Website: Email : Tel : 0918.775.368
chơng I
Sự cần thiết phải bảo hộ sản xuất trong nớc bằng các biện pháp
phi thuế và kinh nghiệm của một số nớc
A.Sự cần thiết phải áp dụng các biện pháp bảo hộ sản xuất trong nớc.
I.Sự cần thiết phải bảo hộ sản xuất trong nớc.
1.Tính cần thiết chung phải bảo hộ của các quốc gia trên thế giới.
Không một nớc nào, dù là nớc có nền kinh tế hùng mạnh nh Hoa Kỳ, lại không
có nhu cầu phải bảo hộ một số ngành sản xuất trong nớc.
Tuy nhiên, mục tiêu bảo hộ lại khá đa dạng. Đối với những nền kinh tế phát triển
thì mục tiêu chính của việc bảo hộ là nhằm duy trì việc làm cho những nhóm lớn ng ời
lao động có kỹ năng t ơng đối thấp . Mặc dù không phải là lực lợng tạo ra sức cạnh tranh
chủ yếu cho nền kinh tế, nhng những nhóm ngời này có sức mạnh chính trị đáng kể,
buộc các chính đảng đợc họ hậu thuẫn phải quan tâm đặc biệt tới lợi ích của họ. Những
nhóm điển hình là lao động trong lĩnh vực dệt may, nông nghiệp, luyện kim đen.
Trong khi đó, mục tiêu bảo hộ của những nớc có trình độ phát triển kinh tế trung
bình và thấp lại chủ yếu nhằm duy trì và phát triển một số ngành sản xuất quan trọng và
có nhiều tiềm năng trở thành ngành cạnh tranh trong t ơng lai . Chẳng hạn, Malaysia hết
sức cố gắng để bảo hộ ngành sản xuất ô tô. Thái Lan tiếp tục duy trì bảo hộ ở mức cao
với một số ngành điện tử, cơ khí, đờng. Trung Quốc duy trì mức bảo hộ cao nhất có thể
đợc với ngành ô tô, thép, thuốc lá.
Ngoài ra, các nớc này còn có thể phải duy trì bảo hộ nhằm đạt đợc các mục tiêu
khác. Chẳng hạn, Trung Quốc phải tiếp tục bảo hộ trong một thời gian nhất định nhiều
ngành sản xuất nhằm tránh cho các doanh nghiệp sở hữu nhà n ớc khỏi bị phá sản nhanh
chóng. Đây là điểm khác biệt nổi bật giữa các nớc đang chuyển đổi với các nớc công
nghiệp phát triển. Tại các nớc công nghiệp phát triển, những nhóm ngời lao động tại
các ngành đang suy thoái hoặc có năng suất thấp (dệt may, nông nghiệp) có sức mạnh
chính trị đáng kể. Trong khi đó, tại các nớc đang chuyển đổi, các doanh nghiệp sở hữu
nhà nớc lại có sức mạnh chính trị to lớn mà việc bảo hộ chúng có ý nghĩa quan trọng
đặc biệt.
2.Sự cần thiết phải bảo hộ sản xuất trong n ớc của Việt Nam.
II.Phơng thức bảo hộ sản xuất trong nớc.
1.Các biện pháp bảo hộ sản xuất trong n ớc.
a.Biện pháp thuế quan
Ưu điểm:
Rõ ràng
Giả sử đối với một hàng hóa nhập khẩu nào đó ngoài thuế quan không hề bị áp
dụng bất kỳ một biện pháp hạn chế thơng mại nào khác thì lợi thế của hàng hóa sản
xuất trong nớc so với hàng nhập khẩu chính là mức thuế nhập khẩu.
Sự minh bạch, rõ ràng của thuế quan là một u điểm lớn của biện pháp bảo hộ.
Trong WTO thuế quan đợc thừa nhận là công cụ hợp pháp bảo hộ sản xuất trong nớc.
NTBs phải đợc xoá bỏ hoặc thuế hóa.
ổn định, dễ dự đoán
Qua nhiều vòng đàm phán đa phơng, thuế quan ngày càng có xu thế ổn định và
dễ dự đoán. Sau Vòng đàm phán Uruguay, tất cả các nớc thành viên WTO đều phải
ràng buộc 100% các dòng thuế đối với các sản phẩm nông nghiệp. Đối với các sản
phẩm công nghiệp, các nớc phát triển đã ràng buộc 99% các dòng thuế, các nớc đang
phát triển ràng buộc 73% và các nớc có nền kinh tế chuyển đổi ràng buộc 98%. Các con
số này đảm bảo mức độ tiếp cận thị trờng an toàn hơn cho các nhà đầu t và kinh doanh
quốc tế.
Dễ đàm phán cắt giảm mức bảo hộ
Vì thuế quan là công cụ bảo hộ mang tính rõ ràng hơn cả nên trong khuôn khổ
các cuộc đàm phán song phơng và đa phơng, thuế quan luôn là đối tợng đàm phán cắt
giảm. Một điểm đáng chú ý khác là trong khuôn khổ đàm phán đa phơng, thuế quan có
thể đợc tiến hành cắt giảm theo công thức. Trong và sau Vòng đàm phán Uruguay,
trong khuôn khổ WTO còn nổi lên xu hớng cắt giảm thuế quan theo ngành (ví dụ: mức
thuế 0% áp dụng cho nhiều sản phẩm của các ngành dợc phẩm, sắt thép, sản phẩm công
nghệ thông tin...).
Nh ợc điểm:
Một nhợc điểm dễ thấy của thuế quan là không tạo đợc rào cản nhanh chóng. Tr-
ớc các tình thế khẩn cấp nh hàng nhập khẩu tăng nhanh gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn
không hữu hiệu bằng.
Ví dụ: quy định về vệ sinh kiểm dịch đối với nông sản nhập khẩu vừa đảm bảo
an toàn sức khỏe con ngời, động thực vật lại vừa gián tiếp bảo hộ sản xuất nông nghiệp
trong nớc một cách hợp pháp. Hay cấp phép không tự động đối với dợc phẩm nhập khẩu
vừa giúp bảo hộ ngành dợc nội địa, dành đặc quyền cho một số đầu mối nhập khẩu nhất
định, quản lý chuyên ngành một mặt hàng quan trọng đối với sức khỏe con ngời, phân
biệt đối xử với một số nớc cung cấp nhất định.
