Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh loạn thần do rượu tại bệnh viện tâm thần nam định năm 2019 - Pdf 75

BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƢỠNG NAM ĐỊNH

MẠC THỊ HỒNG NHUNG

THỰC TRẠNG
CƠNG TÁC CHĂM SĨC NGƢỜI BỆNH LOẠN THẦN
DO RƢỢU TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN NAM ĐỊNH
NĂM 2019

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH – 2019


BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƢỠNG NAM ĐỊNH

MẠC THỊ HỒNG NHUNG

THỰC TRẠNG
CƠNG TÁC CHĂM SĨC NGƢỜI BỆNH LOẠN THẦN
DO RƢỢU TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN NAM ĐỊNH
NĂM 2019

Chuyên ngành: Nội ngƣời lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn: Tiến sỹ Trương Tuấn Anh

NAM ĐỊNH – 2019



ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là báo cáo của riêng tôi. Các kết quả trong chuyên đề là
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ cơng trình nào khác. Nếu có gì
sai sót tơi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Nam Định, ngày ….. tháng 6 năm 2019
Ngƣời làm chuyên đề

Mạc Thị Hồng Nhung


MỤC LỤC
Lời cảm ơn

i

Lời cam đoan

ii

Danh mục chữ viết tắt

iii

Danh mục bảng


Chương 3: Đề xuất giải pháp

33

3.1. Đối với điều dưỡng

33

3.2. Đối với người bệnh

34

3.3. Đối với mạng lưới y tế cơ sở

34

3.4. Đối với bệnh viện Tâm thần Nam Định

35

Kết luận

36

Tài liệu tham khảo


iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1.

Đặc điểm chung của người bệnh Loạn thần do rượu.

tr.25

Bảng 2.2.

Đặc điểm lâm sàng của người bệnh Loạn thần do rượu

tr.26

Bảng 2.3.

Thực trạng công tác chăm sóc của điều dưỡng đối với

tr.27

người bệnh Loạn thần do rượu


1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rượu là một loại thuốc tác dụng rất mạnh, nước uống có rượu chứa đựng trong
nó tỷ lệ phần trăm nhất định Ethanol (Alcol Ethylic), tỷ lệ rượu càng cao biểu thị bằng
độ của nước uống có rượu càng lớn, tác hại đến sức khỏe của người uống càng nhanh.

nói riêng cơng tác tại lĩnh vực chuyên khoa tâm thần cần phải nhận rõ những đặc điểm
riêng, khác biệt của bệnh lý này đồng thời phải chẩn đốn chính xác, điều trị tích cực
và cơng tác chăm sóc của điều dưỡng phải chuyên biệt (Quy trình chăm sóc chun
khoa).
Với lý do trên, học viên thực hiện nghiên cứu chun đề “Thực trạng cơng tác
chăm sóc người bệnh loạn thần do rượu tại Bệnh viện Tâm thần Nam Định năm
2019”.


3
MỤC TIÊU
1. Mơ tả thực trạng cơng tác chăm sóc người bệnh loạn thần do rượu tại Bệnh
viện tâm thần Nam Định năm 2019.
2. Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh loạn
thần do rượu.


4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lý luận.
1.1.1. Lạm dụng rƣợu.
* Khái niệm:
Việc uống rượu đã xuất hiện và tồn tại từ rất lâu trên thế giới, có tính xã hội
rộng rãi được ghi nhận sâu sắc trong truyền thống văn hóa của nhiều nền văn minh.
Tuy nhiên rượu là một chất tác động tâm thần, uống rượu ở mức độ vừa phải đem lại
cho người uống cảm giác sảng khoái vui vẻ, hoạt bát trong giao tiếp…Nhưng uống ở
những liều lớn hơn người uống dễ lâm vào trạng thái say rượu khơng cịn làm chủ được
bản thân, thậm chí có thể hơn mê, ngộ độc cấp do rượu. Những người uống rượu

