TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN (FACTORING) CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG - Pdf 74

TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN (FACTORING) CỦA
CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Ngày nay khi tốc độ lưu thông tiền tệ đang được thúc đẩy, nhu cầu về vốn đối
với hầu hết các doanh nghiệp đang trở thành một vấn đề khó khăn đối với hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp do việc tiếp cận với nguồn vốn cho vay từ ngân
hàng và các tổ chức tín dụng khác không đơn giản. Với nhiều quốc gia trên thế giới
bao thanh toán thực sự là một phương thức tài trợ thương mại đem lại nguồn lợi to
lớn không chỉ cho các nhà bao thanh toán mà còn đem lại lợi ích cho các doanh
nghiệp tham gia vào hoạt động này với các tính năng ưu việt của nó. Do đó, việc
nắm vững cơ sở lý luận về bao thanh toán là cần thiết, để từ đó có cái nhìn khách
quan hơn trong quá trình tiếp cận và ứng dụng tốt vào thực tiễn loại hình nghiệp vụ
này.
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN
1.1.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của bao thanh toán
1.1.1.1. Lịch sử ra đời của bao thanh toán
Hoạt động bao thanh toán là một trong những hình thức tài trợ lâu đời nhất
trên thế giới với một bề dầy lịch sử phát triển hàng trăm năm. Một số học giả cho
rằng bao thanh toán có từ thời đế chế La Mã. Một số nhà học giả lại cho rằng bao
thanh toán có từ cách đây chừng bốn nghìn năm từ thời vua Hammurabi.
Hammurabi là vị vua của vùng Mesopotamia, nơi được coi là cội nguồn phát triển
việc cho vay. Khái niệm factor xuất phát từ động từ trong tiếng Latin facio, có
nghĩa là “he who does thing” (tạm dịch là “người kinh doanh buôn bán hưởng hoa
hồng”). Động từ tiếng Latin trên gợi ý rằng nguồn gốc của bao thanh toán cũng
được phát sinh vào thời gian đó khi ấy, nó được đưa vào nội dung các giấy tờ làm
bằng chứng cho các hoạt động mua bán của vùng và các văn bản mô phỏng luật lệ
cai trị của vị vua này. Theo thời gian, vị vua Hammurabi và người dân ở vùng đất
này cũng không còn nhưng phương thức bao thanh toán vẫn còn tồn tại. Hầu hết
các quốc gia văn minh thời bấy giờ coi trọng buôn bán, đều đã thử ứng dụng một
số phương thức tương tự như phương thức bao thanh toán hiện giờ; lấy một ví dụ
điển hình là người Roman đã từng bán giảm giá tờ thương phiếu.
Các nhà sử học thường cho rằng bao thanh toán có từ thời xuất hiện đại lý hưởng

Vào thời điểm Columbus phát hiện ra châu Mỹ năm 1492, đại lý bao thanh
toán đã phát triển từ vai trò duy nhất là với chức năng marketing thành đóng vai
trò vừa có chức năng marketing vừa có chức năng tài chính.
Thế kỷ 16 chứng kiến sự bắt đầu của chế độ thực dân của Mỹ, và cùng với nó
vai trò ngày càng tăng và nhiều cơ hội mới cho bao thanh toán - đặc biệt là đối với
những người thiết lập hoạt động kinh doanh ở Mỹ. Khoảng cách giữa châu Âu và
thị trường thực dân rất lớn và càng lớn hơn khi Mỹ mở rộng biên giới phía Tây của
nó. Khoảng cách lớn này làm cho những nhà sản xuất châu Âu khó quen với thị
trường châu Mỹ và làm giảm sự tin cậy về tín dụng đối với những khách hàng đầy
tiềm năng này. Và điều này làm cho vòng tuần hoàn từ khi bắt đầu sản xuất cho
đến khi nhận được khoản tiền thanh toán cuối cùng cũng dài hơn. Kết hợp những
yếu tố trên đây có thể thấy người sản xuất phải trải qua rất nhiều khó khăn để thu
hồi vốn tái sản xuất. Vì vậy, những đại lý bao thanh toán ở Mỹ do đã quen với thị
trường và người mua trong nước của họ, quyết định nhóm họp lại thành một tổ
chức để cung cấp cho các nhà sản xuất châu Âu những dịch vụ marketing và tài
chính tương tự như trước đây các đại lý bao thanh toán vẫn thường làm.
Đến cuối thế kỷ 19, một sự thay đổi quan trọng trong thế giới thương mại đã
diễn ra. Mỹ phát triển mạnh mẽ trở thành một quốc gia có chủ quyền, ít bị phụ
thuộc vào hàng hóa nước ngoài. Sự phát triển của ngành công nghiệp trong nước
có được là nhờ dân số và lực lượng lao động phát triển rất nhanh, tài nguyên thiên
nhiên dư thừa và việc áp đặt biểu thuế gắt gao đối với hàng hoá nước ngoài. Đồng
thời những nhà sản xuất Mỹ cũng phát triển đội ngũ kinh doanh (marketing) của
mình và vì vậy nhu cầu chức năng marketing mà trước đây các nhà bao thanh toán
thường thực hiện bấy giờ giảm đi. Tuy nhiên, một lần nữa các đại lý bao thanh toán
lại phát triển và điều chỉnh theo nhu cầu của nền kinh tế mới trong nước, tập trung
vào các hoạt động tín dụng, thu nợ, kế toán và các chức năng tài chính (thường là
thông báo cho người mua việc bán các khoản phải thu). Việc giao cho các đại lý
bao thanh toán thực hiện các chức năng này cho phép các nhà sản xuất ngành dệt
của Mỹ có thời gian tập trung hơn vào sản xuất và tiếp thị kinh doanh sản phẩm.
Vào đầu thế kỷ 20, khi các nhà sản xuất Mỹ mở rộng sang các sản phẩm may