Nhiều NTM cha bị cam kết ràng buộc cắt giảm hay loại bỏ
Do NTM thờng mang tính mập mờ, mức độ ảnh hởng không rõ ràng nh những
thay đổi định lợng của thuế quan, nên tác động của chúng có thể lớn nhng lại là tác
động ngầm, có thể che đậy hoặc biện hộ bằng cách này hay cách khác. Hiện nay các
1
Có thể chia các NTM thành các nhóm lớn sau:
- Các biện pháp hạn chế định lợng (nh cấm, hạn ngạch, giấy phép);
- Các biện pháp quản lý giá (nh trị giá tính thuế quan tối thiểu, giá nhập khẩu tối đa, phí thay đổi, phụ thu);
- Các biện pháp liên quan tới doanh nghiệp (nh doanh nghiệp thơng mại nhà nớc);
- Các biện pháp kỹ thuật (nh quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn, thủ tục xác định sự phù hơp, yêu cầu về nhãn mác, kiểm
dịch động thực vật);
- Các biện pháp bảo vệ thơng mại tạm thời (nh tự vệ, trợ cấp và các biện pháp đối kháng, biện pháp chống bán phá
giá);
- Các biện pháp liên quan tới đầu t (nh thuế suất thuế nhập khẩu phụ thuộc tỷ lệ nội địa hóa, hạn chế tiếp cận ngoại
tệ, yêu cầu xuất khẩu, u đãi gắn với thành tích xuất khẩu);
- Các biện pháp khác (nh tem thuế, biểu thuế nhập khẩu hay thay đổi, yêu cầu đảm bảo thanh toán, yêu cầu kết hối,
thủ tục hành chính, thủ tục hải quan, mua sắm chính phủ, quy tắc xuất xứ).
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hiệp định của WTO chỉ mới điều chỉnh việc sử dụng một số NTM nhất định. Trong đó,
tất cả các NTM hạn chế định lợng
2
đều không đợc phép áp dụng, trừ trờng hợp ngoại lệ.
Tác động của các NTM thờng khó có thể lợng hóa đợc rõ ràng nh tác động của
thuế quan. Nếu mức bảo hộ thông qua thuế quan đối với một sản phẩm có thể dễ dàng
đợc xác định bằng chính thuế suất đánh lên sản phẩm đó thì mức độ bảo hộ thông qua
NTM là tổng mức bảo hộ của các NTM riêng rẽ áp dụng cho cùng một sản phẩm. Bản
thân mức độ bảo hộ của mỗi NTM cũng chỉ có thể đợc ớc lợng một cách tơng đối. Cũng
vì mức độ bảo hộ của các NTM không dễ xác định nên rất khó xây dựng một lộ trình tự
do hóa thơng mại rõ ràng nh với bảo hộ chỉ bằng thuế quan.
Khó khăn, tốn kém trong quản lý
Vì khó dự đoán nên các NTM thờng đòi hỏi chi phí quản lý cao và tiêu tốn nhân
lực của nhà nớc để duy trì hệ thống điều hành, kiểm soát bằng NTMs.
Một số NTM thuộc thẩm quyền và phạm vi quản lý của nhiều cơ quan với những
mục tiêu khác nhau, đôi khi còn mâu thuẫn nhau, nên có thể gây khó khăn cho bản thân
2
Các NTM hạn chế định lợng nh cấm nhập khẩu, hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu không tự động v.v... gây cản trở, bóp
méo thơng mại và thờng bị coi là các NTB (NTBs).
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các nhà hoạch định chính sách, quản lý, và các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế
trong việc xây dựng, sử dụng, tiếp cận thông tin cũng nh đánh giá tác động của các
NTM này.
Các doanh nghiệp sản xuất cha chú trọng đến tiếp cận thông tin và cha có ý thức
xây dựng, đề xuất các NTM để bảo hộ sản xuất, còn trông chờ vào nhà nớc tự quy định.
Do đó, thực tế là các doanh nghiệp thờng phải tốn kém chi phí vận động hành lang để
cơ quan chức năng ra quyết định áp dụng NTM nhất định có lợi cho mình.
Ngoài ra, có những NTM bị động là những NTM tồn tại trên thực tế ngoài ý
muốn của các nhà hoạch định chính sách nh bộ máy quản lý thơng mại quan liêu, năng
lực thấp của các nhân viên hải quan, các văn bản pháp lý không đợc công bố công
khai,...
Nhà nớc không hoặc ít thu đợc lợi ích tài chính
Việc sử dụng các NTM phục vụ mục tiêu hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất
mình. Mức hạn ngạch, thuế suất trong hạn ngạch, thuế suất ngoài hạn ngạch khác nhau
tuỳ từng nớc. Một thực tế chung là thuế suất ngoài hạn ngạch thờng rất cao, có nhiều tr-
ờng hợp trên 100%.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các nớc phát triển thờng áp dụng biện pháp thuế chống bán phá giá và thuế đối
kháng chống trợ cấp để bảo hộ các ngành công nghiệp, đồng thời áp dụng các biện
pháp hỗ trợ trong n ớc ở mức cao để bảo hộ nông nghiệp. Trong khi đó, các nớc đang
phát triển và các nớc đang chuyển đổi vẫn áp dụng biện pháp cấp phép không tự động
để bảo hộ cả công nghiệp và nông nghiệp.
3.Thời gian bảo hộ.
Do những nhân nhợng có đi có lại trong đàm phán thơng mại quốc tế, đặc biệt là
các kết quả của Vòng đàm phán Uruguay với sự ra đời của WTO, các nớc thành viên
của WTO cũng nh những nớc đang đàm phán gia nhập tổ chức này không thể tùy ý kéo
dài thời gian bảo hộ.
Thông thờng thời gian đ ợc quyền áp dụng mỗi loại biện pháp bảo hộ đ ợc qui
định cụ thể trong từng hiệp định của WTO. Ví dụ thời gian áp dụng các biện pháp bảo
hộ thông qua đầu t trực tiếp nớc ngoài vi phạm Hiệp định về các biện pháp đầu t liên
quan đến thơng mại (Hiệp định TRIMs) không đợc kéo dài quá hai năm đối với các nớc
phát triển và quá năm năm đối với các nớc đang phát triển (kể từ năm 1995).
4.Các ngành đ ợc bảo hộ.
