KIẾN NGHỊ CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN VIỆT NAM CÓ THỂ ÁP DỤNG TRONG THỜI GIAN TỚI - Pdf 75

KIẾN NGHỊ CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN VIỆT NAM CÓ THỂ ÁP
DỤNG TRONG THỜI GIAN TỚI
I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ DUY TRÌ CÁC NTM BẢO HỘ SẢN XUẤT:
Trong thời gian qua đã tồn tại khá nhiều các NTM ở Việt Nam, trong đó tồn tại
những biện pháp được duy trì một cách có chủ định và có cả những biện pháp
không được chủ định bởi bất cứ một mục tiêu chính sách nào. Một số biện pháp đã
phát huy được tiềm năng sản xuất của các ngành được bảo hộ tuy nhiên bên cạnh
đó nhiều biện pháp tạo ra những tác động xấu cần được xem xét loại bỏ. Trong quá
trình hội nhập vào các tổ chức kinh tế quốc tế Việt Nam cũng cần loại bỏ những
biện pháp được coi là trái nguyên tắc của các tổ chức này song cần tiếp tục duy trì
những NTM đã được thừa nhận nhằm bảo hộ những lĩnh vực sản xuất có chọn lọc.
Cơ sở khoa học của việc tiếp tục áp dụng các NTM được dựa trên những căn cứ
sau:
1. Các NTM có tính phổ biến:
Mặc dù đã được coi là những biện pháp tiêu cực gây tác động xấu đến thương
mại toàn cầu các NTM vẫn là những biện pháp phổ cập nhất ở bất cứ một quốc gia
nào trên thế giới từ những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất thế giới cho tới
những quốc gia đang và chậm phát triển. Các nghiên cứu thực tế cũng cho thấy các
biện pháp phi thuế được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực sản xuất dù là lĩnh vực
sản xuất nông nghiệp đơn giản như sản xuất lúa gạo ở Philippin cho đến những
lĩnh vực đòi hỏi công nghệ cao như sản xuất máy bay ở Pháp...
2. Các NTM có tính khách quan:
Có thể khẳng định rằng không một quốc gia nào trên thế giới không gặp phải
những khó khăn trong vấn đề thương mại quốc tế như thâm hụt cán cân thanh toán,
hay thị trường bị bóp méo bởi hàng nhập khẩu phá giá. Hơn nữa mỗi quốc gia đều
xác định cho mình những mục tiêu nhất định để ưu tiên phát triển một vài lĩnh vực
kinh tế. Trong những trường hợp này các biện pháp phi thuế quan tỏ ra là những
giải pháp hữu hiệu hơn cả bởi khả năng gây tác động mạnh mẽ và nhanh chóng
đốivới việc tạo ra sự nâng đỡ đối với các lĩnh vực này.
3. Tính dài hạn của các biện pháp phi thuế:
Điều này có thể dễ dàng nhận thấy khi so sánh các biện pháp này với thuế

các thành viên được duy trì một số biện pháp phi thuế nhằm đảm bảo an ninh quốc
gia, đạo đức xã hội, môi trường. Ngoài ra các tổ chức này cũng có những qui định
linh hoạt cho để các thành viên đang và chậm phát triển duy trì các biện pháp phi
thuế không phù hợp trong một thời gian nhất định. Trong quá trình hội nhập quốc
tế, Việt Nam cần xem xét đầy đủ những thoả thuận quốc tế và những tác động của
các biện pháp phi thuế, tránh trường hợp có quá nhiều biện pháp phi thuế áp dụng
cho một mục đích như thời gian qua đồng thời cũng cần khéo léo xác định các biện
pháp phi thuế sao cho phù hợp với thông lệ của những tổ chức này mà vẫn tạo lập
được hàng rào bảo hộ với các ngành sản xuất nhất định.
1.2.Chỉ áp dụng NTM trong các lĩnh vực có chọn lọc:
Việt Nam là một trong số các quốc gia đang chuyển từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường do đó các doanh nghiệp đặc biệt là các
doanh nghiệp quốc doanh còn mang nặng tư tưởng trông chờ ỷ lại.Tình trạng vận
động hành lang, gây sức ép để được nhà nước bảo hộ còn diễn ra khá phổ biến. Để
nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế chúng ta cần ràng buộc mức độ bảo
hộ cả về qui mô và thời gian đối với các ngành, các doanh nghiệp. Việc xây dựng
các NTM do đó xuất phát từ những nhận thức sau:
1.2.1.Bảo hộ thông qua các NTM là một hình thức di chuyển nguồn lực:
Điều này là khá rõ ràng bởi thực chất của bảo hộ là mang lại lợi ích cho các
nhà đầu tư và làm thiệt hại người tiêu dùng trong nước. Đối với các ngành sản xuất
hướng xuất khẩu việc qui định các NTM còn vô hình chung mang lại lợi ích cho
người tiêu dùng nước ngoài trong khi phần lớn những hỗ trợ đó như trợ cấp xuất
khẩu,xoá nợ, miễn nộp thuế đều xuất phát từ nguồn ngân sách trong nước
Việc áp dụng các NTM trong một số ngành nhất định tạo điều kiện cho các
nhà đầu tư đầu tư vốn công nghệ, nguồn nhân lực vào những lĩnh vực nhất định
điều này đồng nghĩa với việc cơ cấu nền kinh tế thay đổi, đầu tư vào các ngành
khác sẽ sút giảm.Ví dụ như việc tập trung vào sản xuất cây công nghiệp như mía,
bông, đay sẽ thu hút nhiều lao động, vốn của các ngành trồng trọt khác.
Không những thế việc bảo hộ một ngành có thể xâm hại đến sự phát triển của
những ngành khác.Ví dụ minh hoạ thực tế là việc bảo hộ ngành công nghiệp thép

