THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 HÀ NỘI - Pdf 75

THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 HÀ NỘI
2.1. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh ảnh hưởng đến phân tích tình
hình tài chính tại Công ty Cổ phần xây dựng số 1 Hà Nội
Phân tích là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu, so sánh để từ đó cung cấp
thông tin cho những đối tượng quan tâm. Do đó, qua phân tích tình hình tài chính,
các thông tin về thực trạng tài chính, về hiệu quả kinh doanh, về rủi ro tài chính có
thể gặp phải sẽ được cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp, các nhà đầu tư
và các đối tượng quan tâm khác. Nhưng với mỗi doanh nghiệp khác nhau thì lượng
thông tin cung cấp và đòi hỏi phân tích cũng khác nhau do chịu tác động của nhiều
nhân tố.
Chính vì thế, tại Công ty Cổ phần xây dựng số 1 Hà Nội, đặc điểm hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty đã có tác động và ảnh hưởng đến phân tích
tình hình tài chính tại Công ty.
Thứ nhất, Công ty tham gia sản xuất kinh doanh trên khá nhiều lĩnh vực
nhưng chủ yếu là lĩnh vực xây lắp với sản phẩm sản xuất chủ yếu là sản phẩm xây
lắp. Vì thế, hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty khá phức tạp, liên quan đến
nhiều quá trình: sản xuất, thương mại… đồng thời liên quan đến nhiều đối tượng:
chủ đầu tư (bên A), ngân hàng, tổ chức tài chính, cơ quan nhà nước, các doanh
nghiệp… Bởi lẽ đó, đặt ra yêu cầu đối với việc phân tích tình hình tài chính của
Công ty phải khách quan, bao quát và có sự liên hệ, tổng hợp phân tích các lĩnh
vực liên quan cũng như tình hình tài chính của các đối tượng liên quan. Điển hình
như khía cạnh nguyên vật liệu xây dựng: đây là yếu tố quan trọng đối với sản phẩm
xây lắp nhưng lại thường xuyên biến động nên đòi hỏi phân tích tình hình tài chính
tại Công ty cần nghiên cứu, tìm hiểu về thị trường vật liệu xây dựng. Không những
thế, còn cần liên hệ với tình hình tài chính của các nhà cung cấp nguyên vật liệu và
từ đó phân tích tác động tổng hợp của các yếu tố đó đối với tình hình tài chính của
Công ty. Mặt khác, cũng chính do đặc thù của ngành nghề kinh doanh nên khi
phân tích tình hình tài chính không thể quá cứng nhắc, máy móc, khuôn mẫu mà
cần linh hoạt. Bởi lẽ nhiều chỉ tiêu phân tích được xây dựng chuẩn cho doanh
nghiệp sản xuất bình thường nhưng khi đem áp dụng phân tích trong doanh nghiệp

có các báo cáo kế toán, tổng hợp được số liệu nên Công ty tiến hành phân tích tình
hình tài chính theo các báo cáo này. Thực tế, trên cơ sở các báo cáo, Công ty đã
chọn ra một số báo cáo quan trọng phục vụ cho phân tích để đánh giá thực trạng tài
chính tại Công ty.
Thứ tư, Công ty tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình trực tuyến chức năng,
tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình tập trung nên đã tạo được sự thống nhất trong
quản lý. Các thông tin về quản trị, về kinh tế, về tài chính được theo dõi, cập nhật,
xử lý ban đầu từ chi nhánh rồi chuyển lên trên Công ty. Chính vì thế, phân tích
cũng có những bước phân tích từ phía chi nhánh, đơn vị trực thuộc cho đến tổng
hợp phân tích toàn Công ty.
Thứ năm, Công ty có hình thức sở hữu là công ty cổ phần với số lượng cổ
đông khá nhiều nên họ là những đối tượng hàng đầu quan tâm đến kết quả kinh
doanh, đến khả năng sinh lời và triển vọng phát triển của Công ty nên ảnh hưởng
đến việc phân tích tình hình tài chính tại Công ty. Ngoài ra, do được cổ phần hoá
chưa lâu nên Công ty chưa niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, yếu tố
này cũng ảnh hưởng đến phân tích tài chính. Bởi lẽ nó thúc đẩy việc phân tích
không chỉ cung cấp các thông tin về quản trị, về tài chính mà còn chỉ ra những
nhân tố có tác động mạnh mẽ đến tình hình tài chính của Công ty. Trên cơ sở đó,
hỗ trợ cho công tác xây dựng kế hoạch, tiến trình niêm yết cổ phiếu của Công ty
trên thị trường chứng khoán.
Như vậy, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty đã có những
tác động, ảnh hưởng đến phân tích tình hình tài chính và cho thấy được nét đặc thù
khi phân tích tình hình tài chính tại doanh nghiệp xây lắp.
Hơn nữa, như đã trình bày, Công ty lựa chọn tài liệu phân tích trên cơ sở là
các báo kế toán. Các báo cáo kế toán này được lập thông qua quá trình từ thu thập,
xử lý, kiểm tra, phân tích các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để lập chứng từ kế toán
đến phân loại ghi sổ kế toán. Chính vì thế, có thể nói các báo cáo kế toán chứa
đựng toàn cảnh bức tranh tài chính sinh động của Công ty. Thực tế, số lượng các
báo cáo kế toán của Công ty là khá nhiều gồm báo cáo kế toán quản trị và báo cáo
tài chính. Các báo cáo này đều là những tài liệu có thể được dùng để phân tích.