Tuỳ theo tình hình kinh tế - xã hội của mình mà mỗi nớc chọn ra những ngành cụ
thể cần phải bảo hộ. Xu hớng chung đối với các nớc phát triển là những ngành sử dụng
nhiều lao động với kỹ năng không cao đợc u tiên bảo hộ cao nhất, chẳng hạn nh các
ngành dệt may, nông nghiệp. Đối với các nớc đang phát triển hoặc đang chuyển đổi thì
các ngành đợc u tiên bảo hộ thờng là những ngành công nghiệp non trẻ (ô tô, điện tử, đ-
ờng) hay những ngành mà các doanh nghiệp nhà nớc đang gặp khó khăn (sắt thép, xi
măng, cơ khí).
5.Xu h ớng của việc sử dụng các NTM để bảo hộ.
Xu hớng chung trong việc sử dụng các NTM để bảo hộ sản xuất trong nớc là
nhiều cách để lẩn tránh các nghĩa vụ, chẳng hạn nh rất nhiều sản phẩm chỉ đợc loại bỏ
hạn ngạch vào giai đoạn cuối cùng của Hiệp định này.
Một NTM khác là qui tắc xuất xứ đã đợc Hoa Kỳ sử dụng khá tinh vi để hạn chế
nhập khẩu sản phẩm dệt may từ Trung Quốc và ấn Độ.
Nông nghiệp
Điều kiện thiên nhiên thuận lợi cộng thêm với trình độ khoa học công nghệ cao
đã giúp nền nông nghiệp của Hoa Kỳ có năng suất lao động đứng đầu thế giới, có sức
cạnh tranh rất lớn cả về chất lợng cũng nh giá cả sản phẩm. Tuy nhiên, Hoa Kỳ vẫn
phải áp dụng nhiều NTM nhằm bảo hộ cho một số ngành nông nghiệp, đặc biệt là
ngành sữa và đờng.
Hai biện pháp nổi bật đợc áp dụng để bảo hộ ngành sữa và đờng là biện pháp hạn
ngạch thuế quan và hỗ trợ giá. Chỉ tính riêng khoản hỗ trợ trong nớc của Hoa Kỳ vi
phạm Hiệp định Nông nghiệp của WTO và thuộc diện phải cam kết cắt giảm trong năm
1996 đối với ngành sữa đã lên tới 4,7 tỷ USD và đối với ngành đờng là 0,9 tỷ USD.
Sắt thép
Chỉ mới vài thập kỷ trớc đây, Hoa Kỳ là nớc sản xuất hàng đầu thế giới về sắt
thép. Nhng những năm gần đây ngành công nghiệp này của Hoa Kỳ phải đối mặt với sự
cạnh tranh khốc liệt của các nớc khác nh Trung Quốc, Nga, Hàn quốc, Nhật Bản.
Để bảo hộ ngành công nghiệp sắt thép, Hoa Kỳ đã tăng cờng và thờng xuyên sử
dụng biện pháp thuế chống bán phá giá. Ngoài ra, với những nớc cha phải là thành viên
WTO, Hoa Kỳ còn tìm cách gây sức ép buộc những nớc đó hạn chế xuất khẩu sản
phẩm sắt thép sang Hoa Kỳ. Ví dụ, năm 1999 Nga đã buộc phải ký với Hoa Kỳ thoả
thuận hạn chế xuất khẩu tự nguyện một số loại sắt thép sang Hoa Kỳ trong vài năm tiếp
theo.
2.Gần đây Hoa Kỳ đang cố gắng tìm mọi cách để có thể sử dụng các biện pháp
gắn với môi tr ờng và tiêu chuẩn lao động để hạn chế nhập khẩu.
Hai trờng hợp điển hình về việc Hoa Kỳ đơn phơng áp dụng các qui định về môi
trờng của mình để hạn chế nhập khẩu là trờng hợp cá hồi và tôm. Trong trờng hợp thứ
nhất, Hoa Kỳ cấm nhập khẩu cá hồi từ những nớc mà Hoa Kỳ cho rằng phơng pháp
đánh bắt của họ làm ảnh hởng xấu đến cá heo. Trong trờng hợp thứ hai, việc nhập khẩu
phụ tùng đã qua sử dụng của xe máy có dung tích không quá 50cc, và bánh xe có bán
kính không quá 10 inches. Giấy phép nhập khẩu chỉ cấp cho các doanh nghiệp nhà nớc.
Bên cạnh yêu cầu về cấp phép nhập khẩu thuộc thẩm quyền của Bộ Thơng mại,
nhập khẩu các sản phẩm lơng thực thực phẩm, thuốc men, mỹ phẩm, chất độc hại, chất
gây nghiện, chất kích thích, các dụng cụ và trang thiết bị y tế còn phải đợc sự chấp
thuận của Cơ quan quản lý Thuốc và Thực phẩm của Thái Lan. Nhìn chung, các quy
định nhập khẩu lơng thực, thực phẩm, thuốc men của Thái Lan là một rào cản đối với
nhập khẩu do thời gian chậm trễ kéo dài trớc khi đợc chấp thuận đa vào thị trờng và hệ
thống giấy phép nhập khẩu độc quyền.
3.Xác định Trị giá tính thuế hải quan.
Trong giai đoạn 1996-1999, Cục Hải quan Thái Lan thờng sử dụng giá hóa đơn
cao nhất của sản phẩm cùng loại nhập khẩu từ bất kỳ nớc nào trong thời gian trớc đó để
xác định trị giá tính thuế. Các nhân viên hải quan Thái Lan sử dụng công thức giá CIF
để tính giá trị chịu thuế, hoặc công thức giá FOB + 10% cớc vận tải + 5% phí bảo hiểm.
Nh vậy có thể nhận thấy rằng thủ tục và phơng pháp xác định trị giá tính thuế hải
quan của Thái Lan khá tuỳ tiện, phụ thuộc vào cách áp dụng của các nhân viên hải
quan. Tuy nhiên từ tháng 5/2000, Thái Lan đã sử dụng phơng pháp xác định trị giá tính
thuế nhập khẩu theo trị giá giao dịch nh quy định trong Hiệp định về xác định trị giá
thuế quan của WTO .
4.Ch ơng trình nội địa hóa.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thái Lan đa ra yêu cầu về hàm lợng nội địa đối với sản xuất ô tô con (54%), xe
tải nhẹ (65-80%), xe tải và xe buýt (40-50%), xe máy (70%) và sản phẩm sữa (phải
mua tối thiểu 50 tấn sữa nguyên liệu địa phơng/ngày trong năm hoạt động đầu tiên).
