TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH - Pdf 75

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
I. KHÁI NIỆM THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
1. Khỏi niệm
Thị trường tài chính là thị trường trong đó vốn được chuyển từ những
người hiện có vốn dư thừa sang những người thiếu vốn.
Nền kinh tế nào cũng đều có nhu cầu to lớn về vận hành và phát triển kinh tế.
Vậy thỡ, vốn lấy từ đâu ra? Nói chung, vốn lấy từ ba nguồn: Nhà nước - chủ nhân
của doanh nghiệp quốc doanh cấp vốn cho các xí nghiệp của mỡnh, cho cỏc doanh
nghiệp đó vay tiền và đảm bảo sự tăng trưởng của chúng; Hệ thống ngân hàng và
các định chế tài chính - những cơ quan này chấp thuận cho các doanh nghiệp vay
với những điều kiện nhất định; Qua trung gian thị trường tài chính - một công cụ
hết sức quan trọng của nền kinh tế thị trường về phương diện cấp vốn.
Một vấn đề được nhiều người thừa nhận là nền kinh tế của các nước công
nghiệp hóa đó “cất cỏnh và bay cao nhờ đôi cánh ngân hàng”. Thị trường tài chính
cấp vốn cho nền kinh tế bằng hai cách: tăng tư bản và cho vay vốn. Vậy điều này
diễn ra như thế nào?
Một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường bắt đầu vận hành được chủ yếu
nhờ số vốn đóng góp ban đầu của các “cổ đông” sáng lập. Dần dần doanh nghiệp
phát triển, ăn nên làm ra, doanh nghiệp cần thêm vốn để mở rộng sản xuất kinh
doanh. Có thể lúc đầu bằng tài sản của mỡnh và cỏc khoản lợi nhuận thu được do
doanh nghiệp trả, các cổ đông sáng lập có thể góp vốn thêm để doanh nghiệp phát
triển. Nhưng rồi đến một lúc nào đó khi nhu cầu vốn lớn mói lờn họ sẽ khụng cũn
đủ khả năng theo kịp tốc độ tăng trưởng đó. Cơ cấu tài chính doanh nghiệp sẽ mất
cân đối nghĩa là hoặc các khoản tín dụng ngắn hạn đó vượt quá xa nhu cầu cấp vốn
lưu động, hoặc vốn tự có chỉ cũn đủ cấp một phần nhỏ cho kinh doanh, trong khi
đó các khoản công ty cho vay không dễ gỡ thu hồi về được. Doanh nghiệp có thể bị
đe dọa phá sản! Trong tỡnh huống này, một khoản vốn nóng rót từ bên ngoài vào là
tối cần thiết. Khoản tiền đó có thể lấy từ Thị trường tài chính.
Cơ chế huy động vốn thông qua thị trường tài chính được hiểu như sau: một số
tác nhân kinh tế có nhu cầu đầu tư nhiều hơn phần mỡnh tiết kiệm được - và do đó
cần đến vốn từ bên ngoài (số này đa số là các doanh nhiệp thuộc khu vực sản xuất

hoạt động đại lý, bảo lónh, thanh toỏn...
Như vậy, thông qua việc dẫn chuyển vốn, thị trường tài chính có vai trũ quan
trọng trong việc tớch tụ, tập trung và phõn phối trong nền kinh tế, trờn cơ sở đó làm
tăng năng suất và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Thị trường tài chính trực tiếp
cải thiện mức sống cho cả những người có vốn và những người cần vốn.
VốnVốn
Thị trường tài
chính
Người đi vay vốn
1. Hộ gia đỡnh
2. Doanh nghiệp
Người cho vay vốn
1. Hộ gia đỡnh
2. Doanh nghiệp
Trung gian tài
chớnh
Vốn
Vốn
2.2. Xác định giá cả của các tài sản tài chính
Thông qua quan hệ giữa người mua và người bán (quan hệ cung cầu trên thị
trường) giá cả của các tài sản tài chính được xác định, hay nói cách khác, lợi tức
yêu cầu của tài sản tài chính được xác định. Vỡ vậy, thị trường tài chính là nơi
hỡnh thành nờn giỏ cả của cỏc tài sản tài chớnh - cỏc "hàng hoỏ" trờn thị trường.
2.3. Tạo tớnh thanh khoản cho tài sản tài chớnh
Thị trường tài chính cung cấp một cơ chế để các nhà đầu tư có thể trao đổi,
mua bỏn cỏc tài sản tài chớnh của mỡnh trờn thị trường thứ cấp, như vậy thị trường
tài chính tạo ra tính thanh khoản cho các tài sản tài chính. Nếu thiếu tính thanh
khoản, người đầu tư sẽ buộc phải nắm giữ các công cụ nợ cho tới khi đáo hạn, hoặc
nắm giữ cỏc cụng cụ vốn cho tới khi cụng ty phỏ sản hoặc giải thể phải thanh lý tài
sản. Mức độ thành khoản của các thị trường tài chính là khác nhau, nó phụ thuộc