trong tài trợ thương mại toàn cầu thông qua việc
 Thiết lập một mạng lưới các nhà bao thanh toán hàng đầu thế giới
 Xây dựng một hệ thống mạng lưới thông tin hiện đại và hiệu quả để kết
nối các nhà bao thanh toán lại với nhau
 Xây dựng khung pháp lý nhằm bảo vệ các nhà xuất nhập khẩu
 Tiến hành thủ tục tuân chuẩn quy tắc về chất lượng dịch vụ đặt ra
 Thường xuyên xây dựng các gói đào tạo
 Không ngừng giới thiệu quảng bá bao thanh toán là một phương thức tối
ưu trong tài trợ thương mại.
198419891994199920042005
Với
phương châm hoạt động như vậy, cho đến nay FCI đã có trong mình số lượng
thành viên lên tới 206 tại 59 quốc gia, chiếm hơn 50% doanh số bao thanh toán
toàn cầu. Doanh số bao thanh toán cũng như tầm ảnh hưởng tới tài chính toàn cầu
của FCI ngày càng gia tăng rõ rệt.
(đơn vị: triệu euro)
Biểu đồ 1.1: Doanh số bao thanh toán của FCI
1984 29% 1989 41%
1994 44%
1999 42% 2004 51% 2005 54%
(
Nguồn: Factors Chain International, 2006)
Biểu đồ 1.2: Thị phần về doanh số bao thanh toán của FCI so với toàn cầu
(Nguồn: Factors Chain International, 2006)
198419891994199920042005
(đơn vị: triệu euro)
Biểu đồ 1.3: Doanh số bao thanh toán xuất nhập khẩu của FCI
1984 32%
1989 47%
1994 49%

dựa trên những khoản phải thu, tuy nhiên như trên đã khẳng định, nó không liên
quan đến thời hạn hoàn trả hay trách nhiệm hoàn trả của người xin vay.
1.1.2.2. Bao thanh toán là một hình thức để xử lý nợ khó đòi
Bao thanh toán cung cấp các dịch vụ thu nợ các khoản phải thu đến hạn với
tính chất chuyên nghiệp cao nhưng thực chất đơn vị hay công ty bao thanh toán
không phải là tổ chức chuyên xử lý các khoản nợ khó đòi tiến hành các việc như:
cơ cấu lại khoản vay, cơ cấu lại hoặc tiếp quản con nợ và các nghiệp vụ xử lý nợ
khó đòi khác. Nói cách khác, bao thanh toán không phải là dịch vụ cung cấp cho
khách hàng khi các khoản phải thu của họ là các khoản nợ khó đòi hoặc bản thân
họ không thu được nợ của những người mua hàng.
1.1.2.3. Bao thanh toán là nghiệp vụ mang tính “chiết khấu hối phiếu”
Về hình thức, bao thanh toán và nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu giống nhau ở
chỗ đều cho phép khách hàng nhận ngay được một khoản tiền khi xuất trình hoá
đơn hay hối phiếu. Tuy nhiên có điểm khác biệt là hối phiếu trong nghiệp vụ chiết
khấu được “tài sản hoá” để chuyển nhượng còn hoá đơn trong bao thanh toán là
phương tiện để thu hồi nợ. Nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu tập trung nhiều vào mục
đích “tài chính” hơn so với bao thanh toán
1.2.2.4. Một số quan niệm chưa đúng khác
Bao thanh toán chỉ sử dụng khi có khó khăn về mặt tài chính cho nên khách
hàng cảm thấy “mất uy tín” khi thông báo cho người mua hàng biết về những
khoản phải thu đó được bao thanh toán. Khách hàng sử dụng dịch vụ bao thanh
toán vì những lợi ích của nó đem lại phù hợp với lợi ích khách hàng, đó không phải
là hoạt động cứu trợ khi khách hàng gặp khó khăn về tiền mặt, vốn lưu động. Do
vậy sẽ không đúng khi cho rằng khách hàng tham gia vào bao thanh toán đang gặp
khó khăn và khách hàng mất uy tín khi tham gia vào bao thanh toán.
Công ty bao thanh toán có vai trò như “người cho vay cuối cùng” và đáp ứng
nhu cầu của khách hàng. Không phải khách hàng chỉ lựa chọn phương thức bao
thanh toán khi họ không thể tiếp cận được với nguồn vốn vay ngân hàng. Bao thanh
toán cho phép chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt một cách nhanh chóng tuy
nhiên đây không phải là phương tiện để xử lý các khó khăn về vấn đề thanh khoản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status