Tuy nhiên, Thái Lan đã cam kết loại bỏ toàn bộ các yêu cầu về nội địa hóa vào cuối
năm 1999 theo quy định của Hiệp định TRIMs của WTO. Thái Lan đã tiến hành sửa
đổi các văn bản pháp luật trong nớc để loại bỏ dần yêu cầu về hàm lợng nội địa hoá
trong năm 1999, phù hợp với thời hạn quá độ cho phép trong Hiệp định TRIMs.
5.Khuyến khích đầu t .
tác Kinh tế (MOFTEC).
2.Hạn ngạch nhập khẩu.
Trung Quốc áp dụng hạn ngạch nhập khẩu cho hơn 400 mặt hàng. Qui định pháp
lý về việc cấp hạn ngạch không rõ ràng và các điều kiện để xác định hạn ngạch cho một
số mặt hàng không đợc công bố. Các mặt hàng Trung Quốc áp dụng hạn ngạch gồm có:
ô tô, xe máy, sản phẩm bông cha chế biến, sản phẩm bông, sợi tổng hợp. Trung Quốc
dự kiến loại bỏ hạn ngạch vào năm 2005 trong đàm phán gia nhập WTO.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo thoả thuận song phơng với Hoa Kỳ trong đàm phán gia nhập WTO, Trung
Quốc duy trì đợc biện pháp cấp phép nhập khẩu và hạn ngạch với rất nhiều mặt hàng
công nghiệp, nhiều hơn cả số mặt hàng đang áp dụng giấy phép nhập khẩu và hạn
ngạch của Việt Nam hiện tại. Trung Quốc cam kết tăng dần hạn ngạch 15% hàng năm,
thời hạn loại bỏ các NTB ngắn nhất là năm 2000 (radio, radio catxet, phim cha tráng
các loại), thời hạn dài nhất là 2005 (ô tô các loại).
3.Doanh nghiệp th ơng mại nhà n ớc.
Các công ty ngoại thơng nhà nớc đợc u tiên quyền kinh doanh xuất nhập khẩu.
Ví dụ: máy bay chỉ đợc nhập khẩu qua cơ quan mua sắm hàng không dân dụng; việc
xuất khẩu hàng dệt may thuộc quyền quản lý và kiểm soát của các cơ quan nhà nớc
nắm độc quyền ngoại thơng: các cơ quan này kiểm soát nhập khẩu và phân phối hàng
dệt may trong nớc.
Doanh nghiệp có vốn nớc ngoài chỉ đợc phép nhập khẩu nguyên liệu đầu vào
phục vụ sản xuất. Doanh nghiệp nớc ngoài không đợc phép thành lập chi nhánh để phân
phối hàng hóa ở Trung Quốc. Các doanh nghiệp t nhân không đợc kinh doanh xuất
nhập khẩu trực tiếp. Trớc đây, các công ty ngoại thơng nhà nớc đều thuộc quyền quản
lý trực tiếp của MOFTEC, nhng nay MOFTEC không can thiệp vào công việc hàng
ngày của các công ty này nữa. Số doanh nghiệp đợc quyền kinh doanh xuất nhập khẩu
tăng dần từ 14 doanh nghiệp năm 1979 lên tới trên 8.800 hiện nay.
Trung Quốc khẳng định rằng tất cả các doanh nghiệp sở hữu nhà nớc hoặc doanh
nghiệp do nhà nớc đầu t sẽ chỉ tiến hành các hoạt động mua, bán căn cứ theo tiêu chí
Trung Quốc sử dụng nhiều hình thức trợ cấp xuất khẩu nh cho nhà sản xuất hởng
giá điện thấp; cho doanh nghiệp nhà nớc và công ty thơng mại nhà nớc đợc vay ngân
hàng với những điều kiện u đãi, trong đó rất nhiều khoản vay không phải hoàn trả; các
doanh nghiệp đáp ứng mục tiêu xuất khẩu nhất định thì đợc vay u đãi và đợc cung cấp
các phơng tiện nghiên cứu và phát triển; các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là các
doanh nghiệp hoạt động trong các đặc khu kinh tế và vùng ven biển đợc u đãi về thuế.
Trung Quốc đang tiến hành trợ cấp tài chính cho các chơng trình phát triển sản phẩm
xuất khẩu cuối cùng.
7.Các cam kết về phi thuế quan trong th ơng mại nông sản.
-Trừ 10 nhóm nông sản (lúa mì, ngô, gạo, dầu đậu tơng, dầu cọ, dầu hạt cải, đ-
ờng, len, len lông cừu, bông) đợc nhập khẩu theo cơ chế hạn ngạch thuế quan, mọi sản
phẩm khác do doanh nghiệp thơng mại nhà nớc hay không phải doanh nghiệp thơng
mại nhà nớc nhập khẩu đều đợc đãi ngộ bình đẳng nh nhau (về thuế áp dụng, quy định
kiểm dịch, v.v.) và đợc hởng đãi ngộ quốc gia.
- Trừ những sản phẩm đợc quy định là chỉ đợc nhập khẩu thông qua doanh
nghiệp thơng mại nhà nớc (gạo, ngô, lúa mì, dầu đậu tơng, dầu cọ, dầu hạt cải, đờng,
rợu), các sản phẩm còn lại có thể đợc nhập khẩu thông qua bất kỳ doanh nghiệp nào có
quyền kinh doanh.
- Cơ chế phân bổ và tái phân bổ hạn ngạch thuế quan của Trung Quốc tuân theo
các thủ tục và tiêu chí khách quan, minh bạch.
- Mọi chủ thể đợc phân bổ hạn ngạch thuế quan đều đợc quyền ủy thác nhập
khẩu thông qua doanh nghiệp thơng mại nhà nớc và/hoặc thông qua các chủ thể có
quyền kinh doanh khác, kể cả việc tự mình trực tiếp nhập khẩu theo quy định tại văn
bản cấp hạn ngạch phù hợp với các tiêu chí đặt ra.
- Thời gian mở rộng hạn ngạch thuế quan đối với hầu hết các nông sản là năm
2004 (trừ dầu đậu tơng đợc mở rộng hạn ngạch vào năm 2005 và đợc tự do kinh doanh
từ 1/1/2006).
