NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUY TRÌNH ĐẤU THẦU QUỐC TẾ MUA
SẮM THIẾT BỊ Ở TỔNG CÔNG TY DKVN
I. PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Mục tiêu của Tổng công ty DKVN trong những năm tới
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật trong những năm gần đây đã
mang lại những tác động to lớn và những biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực hoạt
động kinh tế, văn hoá, xã hội ở các nước trên thế giới. Muốn phát triển bền vững
thì bất kỳ một công ty nào cũng phải xây dựng cho mình một mục tiêu, kế hoạch
lâu dài. Mục tiêu của Tổng công ty DKVN trong những năm tới là:
+Xây dựng và đưa vào sử dụng các nhà máy chế biến dầu khí và hoá dầu để
từ đó có sản phẩm có tính cạnh tranh cao trong khu vực.
+Xây dựng, phát triển và hiện đại hoá hệ thống phân phối các sản phẩm dầu
một cách hợp lý nhất.
+Hệ thống các đường ống dẫn khí quốc gia cần sớm xây dựng và đưa vào
vận hành có nối kết với đường ống dẫn khí xuyên ASEAN, từ đó sẽ có mạng lưới
ống dẫn khí thuận tiện trong khu vực.
+Tăng cường đầu tư phát triển các loại hình dịch vụ dầu khí, đạt yêu cầu và
trình độ quốc tế thu hút sự tham gia của mọi thành phần kinh tế.
+Xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên gia và công nhân dầu khí Việt Nam đủ
mạnh về chất lượng có thể tự điều hành mọi hoạt động dầu khí trong cả nước và ở
nước ngoài.
+Tiếp tục đầu tư khoa học- công nghệ tăng hiệu quả các hoạt động dầu khí
đặc biệt trong lĩnh vực khai thác nguồn tiềm năng dầu khí tại các khu vực biển sâu,
cận biên kinh tế tăng hệ số thu hồi dầu...
2. Dự báo về nhu cầu thiết bị cho ngành dầu khí Việt Nam
Mục tiêu của Tổng công ty DKVN là phát triển toàn diện trong các lĩnh vực
lọc dầu, hoá dầu, phân phối và kinh doanh sản phẩm dầu khí. TCT đang xây dựng
nhà máy lọc dầu số 1 tại Dung Quất, Quảng Ngãi với công suất 6,5 triệu tấn/năm.
Công ty cũng đang lập dự án khả thi xây dựng nhà máy lọc dầu số 2 với công suất
6 - 7 triệu tấn/năm tại Nghi Sơn, Thanh Hoá. Công nghiệp hoá dầu cũng là ngành
mới và chưa có điều kiện để xây dựng một liên hợp hoá dầu hoàn chỉnh. Trong
400
Phát triển mỏ của Petronas 500 Nhà máy nhựa đường 250
Phát triển mỏ của các nhà
thầu khác
1400 Hệ thống kho tàng, bể
chứa sản phẩm dầu
400
Đề án nhà máy lọc dầu 1 1300
Đề án đưa khí vào bờ 400
Các đề án SXKD sản phẩm
dầu khí
632
Liên doanh đường ống khí
Nam Côn Sơn
400
Phát triển và khai thác khí
Lan Tây- Lan Đỏ
500
Đầu tư thiết bị cho nghiên
cứu khoa học, xây lắp
chuyên ngành
50
Tổng cộng 11.412 Tổng cộng 6250
Toàn bộ I+ II: 17.662 Triệu USD
Do việc khai thác dầu tăng, nhu cầu mua sắm thiết bị ngày càng tăng. Sau
đây là bảng nhu cầu mua sắm thiết bị năm 2002-2004 của Tổng công ty dầu khí
Việt nam.
Xem bảng 15 trang sau.
NHU CẦU MUA SẮM THIẾT BỊ NĂM 2002 - 2004
B
1
2
Vốn ODA
Máy nén khí
Hệ thống xử lý dầu
353,2
322
31,2
C
1
2
3
4
5
6
Vốn ngân sách
Cần cẩu
Sân bay trực thăng
Khu nhà ở
Thiết bị dầu giếng
Đuốc
Máy trộn, khuấy dung dịch khoan
558,8
21,2
101,3
14,1
207,7
7
207,5
Một điều nữa khiến cho thời gian phê duyệt dự án bị kéo dài là do hồ sơ
dự thầu không được chuẩn bị tốt khiến việc đánh giá hồ sơ gặp nhiều khó khăn (do
các tiêu chuẩn đưa ra không rõ ràng dẫn tới việc hồ sơ dự thầu chưa đạt tiêu chuẩn
như mong đợi của các chủ đầu tư). Do vậy, TCT cần chú trọng vào việc chuẩn bị
hồ sơ mời thầu, nếu thấy cần thiết có thể mời thêm chuyên gia giúp việc đề ra các
tiêu chuẩn cho phù hợp với yêu cầu của công việc. TCT cần chỉ đạo các công ty
thành viên của mình chuẩn bị hồ sơ mời thầu, kế hoạch đấu thầu để trình các cấp
có thẩm quyền phê duyệt trước khi triển khai đấu thầu các đề án lớn như tổ hợp
công nghệ công trình khí trị giá 163.000.000 USD. Việc thông qua ý kiến của TCT
trước khi đấu thầu có thể rút ngắn thời gian phê duyệt dự án do tránh được sự bất
đồng quan điểm với TCT về các chỉ tiêu xét thầu, việc cho điểm....
