chấp có thể xảy ra, vì vậy nó có vị trí hết sức
quan trọng đối với hoạt động sử dụng vốn tại ngân hàng.Chỉ trong điều kiện các chủ
Sinh viên: Lê Trung Kiên
Lớp : KTNN 46A
23
thể tham gia quan hệ với ngân hàng tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh thì
hiệu quả hoạt động sử dụng vốn mới cao, hoạt động sử dụng vốn mới đem lại lợi ích
cho cả hai phía.
4.2.Các nhân tố bên trong :
Các nhân tố bên trong thường liên quan tới sự phấn đấu của bản thân ngân hàng
trên tất cả các mặt hoạt động kinh doanh và ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sử dụng
vốn của NHNo&PTNT dưới các góc độ. Ta có thể nghiên cứu sự ảnh hưởng của nó
thông qua một số nhân tố sau :
* Nhân tố chính sách tín dụng:
Nhân tố này được nghiên cứu dưới giác độ huy động vốn và cho vay vốn.Có thể
nói chính sách tín dụng là kim chỉ nam đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng

xảy ra khi thực hiện các hoạt động sử dụng vốn.
* Công tác thông tin:
Thông tin có vai trò quan trọng trong hoạt động sử dụng vốn.Nhờ có thông tin,
người quản lý có thể đưa ra quyết định cần thiết có liên quan đến huy động và cho
vay vốn hay không ? Theo dõi và quản lý các tài khoản như thế nào? Thực hiện các
dịch vụ ra sao?..Thông tin có thể thu được từ những nguồn sẵn có ở ngân hàng ( Hồ
sơ vay vốn, thông tin giữa các tổ chức tín dụng, nghiên cứu, phân tích của các cán bộ
ngân hàng..) từ khách hàng, từ các cơ quan chuyên về thông tin tín dụng trong và
ngoài nước, từ các nguồn thông tin khác ( báo, đài..).Số lượng, chất lượng của thông
tin thu nhận được có liên quan đến mức độ chính xác trong việc phân tích, nhận định
tình hình thị trường, khách hàng...để đưa ra những quyết định phù hợp.Vì vậy, thông
tin càng đầy đủ, nhanh nhạy, chính xác và toàn diện thì tạo ra khả năng hoạt động sử
dụng vốn tại NHNo&PTNT càng có hiệu quả.
* Kiểm soát nội bộ:
Đây là biện pháp giúp cho Ban lãnh đạo ngân hàng có được bức tranh về tình
trạng hoạt động kinh doanh nhằm duy trì có hiệu quả các hoạt động kinh doanh đang
được xúc tiến, phù hợp với các chính sách, đáp ứng được các mục tiêu đã định.
Trong lĩnh vực hoạt động tạo vốn, hoạt động kiểm soát bao gồm :
Sinh viên: Lê Trung Kiên
Lớp : KTNN 46A
25

Trích đoạn Chương II: Thực trạng sử dụng vốn tại SGD NHNo&PTNT VN Kết quả thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyển của NHNo & PTNT Việt Nam: Kết quả hoạt động kinh doanh trực tiếp của SGD NHNo&PTNT Việt Nam Những tồn tại và hạn chế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status