Chính sách bảo hộ hợp lý để thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển - Pdf 73

Chính sách bảo hộ hợp lý để thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển,
khuyến khích người tiêu dùng dùng hàng nội địa.
Toàn cầu hoá, khu vực hoá và tự do hoá kinh tế Thương mại tuy mâu thuẫn với
bảo hộ sản xuất trong nước nhưng đây chính là tồn tại thực tế mà hầu hết các nước
đã, đang và sẽ tiếp tục thực hiện. Ở Việt Nam, trước những đòi hỏi bức bách của
tiến trình hội nhập nhưng ý thức vươn lên trong cạnh tranh còn yếu, khuynh hướng
phổ biến của các ngành, các cấp và các DN còn nặng về ỷ lại hàng rào bảo hộ để
tránh sức ép cạnh tranh. Hàng rào bảo hộ cao không những làm mất đi động cơ
nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam mà còn làm cho tiêu dùng bị thiệt
hại do phải mua với giá cao trong khi thu nhập của dân cư ở nước ta còn thấp Theo
ông Trần Đình Thọ- PGĐ Sở Thương Mại Thành phố Hồ Chí Minh: "Bảo hộ phải
tuỳ theo từng ngành nghề cụ thể, tuỳ theo mặt hàng chứ không phải mạnh ai tự đề
xuất tràn lan, không có tính quốc gia. Khi bảo hộ, các công ty sản xuất theo chủ
trương Nhà nước thì mới bảo hộ. Ngược lại việc bảo hộ sẽ làm lá chắn khiến cho
những ngành nghề được bảo hộ liên kết thành một khu vực lợi ích cản trở chính
sách hội nhập của Nhà Nước, Chẳng hạn như bảo hộ ngành đường trong nước, bảo
hộ nông dân trồng mía, các nhà máy đường có thể sống được nhưng còn 80 triệu
người tiêu dùng thì sao? Vì vậy Đảng và Chính phủ cần phải có chủ trương điều
chỉnh chính sách bảo hộ sản xuất trong nước theo hướng có lựa chọn, có thời hạn
và có điều kiện.
Về bảo hộ có sự lựa chọn:Bảo hộ sản xuất trong nước bao gồm xây dựng và
củng cố các hàng rào thuế và phi thúê để ngăn cản sự tấn công của hàng hoá ngoại
nhập và các biện pháp hỗ trợ, điều chỉnh và nâng đỡ sản xuất trong nước. Ở Việt
Nam, chỉ nên bảo hộ sản xuất trong nước đối với các ngành và lĩnh vực sau:
+ Các ngành công nghiệp non trẻ mũi nhọn thuộc hướng ưu tiên trong chiến
lược phát triển của đất nước như: công nghiệp điện tử- tin học, công nghệ sinh học
và công nghệ sản xuất vật liệu mới. . . vì vào thời kỳ đầu, sản xuất đang ở mức chi
phí cao hơn so với giá cả các sản phẩm cùng loại nhập khẩu.
+ Các ngành nghề truyền thống ở các làng nghề như đồ gốm, thảm, đồ gỗ chạm
khảm, sơn màu. . . để bảo vệ giá trị văn hoá Quốc gia, bảo vệ truyền thống dân tộc.
+ Các ngành nghề sử dụng lực lượng lao động lớn và mật độ tập trung quá

Tỷ giá hối đoái: cần phải điều chỉnh ở mức độ cần thiết để tăng cầu với nước
ngoài nhưng có bước đi thận trọng nhằm bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng
và các thể chế tài chính khác, đồng thời kiểm soát được sự ổn định của kinh tế vĩ
mô phù hợp với sự biến động của giá cả trong nước và thế giới. Hiện nay, giá cả
đang có xu hướng giảm, đây là thời cơ thuận lợi cho việc giữ ổn định giá cả khi
điều chỉnh tỷ giá góp phần kích cầu, điều này cũng phù hợp với tinh thần NĐ. 08
của Chính phủ "Theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường trong và ngoài nước để điều
chỉnh tỷ giá linh hoạt, bảo đảm khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, tăng
giao dịch kiều hối qua ngân hàng, tăng dự trữ ngoại tệ".
Hạ lãi xuất đối với vay đầu tư ở nông thôn và vay đầu tư chiều sâu, đồng thời
kiểm soát ngặt nghèo vay đầu tư mới. Vừa qua ngân hàng đã hạ lãi xuất từ 1, 15%
xuống 1, 05% nhưng xem ra vẫn chưa "đủ độ" so với chỉ số lạm phát và so với tỷ
xuất lợi nhuận mang lại của nền kinh tế và vì vậy chưa có khả năng kích thích
mạnh việc vay vốn để đầu tư nhất là khu vực nông thôn.
Để động viên kịp thời tinh thần, vật chất cho những đóng góp về trí tuệ sáng
tạo, về hiệu quả của doanh nghiệp vào sự nghiệp đẩy mạnh XK, Bộ Thương Mại
đã dùng đòn bẩy kinh tế "Thưởng xuất khẩu ". Nếu đợt I mới có 10 DN được
thưởng theo 2 tiêu chuẩn và 90% nằm ở tiêu chuẩn 5. 1(Xuất khẩu mặt hàng mới,
mở thị trường xuất khẩu mới ) thì thưởng đợt II có 62 DN đặc biệt đã "phủ sóng"
toàn bộ 5 tiêu chuẩn khen thưởng đó là một tín hiệu đáng mừng cho thấy "Thưởng
xuất khẩu " tuy là một công cụ mới mẻ nhưng cũng đã phát huy tác dụng và có
hiệu quả cao. Những phần thưởng khuyến khích xuất khẩu đã hướng DN sáng tạo
mặt hành mới, mở thêm thị trường xuất khẩu, ssản xuất mặt hàng xuất khẩu có chất
lượng cao, ưu tiên hàng hoá gia công chế, biến chủ yếu bằng nguyên liệu trong
nước, có kim ngạch xuất khẩu cao và những mặt hàng ngoài hạn ngạch hoặc ngoài
chỉ tiêu được phân giao. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận thức được rằng thưởng
xuất khẩu là một hình thức trong cả một hệ thống cơ chế, chính sách nhằm thực
hiện chiến lược hướng mạnh nền kinh tế vào XK được thể hiện qua các văn bản
như luật khuyến khích đầu tư trong nước, luật đầu tư nước ngoài tại VN, luật thuế
XNK, thuế VAT, thúe thu nhập, NĐ 57/CP. . . Trong thời gian tới, Bộ Thương mại