1.2-Thực hiện tốt các bước cơ bản trong quá trình đấu thầu
1.2.1- Bước lập hồ sơ mời thầu
Đây là một bước rất quan trọng của quy trình đấu thầu quốc tế. Thực hiện tốt
bước này sẽ tạo điều kiện cho việc thực hiện các bước sau. Khi lập hồ sơ, bên mời
thầu phải xem xét cân nhắc chặt chẽ việc lựa chọn hình thức đấu thầu hợp lý, các
yêu cầu trong hồ sơ mời thầu phải đầy đủ, hợp lý để khi mời các nhà thầu tránh
được sai sót đáng tiếc. Chẳng hạn như do hồ sơ mời thầu quá chung chung, mập
mờ gây khó hiểu cho nhà thầu, gây khó khăn cho quá trình đánh giá; khối lượng
đưa ra trong hồ sơ mời thầu sai lệch so với thiết kế. Phải nói rằng, chất lượng của
hồ sơ mời thầu là một trong những nguyên nhân làm cho quá trình đánh giá hồ sơ
dự thầu kéo dài, thiếu cơ sở tin cậy để ra quyết định kết quả đấu thầu. Nguyên nhân
chính do cán bộ chuyên gia trong một số trường hợp còn chưa đáp ứng năng lực,
thiếu kinh nghiệm, TCT thiếu kiểm tra kỹ lưỡng trước khi phê duyệt.
Việc lựa chọn hình thức đấu thầu không phù hợp gây mất thời gian, tốn kém
và không đạt hiệu quả cao. Để lựa chọn một cách đúng nhất, ta phải nắm rõ ưu
nhược điểm của từng hình thức, mục đích cần đạt được trong từng cuộc đấu thầu.
Đấu thầu cạnh tranh quốc tế có các nhà thầu nước ngoài có trình độ kỹ thuật,
năng lực đấu thầu cao, chọn được công nghệ tiên tiến nhưng Văn phòng Thẩm định
thầu phải có trình độ cao trong nghiệp vụ đấu thầu nếu không dễ bị ép giá, đàm
lâu năm, công ty thành viên. Nếu như ban tổ chức quyết định ưu tiên cho bạn hàng
quen thì sẽ ưu tiên bằng cách cộng thêm một số điểm nhất định nào đó. Như vậy,
kết quả cuối cùng sẽ đảm bảo tính công bằng, đảm bảo tính ưu tiên. Chẳng hạn
trong ví dụ ở phần thực trạng, nhà thầu VSP/B&R (liên doanh với công ty thành
viên của TCT) nên khi xét thầu được cộng thêm 20 điểm ưu tiên.
+ Chỉ tiêu xét thầu được xây dựng cho từng dự án là khác nhau. Bởi vậy, hệ
thống thang điểm phải được xây dựng cho những nhóm dự án riêng biệt. TCT cần
xây dựng hệ thống thang điểm cho những nhóm dự án có những điểm tương đồng
như dự án về thiết bị cho công tác khai thác giếng khoan, dự án về thuê tàu, dự án
về mua thiết bị cho công tác dịch vụ...
Muốn thành lập hệ thống chỉ tiêu xét thầu cần tuân thủ các điều kiện:
- Tổng công ty có văn bản hướng dẫn lập một hệ thống chỉ tiêu xét thầu
chung cho toàn ngành.
- Tập huấn cán bộ làm công tác xét thầu
- Các đơn vị lên kế hoạch NK từ đó có thể lựa chọn các chỉ tiêu và cho điểm
trước khi mở gói thầu.
2- Vấn đề cho điểm
Quy chế đấu thầu chỉ đưa ra phương pháp đánh giá tiêu chuẩn trong hồ sơ
dự thầu là cách cho điểm nhưng lại không quy định cụ thể cách chấm điểm như thế
nào. Tại Tổng công ty DKVN phương thức chấm điểm dưới hai hình thức: cho
điểm bình quân và cho điểm theo thảo luận. Tuy nhiên cả hai hình thức đều có
những mặt hạn chế.
+ Hình thức cho điểm bình quân: khoảng cách cho điểm chênh lệch nhau do
cách đánh giá của các thành viên khác nhau dẫn đến kết quả chênh lệch rất lớn về
tổng số điểm của các thành viên và việc đánh giá chưa được chính xác.
+ Hình thức cho điểm theo thảo luận: về thực chất, hình thức này có những
ưu điểm nhất định như tính công khai, tạo điều kiện cho các thành viên của Hội
đồng xét thầu nêu các ý kiến của mình và những diễn giải hợp lý sẽ được công
nhận và nghe theo. Tuy nhiên trên thực tế lại không hoàn toàn đúng như vậy. Trong
các cuộc đấu thầu ở các đơn vị thành viên nếu giá trị đấu thầu lớn và có thành phần