- Rợu: từ 1/1/2000 loại bỏ giấy phép nhập khẩu và giảm thuế quan từ 65% xuống
54%.
- Xì gà, thuốc lá điếu: từ 1/1/2000 loại bỏ giấy phép nhập khẩu, hạn ngạch và
4 Phim cha tráng GP 2000
5 Cao su tự nhiên GP, HN 2004
6 Lốp cao su GP, HN 2004
7 Vải, nguyên liệu vải GP, HN 2000, 2001
8 Động cơ, máy kéo GP, HN 2003
9 Máy điều hòa, tủ lạnh GP, HN 2001
10 Máy giặt gia đình GP, HN 2001
11 Máy chạy đĩa compact, máy ghi băng từ và tái
tạo âm thanh, máy thu và phát video và phụ
tùng
GP, HN 2001, 2002
12 Máy thu kết hợp với thiết bị thu phát âm thanh GP, HN 2000
13 Máy thu hình, màn hình TV GP, HN 2001, 2002
14 Ô tô các loại GP, HN 2004, 2005
15 Xe máy các loại và phụ tùng GP, HN 2004
16 Camera GP, HN 2003
17 Đồng hồ đeo tay các loại GP, HN 2003
Nguồn: Hiệp định Thơng mại tiếp cận thị trờng song phơng Hoa Kỳ-Trung
Quốc.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng II
các biện pháp phi thuế của việt nam
trong thời kỳ 1996-2000
A.Thực trạng Kinh tế -thơng mại và tổng quan khả năng cạnh tranh của
Việt Nam.
I.Tổng quan thực trạng Kinh tế-Thơng mại Việt Nam
thời kỳ 1996-2000
1.Tổng quan thực trạng kinh tế Việt Nam.
Trong các năm 1996 - 2000, mặc dù tốc độ tăng trởng Tổng sản phẩm quốc nội
trì mức tăng trởng tơng đối nhanh; Sản lợng thuỷ, hải sản cũng có sự phục hồi và phát
triển mạnh mẽ (một phần là do nhu cầu xuất khẩu tăng).
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 3: Tình hình tăng trởng kinh tế giai đoạn 1996-1999
1996 1997 1998 1999
Tốc độ tăng trởng GDP 9,3% 8,2% 5,8% 4,8%
Theo thành phần kinh tế
Nhà nớc 11,3% 9,7% 5,6% 4,3%
Tập thể 3,6% 2,6% 3,5% 3,6%
T nhân 14,4% 9,8% 7,9% 6,2%
Cá thể 6,6% 5,6% 3,4% 3,9%
Hỗn hợp 8,1% 3,5% 4,1% -1,3%
Đầu t nớc ngoài 19,4% 20,8% 19,1% 13,4%
Theo ngành kinh tế
Nông nghiệp 4,4% 4,3% 3,5% 5,2%
Công nghiệp 13,9% 13,1% 11,3% 9,3%
Dịch vụ 9,9% 7,8% 4,2% 2,3%
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 1999, Nhà xuất bản Thống kê.
Ghi chú: - Nông nghiệp bao gồm cả sản xuất lâm nghiệp và thuỷ sản
- Công nghiệp bao gồm khai thác mỏ, công nghiệp chế biến và sản xuất,
phân phối điện, khí đốt và nớc
- Dịch vụ bao gồm cả xây dựng và các hoạt động Đảng, đoàn thể và xã
hội.
Nguyên nhân chính của tình trạng suy giảm kinh tế nói trên là do đầu t sụt giảm
trong hầu hết các lĩnh vực. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, tỷ trọng đầu t theo
GDP đã giảm mạnh từ 29% năm 1997 xuống 21% năm 1999, đặc biệt là do sự suy
giảm trong đầu t trực tiếp nớc ngoài trong các năm 1998 và 1999. Sau thời kỳ mỗi năm
đạt bình quân 2 tỷ USD trong giai đoạn 3 năm 1995 - 1997, đầu t nớc ngoài đã giảm
xuống còn 800 triệu USD năm 1998 và năm 1999 chỉ còn 600 triệu USD. Sự sụt giảm
thủy, hải sản tăng 1,5 lần. Nhóm hàng nông, lâm, thuỷ, hải sản tăng 64%, trong đó gạo,
cao su, cà phê,... đều tăng từ 65% đến 103%. Nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng
sản tăng 109%, trong đó chủ yếu là dầu thô và than đá.
Đáng lu ý trong số các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực, nhóm điện tử và linh
kiện máy tính có tốc độ phát triển khá nhanh: mặc dù năm 1996 mới bắt đầu xuất khẩu
đạt kim ngạch 89 triệu USD, từ năm 1997 đã liên tục tăng trởng nhanh, đến năm 1999
đã đạt 700 triệu USD, tăng gần 7 lần so với năm 1996 và năm 2000 dự kiến đạt 750
triệu USD.
Thị trờng xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 2000 cũng đã mở rộng
đáng kể với sự gia tăng không ngừng kim ngạch xuất khẩu vào từng khu vực thị trờng.
Trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1996-2000:
Thị trờng khu vực châu á-Thái Bình Dơng chiếm tỷ trọng 64,6%, trong đó năm
1996: 71,3%, năm 1997: 66,6%, năm 1998: 62,9%, năm 1999: 62,4% và năm 2000 dự
kiến 61,5%; tốc độ tăng trởng xuất khẩu bình quân của Việt Nam vào khu vực này đạt
15%/năm.
Thị trờng khu vực ASEAN chiếm tỷ trọng 23,3%, năm 1996: 24,5%, năm 1997:
22%, năm 1998: 25,1%, năm 1999: 21,3% và năm 2000 dự kiến 24,1%; tốc độ tăng tr-
ởng xuất khẩu bình quân của Việt Nam vào khu vực này đạt 22,6%/năm.
Thị trờng khu vực Âu - Mỹ chiếm tỷ trọng 30,7%, thị trờng khu vực này cũng
ngày càng chiếm vị trí quan trọng đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam: năm 1996
chiếm 20,8%, năm 1997: 28,9%, năm 1998: 34,5%, năm 1999: 31,9% và năm 2000 dự
kiến 33,9%. Tốc độ tăng trởng xuất khẩu bình quân của Việt Nam vào khu vực này đạt
28,8%/năm. Trong thị trờng khu vực Âu - Mỹ, thị trờng EU là thị trờng quan trọng
nhất, chiếm tỷ trọng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và có tốc độ tăng tr-
ởng 34,3%/năm, cao hơn nhiều so với các thị trờng khác trong khu vực Âu - Mỹ.