- Theo nghiên cứu của Bùi Quang Huy (2010) lạm dụng rượu lâu ngày thường
đưa đến chứng nghiện rượu [8].
- Theo Tổ chức y tế thế giới, nghiện rượu là nhu cầu thèm muốn, địi hỏi thường
xun đồ uống có cồn, hình thành thói quen, gây rối loạn nhân cách, giảm khả năng lao
động và sức khỏe [6].
- Năm 1951, Pouqyet định nghĩa: nghiện rượu là khi một cá nhân đã sử dụng
rượu mà bị mất tự do vì rượu.
- Năm 1994, Hardy P và Keureis O. định nghĩa nghiện rượu như sau:
+ Về mặt số lượng: nghiện rượu là sử dụng hàng ngày vượt quá 1ml cho 1kg
cân nặng hoặc 3/4 lít rượu vang 10% cồn cho một người đàn ông nặng 70kg.
+ Về mặt xã hội: nghiện rượu là tất cả những hình thái uống rượu vượt q việc
sử dụng thơng thường và truyền thống.
* Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu.
- Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu theo ICD-10 một người được coi là đã
nghiện rượu khi có 3 trong 6 biểu hiện sau trở lên và biểu hiện trong vòng 1 năm trở lại
đây: [17]
1- Thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm thấy bắt buộc phải sử dụng rượu.
2- Khó khăn kiểm tra về thời gian bắt đầu uống và kết thúc uống cũng như mức
độ uống hàng ngày.
3- Khi ngừng uống rượu thì xuất hiện trạng thái cai.
4- Có bằng chứng về số lượng uống ngày càng gia tăng (khả năng dung nạp).


6
5- Sao nhãng những thú vui trước đây, dành nhiều thời gian để tìm kiếm rượu,
uống rượu.
6- Vẫn tiếp tục uống mặc dù đã hiểu rõ tác hại của rượu gây ra về cả cơ thể và
tâm thần.sử dụng mặc dù biết hoặc đã có những hậu quả tai hại của nó.
1.1.3. Dịch tễ học của nghiện rƣợu.
* Tuổi:

ra nghiện rượu. Có 3 loại nghề nghiệp liên quan đặc biệt đến nghiện rượu là nông dân
với môi trường nông thôn; tầng lớp công nhân lao động chân tay nặng nhọc; những
người phải tiếp xúc với công chúng nhiều như bồi bàn, nhân viên chuyển hàng và giới
kinh doanh.
- Theo các nghiên cứu ở Việt nam, có tới 80% số người nghiện rượu làm những
nghề lao động nặng nhọc như thợ xây, thợ mộc, thợ rèn, nhưng có đến 32,5% thất
nghiệp ở thời điểm nghiên cứu.
- Nghiên cứu của tác giả Lý Trần Tình (2006) cho thấy công nhân chiếm tỷ lệ
34,4%, nông dân 32,3%, viên chức 6,3% và 27,1% làm nghề tự do.
* Trình độ học vấn
- Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy có một tỷ lệ đáng kể người
bệnh có trình độ học vấn thấp. Theo Soayka M. (1990) cho thấy 64,2 % có học vấn phổ
thơng trung học và 13,2% có học vấn tiểu học.
- Tác giả Trần Viết Nghị (1996) cho rằng có 80,6% số người nghiện rượu chưa
tốt nghiệp phổ thông trung học.
- Môi trường làm việc nặng nhọc, sự thiếu hiểu biết và sự phổ biến của những
quan niệm sai lầm về tác dụng của rượu trong dân chúng cho rượu là thuốc bổ dưỡng,
nhanh chóng phục hồi sức khỏe… là những điều kiện thuận lợi làm phát sinh, phát
triển việc lạm dụng rượu và nghiện rượu. Điều này có thể là một trong những nhân tố
làm gia tăng số người bệnh nghiện rượu ở nước ta.
* Thời gian uống rƣợu của ngƣời bệnh nghiện rƣợu
- Đa số các tác giả đều cho rằng thời gian uống rượu phải trên 10 năm mới trở
thành nghiện rượu. Chỉ một số rất ít người bệnh uống rượu trên 5 năm đã trở thành
nghiện rượu. Những người này phải uống một số lượng rượu rất lớn mỗi ngày (từ 700
– 1000 ml rượu 40 độ). Nói chung, tỷ lệ người nghiện rượu có thời gian uống rượu