tục hải quan phức tạp, tham nhũng, sự yếu kém trong quản lí... Loại thứ hai là các
NTM vi phạm những nguyên tắc chủ yếu của WTO, ASEAN, APEC như các biện
pháp quản lí định lượng, các biện pháp quản lí giá... Việc loại bỏ các biện pháp này
là bắt buộc tuy nhiên các nhà hoạch định cũng cần tạo ra những biện pháp thay thế
để duy trì bảo hộ cho một số ngành kinh tế. Các biện pháp này nhất thiết là các
biện pháp phù hợp với thông lệ quốc tế và quan trọng phải là những biện pháp tinh
vi và hiệu quả hơn (trên thực tế hoặc về mặt danh nghĩa) để tránh xảy ra tình trạng
tranh chấp, xung đột thương mại với các quốc gia khác
2.Đề xuất cải cách các NTM cũ và áp dụng một số NTM mới trong
thời gian tới:
2.1.Cải cách các NTM cũ:
2.1.1.Các biện pháp quản lí định lượng:
a.Nên thay thế qui định cấm nhập khẩu một số mặt hàng (thuốc lá, hàng đã qua
sử dụng) bằng các biện pháp khác:
Việc áp dụng các biện pháp cấm nhập khẩu tiềm ẩn trong nó những yếu tố có
thể gây ra vi phạm các qui định của các tổ chức thương mại quốc tế. Ví dụ như
việc Việt nam cho phép sản xuất thuốc lá trong khi cấm nhập khẩu thuốc lá điếu,
hay cấm nhập khẩu một số mặt hàng đã qua sử dụng trong khi vẫn cho lưu hành
trong nước có thể vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO. Có thể thay thế
biện pháp cấm nhập khẩu bằng các biện khác có tác dụng gần như vậy nhưng lại
hợp pháp, ví dụ như sử dụng hạn ngạch thuế quan với mặt hàng thuốc lá, hay tạo ra
thủ tục thông quan phức tạp với hàng đã qua sử dụng. Việc bãi bỏ những biện pháp
cấm như vậy có thể đem lại cho Việt nam một số lợi ích sau:
 Làm cho hệ thống chính sách phù hợp với WTO và do đó giảm sức ép khi
đàm phán với một số đối tác chính của tổ chức này;
 Giảm buôn lậu những mặt hàng bị cấm nhập khẩu;
 Có thể đánh thuế nhập khẩu cao đối với các mặt hàng này và nhờ đó tăng
thu cho ngân sách.
b.Không sử dụng biện pháp "tạm thời không nhập khẩu"
Trong thời gian qua, đặc biệt là trong năm 1999, Việt nam đã áp dụng biện pháp

đối với giá đã làm lệch lạc tín hiệu giá và do đó làm bóp méo cạnh tranh. Vì vậy,
ngoài quản lý giá đối với các mặt hàng độc quyền tự nhiên như điện, nước v.v...
cần loại bỏ tất cả các biện pháp quản lý giá mang tính hành chính khác.
Các biện pháp phụ thu đã được áp dụng đối với nhiều mặt hàng xuất, nhập
khẩu ở những giai đoạn khác nhau chủ yếu để ổn định giá, nhưng đôi khi cũng để
bảo hộ sản xuất trong nước hay tăng thu ngân sách. Các phụ thu này cũng hay thay
đổi và do đó không thể dự đoán trước được và gây không ít khó khăn cho các
doanh nghiệp. Các biện pháp phụ thu nhìn chung cũng nằm trong diện cần loại bỏ
theo các nghĩa vụ Việt nam đã cam kết đối với AFTA và sẽ phải thực hiện trong
khuôn khổ WTO. Chính vì vậy cần rà soát lại hệ thống phụ thu hiện đang được áp
dụng theo hướng:
 Xây dựng và công bố công khai lịch trình cắt giảm phụ thu với mục đích
ngân sách hay bảo hộ.
 Trong trường hợp thích hợp, có thể thay thế một số phụ thu bằng thuế
trong nước (ví dụ đánh thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng dầu).
 Trong những trường hợp mất cân bằng cán cân thương mại: có thể áp
dụng phụ thu với tất cả mặt hàng trong một giai đoạn nhất định (đây là
biện pháp bảo vệ cán cân thanh toán phù hợp với các qui định của các
định chế quốc tế và đã từng được nhiều nước như Hungary, Bulgaria áp
dụng thành công).
2.1.3. Rà soát lại các doanh nghiệp thương mại nhà nước
Hoạt động của các doanh nghiệp thương mại nhà nước mang tính độc quyền có
ảnh hưởng không nhỏ đến cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Hơn nữa,
hoạt động của một số doanh nghiệp thương mại nhà nước cũng có tác động hạn chế
nhập khẩu. Trong tiến trình đổi mới quản lý doanh nghiệp và cải tổ chính sách
thương mại thì rà soát và đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp thương mại nhà
nước là một bộ phận không thể thiếu, trong đó cần tập trung đổi mới theo hướng:
 Bỏ bớt các đặc quyền về nhập khẩu;
 Mở rộng quyền kinh doanh dịch vụ phân phối.
2.1.4.Chính sách nội địa hoá

đích bảo hộ (ví dụ điển hình là việc buộc các doanh nghiệp phải tự cân đối ngoại tệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status