năng tạo tiền và sử dụng nguồn tiền của Công ty.
Thứ tư là Bản thuyết minh báo cáo tài chính: đây là báo cáo nhằm thuyết
minh và giải trình một số chỉ tiêu kinh tế tài chính trên Bảng cân đối kế toán, Báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh để làm rõ cũng như minh chứng chi tiết cho tình
hình tài chính của Công ty. Từ đó, Bản thuyết minh báo cáo tài chính sẽ bổ sung và
chi tiết thêm thông tin mà các báo cáo tài chính khác khó có thể trình bày được,
đồng thời hỗ trợ cho việc phân tích thêm cụ thể và chi tiết hơn.
Tuy nhiên bên cạnh nguồn tài liệu phân tích là các báo cáo tài chính, quá
trình phân tích còn thu thập, kiểm tra, đối chiếu với một số sổ kế toán liên quan.
Đó có thể là các sổ kế toán chi tiết theo dõi tiền, vật tư, tài sản cố định, thanh toán
với người mua, người bán… mà cũng có thể là sổ tổng hợp theo hình thức ghi sổ
kế toán Nhật ký chung.
Tóm lại, tài liệu phục vụ cho phân tích tình hình tài chính tại Công ty là các
báo cáo tài chính và các sổ kế toán. Dầu vậy trong số những tài liệu đó, Công ty
tiến hành phân tích tình hình tài chính chủ yếu trên cơ sở Bảng cân đối kế toán và
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kết hợp với các sổ kế toán liên quan. Đây là
những báo cáo tài chính cơ bản và được quan tâm nhiều nhất cũng như phản ánh
khá trọn vẹn và đầy đủ tình hình tài chính của Công ty.
2.2. Phương pháp phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần xây dựng
số 1 Hà Nội
Bên cạnh việc lựa chọn thu thập tài liệu phân tích còn cần phải xây dựng và
lựa chọn phương pháp phân tích cách hợp lý và mang lại hiệu quả. Về mặt lý
thuyết có khá nhiều phương pháp được áp dụng để phân tích tình hình tài chính
nhưng trên cơ sở những tài liệu phục vụ phân tích thì Công ty Cổ phần xây dựng số
1 Hà Nội chọn hai phương pháp phân tích sau: phương pháp so sánh và phương
pháp loại trừ.
2.2.1. Phương pháp so sánh
Phương pháp này được xây dựng căn cứ theo yêu cầu có thể so sánh được
của các thông tin kế toán, thông tin tài chính nhằm nghiên cứu sự biến động và xác
định mức biến động của chỉ tiêu phân tích. Mức biến động cần xác định bao gồm

tổng quan, nắm bắt sơ bộ thực trạng tài chính của Công ty để có thể hình thành
những nhận định ban đầu. Như vậy, ta sẽ tiến hành đánh giá khái quát tình hình tài
chính của Công ty thông qua xem xét cấu trúc tài chính và mức độc lập tài chính
của Công ty.
2.3.1.1. Phân tích cấu trúc tài chính
Tài sản và nguồn hình thành tài sản (tức nguồn vốn) là những yếu tố không
thể thiếu để giúp doanh nghiệp hoạt động và phát triển. Doanh nghiệp nào cũng
đều mong muốn có được nguồn tài sản dồi dào, phong phú và có nguồn tài trợ,
nguồn hình thành tài sản ổn định, hiệu quả. Do đó hình thành nên cấu trúc tài chính
của doanh nghiệp, gồm cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn. Chính vì thế, qua Bảng
cân đối kế toán của Công ty năm 2008 có thể dễ dàng tổng hợp số liệu như bảng số
liệu sau:
Bảng 2-1
Bảng phân tích cấu trúc tài chính của Công ty giai đoạn 2007-2008
Đơn vị tính: VND
Chỉ tiêu