Thị trờng khu vực châu Phi-Tây Nam á chiếm tỷ trọng 3,2%, trong đó năm 1996
chiếm 2,8%, năm 1997: 2,5%, năm 1998: 2,7%, năm 1999: 3% và dự kiến năm 2000 là
4,5%; tốc độ tăng trởng xuất khẩu bình quân của Việt Nam vào khu vực này là
40,7%/năm.
15
các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài xuất khẩu đạt 19,8 tỷ USD (kể cả dầu thô),
chiếm tỷ trọng 38,6%, tăng trởng bình quân 34,9%/năm; các doanh nghiệp 100% vốn
đầu t trong nớc xuất khẩu đạt 31,54 tỷ USD (không kể dầu thô), chiếm tỷ trọng 61,4%,
tăng trởng bình quân 13,3%/năm.
2.2.Nhập khẩu.
Trong giai đoạn 1996 - 2000, kim ngạch và cơ cấu hàng nhập khẩu đã góp phần
bảo đảm đợc nhu cầu tiêu dùng, nhất là về máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật t, nguyên
liệu cho sản xuất và cho tiêu dùng thiết yếu, góp phần đầy đủ và phong phú thêm hàng
hoá lu thông trên thị trờng nội địa.
Tổng kim ngạch nhập khẩu trong thời kỳ này đạt 60,7 tỷ USD, với tốc độ bình
quân hàng năm tăng 12,2%. Tuy nhiên, tốc độ tăng trởng kim ngạch nhập khẩu có
chiều hớng giảm dần, đặc biệt hai năm 1998 và 1999 kim ngạch nhập khẩu gần nh
không tăng đã làm giảm tốc độ chung của cả thời kỳ, đến năm 2000 lại tăng nhanh, dự
kiến đạt 14,8 tỷ USD, tăng 27,3%.
Thời kỳ này, các mặt hàng phục vụ sản xuất luôn luôn chiếm tỷ trọng cao trong
tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, cụ thể là: Nhóm máy móc, thiết bị, phụ tùng
và nguyên, nhiên, vật liệu chiếm tỷ trọng 91,3% và đã tăng từ 83,5% năm 1995 lên
94,8% năm 1999 và năm 2000 dự kiến đạt 92%; Nhóm hàng tiêu dùng thời kỳ này
chiếm 8,7% và giảm dần từ 16,5% năm 1995 xuống 5,2% năm 1999 và năm 2000 dự
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kiến 8,7%. Về tốc độ tăng trởng: Nhóm máy móc, thiết bị, phụ tùng và nguyên, nhiên,
vật liệu tăng bình quân 14,1%/năm, trong đó năm 2000 dự kiến tăng 21%. Nhóm hàng
tiêu dùng giảm bình quân 2%/năm, trong đó năm 2000 dự kiến tăng tới 90%.
Một điều đáng chú ý là trong giai đoạn này, cán cân ngoại thơng của Việt Nam
luôn trong tình trạng nhập siêu, tuy nhiên mức nhập siêu đã giảm đáng kể vào các năm
cuối giai đoạn. So với kim ngạch xuất khẩu, mức nhập siêu thời kỳ 1996 - 1999 đạt
khoảng 8,5 tỷ USD, bằng 22,8 %. Tuy nhiên, mức nhập siêu đã giảm đáng kể: từ 3,9 tỷ
USD năm 1996 (bằng 53,6% kim ngạch xuất khẩu) xuống 82 triệu USD năm 1999 (chỉ
còn bằng 0,7% kim ngạch xuất khẩu) và năm 2000 dự kiến 800 tỷ USD (bằng 5,7%
Đức 2,7 11,5
Hoa Kỳ 2,5 26,6
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3.Tác động của chính sách xuất nhập khẩu đến kết quả th ơng mại thời kỳ
1996-2000.
3.1.Đối với l u thông trong n ớc.
- Thị trờng phát triển liên tục, phát huy đợc sức mạnh tổng hợp của nhiều thành
phần kinh tế, góp phần tạo nên những biến đổi sâu sắc trong sự phát triển và chuyển
dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân;
- Thị trờng là một thể thống nhất, đợc chuyển đổi một cách căn bản việc mua bán
hàng hóa từ cơ chế kế hoạch hóa hành chính tập trung bao cấp sang cơ chế thị trờng, có
sự quản lý của Nhà nớc, chủ thể kinh doanh tăng trởng mạnh và có sự chuyển dịch khá
rõ trong cơ cấu;
- Quản lý Nhà nớc về thơng mại có tiến bộ trong việc hoạch định chính sách vĩ
mô và điều hành, tạo môi trờng pháp lý và điều kiện thuận lợi cho sản xuất và lu thông
phát triển;
- Thị trờng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa đợc quan tâm đúng mức, có
nhiều tiến bộ.
3.2.Đối với xuất, nhập khẩu.
- Quy mô và tốc độ xuất, nhập khẩu trong 5 năm qua đã liên tục đợc mở rộng và
tăng trởng không ngừng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nớc, góp phần hình thành
nhiều ngành sản xuất, nhiều đơn vị sản xuất mới; tạo thêm việc làm cho ngời lao động
và đóng góp tích cực vào GDP;
- Cơ cấu nhóm, mặt hàng và thị trờng xuất khẩu đã có những cải thiện nhất định,
góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hớng xuất khẩu;
- Số lợng mặt hàng xuất nhập khẩu ngày càng đợc mở rộng, chất lợng hàng xuất
khẩu đã nâng lên đáng kể;
- Số lợng doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh xuất-nhập khẩu ngày càng tăng và
có sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu chủ thể;
kinh tế chung, đảm bảo phân bố các nguồn lực, đạt và duy trì mức tăng trởng cao, bền
vững. Môi trờng cạnh tranh kinh tế chung có ý nghĩa rất lớn đối với việc thúc đẩy quá
trình tự điều chỉnh, lựa chọn của các nhà kinh doanh theo tín hiệu của thị trờng đợc
thông tin đầy đủ. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hớng ngày càng hiệu quả hơn với
tốc độ tăng trởng nhanh, phụ thuộc rất nhiều vào sự năng động của các doanh
nghiệp/ngành.