và sẽ phải thực hiện lộ trình giảm thuế CEPT (đối với việt nam: đến năm 2006 thuế
nhập các loại hàng hoá vào việt nam chỉ còn 0%- 5%) nên áp lực cạnh tranh ngày
càng ra tăng và con đường đi lên phía trước của các DN có nhiều chướng ngại và
nhạy bén là xuống vực phá sản.
Ngoài ra đối với một đất nước đang phất triển như Việt Nam, nền kinh tế còn
nghèo nàn, lạc hậu cơ sở vật chất yếu kém, trình độ khoa học công nghệ và trình
độ lao động, trình độ quản lý còn chịu ảnh hưởng của nếp sống “cũ” của thời kinh
tế kế hoạch hoá tập trung thì việc mắc sai lầm trong chỉ đạo, điều hành của Chính
Phủ là khó tránh khỏi. Tuy nhiên chúng ta cũng không thể phủ nhận những nỗ lực
cố gắng vượt bậc của Đảng và Nhà Nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
kinh doanh của các DN. Một đất nước phát triển phải cần sự nỗ lực vượt bậc, sự
đóng góp của toàn dân toàn xã hội mà các DN là thành phần trọng yếu. Vì vậy các
DN phải tự xem xét mình đã chủ động tự vươn lên đỉnh cao trong thương trường
chưa? ở nhiều cônh ty thay vì tìm lối thoát ra khỏi khó khăn bằng chính sự nỗ lực
của bản thân, bằng việc động viên tối đa nội lực thì lại đi theo con đường mòn là
“xin” Nhà Nước cấp vốn mặc dù biết rõ Nhà nước không có vốn để cho.
Vì vậy TTSP của DN sẽ ngày càng khó khăn nếu như DN không đề ra những
chính sách, chiến lược cạnh tranh hợp lý thì hàng hoá ứ đọng, chậm tiêu thụ là điều
khó tránh khỏi mà hàng hoá ứ đọng đồng nghĩa với việc không thực hiện được mục
tiêu của DN đặc biệt là lợi nhuận, không có hoặc ít lợi nhuận DN không đủ trang
trải chi phí, bị lỗ và phá sản DN là khó tránh được. Vậy để tăng tính cạnh tranh của
sản phẩm trong tiêu thụ sản phẩm thì DN cần thực hiện các biện pháp sau:

III. 1. Nâng cao chất lượng sản phẩm.
Hiện nay người Việt Nam có thú “xính đồ ngoại” đây là kiểu “chơi sang” tầng
lớp thượng lưu nhưng không ít khách hàng phàn nàn về chất lượng sản phẩm của
DN đặc biệt là đồ tươi sống, thuốc. . nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ thậm chí
cả tính mạng của người tiêu dùng vậy các DNVN nghĩ gì?
Việc nâng cao chất lượng sản phẩm không có nghĩa là hướng mọi nỗ lực của mình
vào việc sản xuất ra sản phẩm thật tốt. Nừu vậy DN đã quên đi một yếu tố vô cùng

cho DN vay. Hiện nay, lượng tiền vốn tồn tại trong dân chúng khá lớn, khoảng 4-6
tỷ USD sã hầu như là sự lãng phí 100% nếu số vốn đó tồn tại dưới hình thức xe
máy, đất, vàng…mà không đưa vào sản xuất bởi bản thân các hình thức đó không
tạo ra của cải cho xã hội, mà chỉ có sản xuất mới tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
“Cái gốc của sự giầu có là sản xuất”. Người dân không hề có lỗi, bởi vì bất kỳ ai
cũng muốn đem những đồng vốn chắt chiu của mình vào hoạt động có thể sinh lãi
đem lại thu nhập cho bản thân. Về thực chất Việt Nam thiếu cơ hội đầu tư. Trong 3
đợt đIều chỉnh lãi xuất ngân hàng của nhà nước vừa qua nhưng xêm ra các DN vẫn
chưa mạnh dạng đầu tư vào sản xuất. Việc huy động vốn từ dân cư phải thông qua
hệ thống ngân hàng, mặt khác DN cũng có thể tự huy động vốn trong dân bằng
cách bán cổ phiếu công ty (công ty cổ phân) cho dân chúng nhưng một khó khăn
không phảu nhỏ là hình thức đầu tư hoàn toàn mới mẻ ở Việt Nam vì vẫn đề cổ
phần hoá DN còn gặp nhiều rắc rối về xác định giá trị tài sản DN. . trong khi trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status