Năm 2007 Năm 2008 Chênh lệch
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền Tỷ lệ
Tỷ
trọn
g

hàng tồn kho và các khoản phải thu đều có giá trị rất cao và chiếm phần lớn nên
Tài sản ngắn hạn có giá trị và chiếm tỷ trọng lớn. Bên cạnh đó, Tài sản dài hạn mà
phần nhiều là Tài sản cố định không thường xuyên có những biến động, khi
chuyển đổi cổ phần hóa được đánh giá lại với giá trị không cao nhưng giá trị sử
dụng vẫn đáp ứng được đến giờ nên tỷ trọng Tài sản dài hạn chiếm không nhiều
như Tài sản ngắn hạn. Tuy nhiên chỉ tiêu này có xu hướng tăng là vì trong năm qua
Công ty bắt đầu có sự đầu tư thêm vào Tài sản cố định và Bất động sản đầu tư để
thay thế dần một số thiết bị lạc hậu bằng thiết bị hiện đại hơn, bắt kịp với trình độ
xây dựng của nhiều Công ty xây dựng cùng ngành nhưng mức đầu tư này còn khá
nhỏ.
Về nguồn vốn, Tổng nguồn vốn của Công ty giảm (-3,77%) sở dĩ là do Nợ
phải trả của Công ty biến động giảm lớn hơn nhiều so với biến động tăng của Vốn
chủ sở hữu. Theo bảng số liệu trên, Nợ phải trả của Công ty năm 2008 giảm so với
năm 2007 là 4,14% còn Vốn chủ sở hữu tăng 2,18%. Điều đó đã tác động tích cực
đến tỷ trọng cơ cấu nguồn vốn của Công ty. Tỷ trọng Nợ phải trả so với Tổng
nguồn vốn giảm từ 94,18% xuống còn 93,82%, tỷ trọng Vốn chủ sở hữu tăng từ
5,82% lên 6,18%, tức là tỷ trọng Nợ phải trả giảm 0,36% còn tỷ trọng Vốn chủ sở
hữu tăng 0,36%. Đây là dấu hiệu tích cực đối với tình hình tài chính của Công ty:
giảm Nợ phải trả và tăng Vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, tỷ trọng Nợ phải trả của
Công ty vẫn ở mức rất cao, trong hai năm đều trên 90%. Do đó Công ty có cơ cấu
nguồn vốn chưa hợp lý và có thể thấy Công ty đang bị lệ thuộc nhiều vào các
nguồn vốn bên ngoài, nhất là nguồn vốn vay. Dầu vậy với xu hướng tăng tỷ trọng
Vốn chủ sở hữu và giảm tỷ trọng Nợ phải trả cho thấy Công ty đã có những biện
pháp tác động để giảm bớt sự phụ thuộc bên ngoài và ảnh hưởng đến tình hình tài
chính.
Như vậy có thể thấy cơ cấu tài sản, nguồn vốn của Công ty trong năm 2008
có biến động và những biến động này đều có xu hướng tích cực nhằm tác động
lành mạnh đến tình hình tài chính của Công ty. Tuy nhiên, Công ty chưa xây dựng
được một cơ cấu tài sản và nguồn vốn hợp lý, vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng từ bên
ngoài và khả năng chủ động trong tài chính còn hạn chế. Trước tình hình kinh tế