8
dưới 5 năm chỉ chiếm khoảng 10% số trường hợp, tỷ lệ cao nhất gặp trong nhóm uống
rượu từ 10 – 15 năm chiếm 60%, các nhóm thời gian uống rượu 15 – 20 năm chiếm

nghiện rượu là một bệnh di truyền.
- Nghiện rượu ở người con một phần do ảnh hưởng trực tiếp từ lối sống, sinh
hoạt của bố mẹ; phần khác là do ảnh hưởng của tính di truyền đã được chứng minh qua
nghiên cứu của những cặp sinh đôi cùng trứng (gen di truyền giống nhau) và khác
trứng (gen di truyền khác nhau).
- Khoảng 60% số trường hợp người bệnh nghiện rượu có bố, mẹ, anh, em là
người nghiện rượu.
1.1.4. Tác hại của rƣợu :
* Tác hại về cơ thể:
- Có nhiều nguy cơ mà do uống rượu quá nhiều có thể gây hại cho cơ thể:
+Thứ nhất: Gây ngộ độc trực tiếp cho một số cơ quan quan trọng như não, gan.
+ Thứ hai: uống rượu thường phối hợp với chế độ ăn nghèo dinh dưỡng dẫn đến
thiếu protein và vitamin nhóm B.
+ Thứ ba: người uống rượu nhiều có nguy cơ cao bị các tai nạn, đặc biệt là vết
thương vùng đầu.
+ Thứ tư: người uống rượu nhiều thường ít vệ sinh cơ thể, từ đó dẫn nguy cơ
đến các bệnh nhiễm trùng.
- Các tổn thương thực tổn xảy ra ở một số cơ quan trong cơ thể:
+ Tổn thương ở hệ tiêu hóa: là phổ biến nhất, đặc biệt là ở gan, loét dạ dày - tá
tràng, viêm thực quản, viêm tụy cấp và mạn.
+ Tổn thương hệ thần kinh
+ Các tổn thương cơ thể khác của uống rượu quá nhiều như: thiếu máu, viêm cơ,
các cơn hạ đường huyết, xuất huyết mạn tính, viêm cơ tim, thiếu vitamin và lao [7].
* Các rối loạn tâm thần:
- Thay đổi các phản ứng cảm xúc: Rối loạn khí sắc, khối cảm chiếm ưu thế,
khoan khối dễ chịu, nói năng hun thun, khốc lác, hay đùa cợt, xàm xỡ, cáu gắt,
cơng kích dọa nạt, chửi bới tấn cơng người khác.


10

11
được đến điểm hẹn uống rượu. Người bệnh chẳng những khơng từ chối mà cịn vui
sướng nhận những lời mời rượu của bạn rượu.
Những biến đổi như trên ngày càng làm suy giảm các tập tính tốt.
* Với cơng việc:
- Người bệnh nghỉ việc thường xuyên, năng suất công tác giảm sút làm cho
bệnh nhân sớm bị buộc thôi việc. Công việc thường bị gián đoạn, tiền lương kiếm
được ngày càng giảm sút, mặc dù bệnh nhân rất muốn kiếm được nhiều tiền để uống
rượu.
* Với xã hội: Địa vị xã hội của người bệnh dần dần bị hạ thấp, mối quan hệ
xã hội bị thu hẹp dần, người bệnh mất dần những bạn bè thân thích, đặc biệt những
người bạn tốt muốn gần gũi khuyên can bệnh nhân từ bỏ rượu, chỉ còn những bạn
rượu chia xẻ thú uống rượu nhất thời. Phẩm chất xã hội thối hóa dần, thường vi
phạm pháp luật.
1.1.5. Loạn thần do rƣợu:
* Khái niệm Loạn thần do rượu:
- Thuật ngữ loạn thần do rượu được xác định bởi loạn thần xuất hiện và phát
triển do hậu quả tác dụng trực tiếp của rượu lên não. Loạn thần phát triển chủ yếu do
nhiễm độc rượu lâu dài gây tổn thương các cơ quan nội tạng và rối loạn chuyển hoá
trong cơ thể. Loạn thần xuất hiện không những do ngộ độc rượu khi nồng độ rượu cao
trong cơ thể mà ngay cả khi lượng rượu trong máu khơng có hoặc có rất thấp (Wictor
M., 1953).
- Về lâm sàng loạn thần do rượu có thể chia ra: sảng rượu, ảo giác do rượu,
hoang tưởng do rượu, hội chứng Korsakov do rượu, bệnh não do rượu...(Sumski N. G.,
1963).
- Về tiến triển người ta phân chia rối loạn tâm thần do rươụ thành 3 loại khác
nhau: loại tiến triển tạm thời và không thường xuyên, loại tái phát nhiều lần và loại tiến
triển mạn tính [9].