Cho đến nay Việt Nam vẫn đợc đánh giá có khả năng cạnh tranh quốc gia thấp.
Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), xét theo tính cạnh tranh tầm quốc
gia thì:
- Năm 1997 Việt Nam đứng thứ 49 trong 53 nớc đợc phân hạng.
- Năm 1998 Việt Nam đứng thứ 39 trong 53 nớc đợc phân hạng (Chỉ số khả
năng cạnh tranh của Việt Nam đợc nâng lên chủ yếu do sự giảm sút kinh tế của
nhiều nớc do bị khủng hoảng, cha phải là do kết quả phát triển kinh tế của Việt
Nam mang lại.)
- Năm 1999 Việt Nam đứng thứ 48 trong 59 nớc đợc phân hạng.
Tuy nhiên, cũng cần thấy Việt Nam đã có những bớc đi tích cực để nâng cao khả
năng cạnh tranh của toàn quốc gia, và trên thực tế khả năng cạnh tranh của Việt Nam
đã ít nhiều đợc cải thiện. Những bớc đi đó phần nào đợc thể hiện bằng việc cải thiện
đáng kể chế độ quản lý thơng mại trong thời kỳ 1996-2000 theo hớng nới lỏng bớt quản
lý của nhà nớc, tạo điều kiện cho thơng mại phát triển. Cụ thể nh sau:
- So với thời kỳ trớc 1996, biểu thuế nhập khẩu đã đợc hoàn thiện dần với việc
áp dụng hệ thống mã HS, cấu trúc biểu thuế đã đợc đơn giản hóa rất nhiều và khá ổn
định, thể hiện bằng việc giảm số mức thuế. Thuế suất của rất nhiều mặt hàng đã đợc cắt
giảm phù hợp với các cam kết quốc tế và yêu cầu của tiến trình hội nhập. Thực tế hiện
nay cho thấy hầu hết các sản phẩm nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu đều có mức
thuế nhập khẩu danh nghĩa thấp hoặc không bị đánh thuế.
- Các NTM cũng dần đợc nới lỏng, cụ thể nh sau:
+ Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, hàng hóa nhập khẩu phải có giấy
phép hoặc hạn ngạch đã đợc thu hẹp dần. Chế độ phân bổ hạn ngạch và
cấp phép đã đợc cải tiến theo nguyên tắc phân bổ phù hợp với khả năng
+ Cha xây dựng đợc hệ thống mạng lới bạn hàng và khả năng tiêu thụ;
+ Kém năng động do ỷ lại vào sự bảo hộ của Nhà nớc. Chú trọng quá mức
đến "thái độ của Nhà nớc" và coi đó là nhân tố đảm bảo kinh doanh, vì vậy
có tình trạng cố giành đợc giấy phép, hạn ngạch... để hạ giá thành, mà
không chú ý giải quyết các vấn đề bản chất của hạ giá thành;
+ Cha có chiến lợc và qui hoạch tổng thể cho sự phát triển hoặc kém tính
khả thi. Khá nhiều doanh nghiệp/ngành chỉ chú trọng đến mục tiêu ngắn
hạn;
+ ít đầu t cho nghiên cứu và phát triển tiếp thị và đào tạo huấn luyện...
Khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có vốn đầu t trong nớc, trong đó chủ
yếu là giữa doanh nghiệp Nhà nớc và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác,
có tình trạng chủ yếu là,
+ Doanh nghiệp Nhà nớc có khả năng đầu t và cạnh tranh lớn hơn ở một số
mặt hàng, ngành hàng thiết yếu nh: xăng dầu, phân bón, thép, xi măng,
ôtô, thiết bị động lực,... do có u thế về vốn và đầu t đổi mới công nghệ...;
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Doanh nghiệp Nhà nớc có hiệu quả kinh doanh thấp hơn, chủ yếu do bộ
máy cồng kềnh, cơ chế quản lý tài chính và kinh doanh cha tạo ra động lực
để thu hút ngời lao động và tăng năng suất lao động.
3.Khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.
Để thấy đợc thực trạng khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam có thể căn
cứ vào các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh nh đã đề cập. Trên cơ sở đó có thể
phân loại hàng hoá của Việt Nam thành 3 nhóm: nhóm có khả năng cạnh tranh, nhóm
có khả năng cạnh tranh có điều kiện và nhóm có khả năng cạnh tranh thấp.
- Nhóm có khả năng cạnh tranh là cà phê, điều, gạo, tiêu, một số trái cây đặc
sản (soài, dứa, bởi, ...), thuỷ, hải sản, hàng dệt may, giày dép, động cơ diesel loại
công suất nhỏ...;
- Nhóm có khả năng cạnh tranh với điều kiện đợc hỗ trợ có thời hạn và tích cực
nâng cao khả năng cạnh tranh là chè, cao su, rau, thịt lợn, lắp ráp điện tử, cơ khí, hóa
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Về giá cả: nhiều mặt hàng của Việt Nam có giá cao hơn các nớc trong khu vực
và thế giới, tuy nhiên nếu có sự cải tiến quản lý, đầu t công nghệ tiên tiến... để hạ giá
thành sản xuất thì giá cả có thể sẽ thấp hơn các nớc trong khu vực và thế giới.
Về chất lợng: các mặt hàng này đều đạt tiêu chuẩn theo Hệ thống quản lý tiêu
chuẩn, chất lợng quốc tế (ISO), nhng hiện tại giá thành sản xuất cao hơn giá sản phẩm
ngoại nhập.
Về mẫu mã, bao bì, điều kiện mua bán, thanh toán, giao nhận, vận chuyển và
dịch vụ sau bán hàng: nhìn chung hàng hóa sản xuất trong nớc cũng ở tình trạng tơng
tự nh nhóm ngành hàng có khả năng cạnh tranh.
c.Đối với nhóm hàng hóa có khả năng cạnh tranh thấp.
Về giá cả: hiện tại và trong tơng lai, giá của các mặt hàng sản xuất trong nớc sẽ
còn cao hơn giá hàng hóa cùng loại của các nớc trong khu vực và thế giới, do các nớc
trong khu vực/thế giới có lợi thế so sánh so với Việt Nam.
Về mẫu mã, bao bì, điều kiện mua bán, thanh toán, giao nhận, vận chuyển và
dịch vụ sau bán hàng: cũng ở tình trạng nh nhóm hàng có khả năng cạnh tranh.