sẽ trực tiếp cải thiện đời sống kinh tế xó hội.
II. CÁC THÀNH VIÊN THỊ TRƯỜNG
1. Cỏc trung gian tài chớnh
Các trung gian tài chính hoạt động như là những người trung gian chuyển vốn
từ những người cho vay cuối cùng tới những người đi vay cuối cùng. Điểm chung
của tất cả các trung gian tài chính là huy động vốn bằng cách phát hành các phiếu
nợ của chính mỡnh cho cụng chỳng (tiền gửi tiết kiệm, tiền tiết kiệm và cỏc cổ
phiếu) rồi sau đó sử dụng tiền (vay được) để mua các chứng khoán như cổ phiếu,
trái phiếu, cầm cố - mortage cho chính mỡnh.
Các cơ quan tài chính có vị trí tốt hơn so với các cá nhân trong việc gánh chịu
và phân chia các rủi ro của sở hữu chứng khoán. Nhờ có quy mô lớn nên các trung
gian có thể đa dạng hoá các loại chứng khoán và giảm tới mức tổi thiểu các rủi ro
trong việc giữ các loại chứng khoán. Họ là các chuyên gia trong việc đánh giá các
thuộc tính của tín dụng vay. Họ thuê những vị quản lý chứng khoỏn thành thạo và
cú thể chiếm được lợi thế của các nền kinh tế hành chớnh trong việc mua và bỏn
cú quy mụ lớn.
Vỡ những lý do này, họ cú thể chịu đựng được việc nhận những khoản lói suất
thấp hơn cho các tài sản của mỡnh và họ sẽ chấp nhận cỏc mức lói suất thấp hơn
nếu tỡnh thế bắt buộc. Sự cạnh tranh giữa cỏc trung gian tài chớnh ộp cỏc mức lói
suất xuống mức thấp nhất tương đương với sự đánh giá của họ về những rủi ro
trong việc sở hữu chứng khoán. Những mức lói suất này thấp hơn so với khi các
chứng khoán khởi thuỷ ở trong tay các nhà đầu tư cá thể là những người khụng thể
tối thiểu hoỏ một cỏch cú hiệu quả cỏc rủi ro của mỡnh.
Cần thấy rằng lói suất thấp đó tạo ra nhiều thuận lợi cho mức tăng trưởng kinh
tế. Mức lói suất mà những người đi vay cuối cùng phải trả càng thấp thỡ khoản chi
phớ cho đầu tư thực càng thấp. Dưới giác độ gánh chịu mạo hiểm ta cũng thấy
được tác động thuận lợi của các trung gian tài chính tới tăng trưởng kinh tế. Các
trung gian có nhiều khả năng hơn so với các cá thể để gánh chịu các rủi ro trong
việc cho vay vốn. Đó là nhờ vào khả năng đa dạng hoá, các nền kinh tế có quy mô
và sự thành thạo trong việc tính toán tới việc cho vay của các cơ quan tài chính hơn

3. Cỏc nhà mụi giới
Hoạt động môi giới là loại hoạt động trung gian thuần tuý. Cỏc nhà mụi giới
chứng khoỏn hoạt động như các đại lý cho cỏc nhà đầu tư trong việc mua, bán
chứng khoán. Chức năng của họ là hoà hợp yêu cầu của người mua và bán chứng
khoán, qua đó, họ nhận được các khoản hoa hồng môi giới. Cơ chế tiền hoa hồng
môi giới được chia làm 2 loại:
- Cơ chế tiền hoa hồng định sẵn hay cơ chế tiền hoa hồng tối thiểu. Trong trường
hợp này, chi phí môi giới do từng Sở giao dịch chứng khoán quy định.
- Cơ chế tiền hoa hồng thoả thuận. Chi phí môi giới được hỡnh thành dựa trờn sự
thoả thuận giữa nhà mụi giới và khỏch hàng trong từng giao dịch.
Đặc trưng của các nhà môi giới chứng khoán là họ không nắm giữ chứng
khoán trong khi tiến hành các hoạt động dịch vụ nên không bị đặt trước bất kỳ một
rủi ro nào có liên quan đến chứng khoán.
Căn cứ vào đặc điểm hoạt động trên thị trường chứng khoán, hoạt động môi
giới được chia ra làm các loại sau:
Cỏc nhà mụi giới của hóng dịch vụ hoa hồng: Cỏc nhà mụi giới của hóng dịch
vụ hoa hồng hầu hết là cỏc thành viờn của Sở giao dịch chứng khoán. Họ là cổ
đông có quyền bỏ phiếu và là các uỷ viên quản trị (hoặc các bên góp vốn) của một
công ty môi giới. Hoạt động của họ là thực hiện các lệnh cho khách hàng của công
ty trong phũng giao dịch trờn Sở nờn họ được gọi là nhà mụi giới của hàng dịch vụ
hoa hồng hay nhà mụi giới trong phũng giao dịch.
Nhà môi giới độc lập (hay nhà môi giới hai đô la): Nhà môi giới độc lập là
một thành viên của Sở giao dịch chứng khoán. Anh ta không thuộc một công ty môi
giới nào mà tự thuê hoặc sở hữu chỗ để hoạt động trên Sở. Anh ta thực hiện các
lệnh giao dịch do bất kỳ một công ty môi giới nào thuê anh ta với mức định phí
trước đây là 2 đô la/100 cổ phiếu (trong cả hai trường hợp mua và bán). Hiện nay,
mức định phí mà các nhà môi giới độc lập được trả thường lớn hơn 2 đô la/100 cổ
phiếu.
Nhà giao dịch chứng khoán có đăng ký: Một số người mua chỗ trên Sở giao
dịch chứng khoán chỉ nhằm mục đích mua và bán chứng khoán cho chính họ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status