năm 2007. Tuy nhiên, chỉ tiêu này ở cả hai năm đều thấp cho thấy mức độc lập tài
chính của Công ty chưa cao, khả năng tự chủ trong tài chính còn yếu và hạn chế.
Dầu vậy, với xu hướng tăng lên của chỉ tiêu này và dù mức độ tăng lên chưa nhiều
nhưng chứng tỏ Công ty đang bước đầu giảm bớt sự phụ thuộc vào các nguồn bên
ngoài, cụ thể là nguồn vốn vay nợ đồng thời tác động tích cực đến việc nâng cao
năng lực tài chính, nhất là nâng cao sự độc lập về tài chính của Công ty.
Bên cạnh đó, Hệ số tự tài trợ Tài sản dài hạn từ Vốn chủ sở hữu năm 2008
và năm 2007 là gần tương đương nhau, mức độ tăng lên quá nhỏ (+0,0003 lần) cho
thấy khả năng tài trợ Tài sản dài hạn từ Vốn chủ sở hữu của Công ty trong năm
2008 không giảm sút mà ít nhất là vẫn đảm bảo được như năm 2007. Nhưng chỉ
tiêu này tại hai năm đều chưa cao chứng tỏ Vốn chủ sở hữu của Công ty chưa đủ
để đáp ứng nhu cầu tài trợ Tài sản dài hạn. Điều đó có nghĩa là ngoài nguồn tài trợ
là Vốn chủ sở hữu, Tài sản dài hạn của Công ty còn được hình thành và tài trợ từ
nguồn vốn vay nợ phải trả. Chính vì thế mà Công ty chưa có được sự độc lập hoàn
toàn trong vấn đề tài chính, tức là khả năng độc lập tài chính còn hạn chế, còn phụ
thuộc khá nhiều vào bên ngoài. Điều này có ảnh hưởng đến khả năng thanh toán
của Công ty. Mặt khác, do chỉ tiêu này trong năm 2008 tăng lên so với năm 2007
cho thấy Công ty đã có những tác động tích cực nhằm tăng mức độc lập tài chính
nhưng chưa phát huy hiệu quả rõ rệt. Do đó, Công ty cần nghiên cứu lại những
biện pháp đã thực hiện đồng thời tìm kiếm, học hỏi và xây dựng những biện pháp
mới có tính khả thi cao hơn.
Vậy tóm lại, tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty năm 2008 so với
năm 2007 có thể khái quát như sau: giảm về mặt giá trị Tổng tài sản và Tổng
nguồn vốn, còn về cơ cấu thì có xu hướng tích cực khi tăng cơ cấu Vốn chủ sở
hữu, tăng mức độ độc lập tài chính. Tuy nhiên đây mới chỉ là những đánh giá ban
đầu về tình hình tài chính của Công ty trên một khía cạnh nên để có được những
đánh giá đầy đủ và xác thực hơn cần đi sâu vào phân tích một số góc độ tài chính
như vấn đề thanh toán, vấn đề hiệu quả kinh doanh hay khả năng gặp rủi ro tài
chính.
2.3.2. Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán

Công ty đang ở trong tình trạng chiếm dụng rất nhiều vốn từ các đối tượng bên
ngoài. Điều đó không thực sự là dấu hiệu tích cực bởi song hành với việc chiếm
dụng được càng nhiều vốn thì đòi hỏi trách nhiệm với những khoản vốn đi chiếm
dụng đó của Công ty càng cao và rất nặng nề, từ đó ảnh hưởng đến uy tín và tình
hình tài chính của Công ty. Vì thế, Công ty cần xem xét lại chính sách thanh toán,
chính sách vay nợ để có những điều chỉnh hợp lý nhằm tạo sự cân bằng giữa nợ
phải thu và nợ phải trả. Bên cạnh đó, nên kết hợp với những biện pháp tác động
đến cấu trúc tài chính nhất là cơ cấu nguồn vốn để tạo sự tương hợp giữa tỷ lệ nợ
phải trả và nguồn vốn, tỷ lệ nợ phải trả với nợ phải thu.
Mặt khác do nợ phải thu và nợ phải trả của Công ty có biến động giảm nên
ta tiến hành so sánh các khoản nợ phải thu, nợ phải trả của hai năm từ các chỉ tiêu
tổng hợp đến các chỉ tiêu chi tiết để xác định các nhân tố tác động đến biến động
này.
Về tình hình nợ phải thu, ta có bảng số liệu sau:
Bảng 2-4
Bảng phân tích tình hình các khoản phải thu
Đơn vị tính: VND
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008
Chênh lệch
Số tiền
Tỷ lệ
1. Phải thu ngắn hạn 275.564.712.927 241.810.456.681 -33.754.256.246 -12,25
- Phải thu khách hàng 167.683.401.109 156.603.259.788 -11.080.141.321 -6,61
- Trả trước cho người bán 82.650.394.272 86.051.492.092 +3.401.097.820 +4,12
- Các khoản phải thu
ngắn hạn khác
34.415.569.849 9.785.492.384 -24.630.077.465 -71,57
- Dự phòng phải thu khác (9.184.652.303) (10.629.787.583) -1.445.135.280 +15,73

Trích đoạn Tỷ suất LNTT so với tổng ch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status