3.2. ở thị tr ờng n ớc ngoài.
Hiện nay sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu thuộc nhóm ngành hàng có
khả năng cạnh tranh. Các sản phẩm thuộc các nhóm khác cha đợc xuất khẩu hoặc xuất
khẩu rất ít. Do đó, ở đây chỉ đánh giá khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam ở thị
trờng nớc ngoài đối với các sản phẩm thuộc nhóm ngành hàng có khả năng cạnh tranh.
Về giá cả: hầu hết các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam có mức giá thấp so với
sản phẩm cùng loại của các nớc trong khu vực và thế giới:
+ Cà phê: giá xuất khẩu bình quân năm 1996 là 1.190 USD/tấn, năm 1997
là 1.270 USD/tấn, năm 1998 là 1.555 USD/tấn, năm 1999 là 1.213 USD/tấn và dự kiến
năm 2000 là 800 USD/tấn;
+ Gạo: giá xuất khẩu bình quân năm 1996 là 284,6 USD/tấn, năm 1997 là
243,6 USD/tấn, năm 1998 là 273,1 USD/tấn, năm 1999 là 227,4 USD/tấn và dự kiến
năm 2000 là 184 USD/tấn;
ngày 20/5/1998 và có hiệu lực từ ngày từ 1/1/1999. Theo Luật này, biểu thuế nhập khẩu
của Việt Nam tuân thủ đến cấp 6 số của hệ thống HS 96, gồm có ba cột thuế suất là
thuế suất phổ thông, thuế suất u đãi và thuế suất u đãi đặc biệt.
Thuế suất u đãi hay còn gọi là thuế suất MFN là mức thuế dành cho hàng hóa
nhập khẩu từ các nớc đã ký kết hiệp định thơng mại song phơng với Việt Nam hoặc đợc
Việt Nam đơn phơng cho hởng mức thuế suất này. Thuế suất phổ thông là mức thuế
dành cho hàng hóa nhập khẩu từ các nớc cha ký kết hiệp định thơng mại song phơng
với Việt Nam hoặc các nớc cha đợc Việt Nam cho hởng thuế suất u đãi (thuế suất
MFN). Thuế suất phổ thông thờng cao hơn thuế suất MFN từ 50-70%. Thuế suất u đãi
đặc biệt hiện nay Việt Nam đang dành cho hàng hóa nhập khẩu từ các nớc thành viên
ASEAN theo Hiệp định CEPT để thực hiện AFTA và sản phẩm dệt may từ EU.
Nếu nh năm 1996 biểu thuế của chúng ta chỉ có 3500 dòng thuế thì tính đến năm
2000, tổng số dòng thuế của cả biểu thuế đã lên tới trên 6300 dòng. Kể từ năm 1996,
cấu trúc của biểu thuế đã đợc đơn giản hóa rất nhiều, số mức thuế đã giảm từ 31 vào
năm 1996 xuống 26 vào năm 1998 và đến nay con số này chỉ còn là 19. Trong đó các
mức thuế thấp (0%, 1%, 3%, 5%) dành cho nguyên liệu đầu vào của các ngành sản
xuất. Còn các mức thuế cao nhất (80%, 100%) dành cho các mặt hàng hạn chế tiêu
dùng nh rợu, bia, xe máy. Mức thuế suất bình quân giản đơn hiện hành là 15,98%, tơng
đối thấp so với một số nớc cùng khu vực nh Thái Lan (27,6%), Phi-lip-pin (24,4%),
Inđônesia (18,3%).
Thuế nhập khẩu của Việt Nam có xu hớng thấp đối với nguyên liệu đầu vào (th-
ờng là 0%) và cao đối với sản phẩm đầu ra. Hình thức bảo hộ này đợc gọi là leo thang
thuế quan. Chẳng hạn nh, thuế suất đối với đồng nguyên liệu là 0% còn đối với các sản
phẩm bằng đồng thì mức thuế suất lại lên tới 30-40%. Cách thức bảo hộ này khiến cho
mức bảo hộ thực tế đối với sản phẩm cuối cùng cao hơn so với mức bảo hộ danh nghĩa
của thuế quan dành cho hàng hóa đó. Hình thức bảo hộ này đang bị yêu cầu phải từng
bớc hạn chế và xoá bỏ trong khuôn khổ đàm phán đa phơng (WTO).
Thuế suất nhập khẩu bình quân giản đơn cao nhất là đối với thuốc lá, đồ uống,
giầy dép và quần áo, tiếp đến là xe máy, đồ sứ, kính và các sản phẩm kính. Trong hầu
hết các ngành đều có sự dao động lớn giữa các mức thuế, đặc biệt là ngành hóa chất
-II Sự thay đổi và điều chỉnh thờng xuyên trong biểu thuế làm giảm tính rõ ràng,
minh bạch và khả năng có thể tiên liệu của thuế quan. Hệ thống chính sách thuế
quan vì thế cũng mất đi tính ổn định góp phần định hớng cho sản xuất và đầu t;
-II Nhiều dòng thuế đợc phân định theo mục đích sử dụng cuối cùng của hàng hóa
dẫn đến việc các mặt hàng tơng tự nhau lại chịu mức thuế suất khác nhau, tuỳ
thuộc vào việc ai là ngời nhập khẩu những mặt hàng này và ai là ngời sử dụng
chúng.
II.Tổng quan các lĩnh vực dịch vụ gắn với những NTM.
Có thể nói nhiều ngành dịch vụ liên quan đến hoạt động thơng mại thờng đợc sử
dụng nh các NTM với mục đích bảo hộ cho các ngành sản xuất trong nớc. Trong số đó
có thể kể đến một số dịch vụ nh phân phối, giám định, dịch vụ chuyên nghiệp, ngân
hàng, tài chính v.v...
Dịch vụ phân phối:
Phân phối là hoạt động kinh tế tự nhiên của mọi doanh nghiệp sản xuất và kinh
doanh hàng hóa. Việt Nam là một trong số ít các nớc còn duy trì các hạn chế về quyền
phân phối của các doanh nghiệp nớc ngoài. Quyền phân phối bao gồm các quyền tiếp
thị và bán sản phẩm trên thị trờng nội địa.
Vấn đề cơ bản chính là ngời nớc ngoài có đợc phép nhập khẩu để phân phối trên
thị trờng Việt Nam hay không. Trên thực tế, các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
25