13
-> Ảo giác do rượu thường là những ảo giác thật, ảo giác trong tâm thần phân
liệt thường là những ảo giác giả có khi có ảo giác thật. Ảo thanh ra lệnh, bình phẩm đặc
trưng trong tâm thần phân liệt ít thấy ở bệnh nhân loạn thần do rượu.
-> Hiện tượng bị động, bị chi phối hay tâm thần tự động đặc trưng cho tâm thần
phân liệt ít thấy ở bệnh nhân loạn thần do rượu.
-> Phải xem xét tiền sử, bệnh sử, sự biến đổi nhân cách để có thể phân biệt tâm
thần phân liệt và loạn thần do rượu.
+ Với sảng rượu:
-> Sảng rượu là một tình trạng cấp cứu, rối loạn toàn thân nặng nề hơn và có
nhiều rối loạn chuyển hố cơ thể, dễ dẫn đến tử vong.
-> Sảng rượu thường kèm theo rối loạn ý thức đặc thù. Sảng rượu thường gặp
hiện tượng run còn gọi là sảng run.
-> Ảo giác trong sảng rượu thường gặp ảo thị, thấy những con vật kích thước
thu nhỏ.
Theo ICD-10, tuỳ theo triệu chứng nào nổi bật trên lâm sàng mà đặt mã các
chẩn đoán thể loạn thần như sau:
F10.4 Hội chứng cai rượu với mê sảng (Sảng rượu)
F10.40 Sảng rượu khơng co giật.
F10.41 Sảng rượu có co giật
F10.50 Rối loạn loạn thần do rượu giống phân liệt
F10.51 Rối loạn loạn thần do rượu, hoang tuởng chiếm ưu thế
F10.52 Rối loạn loạn thần do rượu, ảo giác chiếm ưu thế
F10.53 Rối loạn loạn thần do rượu, chủ yếu đa dạng
F10.54 Rối loạn loạn thần do rượu, các triệu chứng trầm cảm chiếm ưu thế
F10.55 Rối loạn loạn thần do rượu, các triệu chứng hưng cảm chiếm ưu thế
F10.56 Rối loạn loạn thần do rượu, trạng thái hỗn hợp
F10.7 Trạng thái loạn thần di chứng và khởi phát muộn do rượu.
F10.8: Các rối loạn tâm thần và hành vi khác do rượu.
F10.9: Rối loạn tâm thần và hành vi không biệt định do rượu.

- Hoang tưởng do rượu được chia ra paranoid do rượu và paranoia do rượu.


15
+ Paranoid do rượu gồm có các hoang tưởng khác nhau có thể cấp tính, có thể
kéo dài. + Paranoia do rượu chủ yếu nghiên cứu về hoang tưởng ghen tuông do rượu.
- Trong ICD-10 hoang tưởng và ảo giác do rượu xếp vào mục rối loạn loạn thần
do rượu (F10.5), trong đó hoang tưởng chiếm ưu thế ở mục F10.51 và ảo giác chiếm
ưu thế ở mục F10.52.
- Trong DSM- IV của Mỹ, hoang tưởng và ảo giác do rượu được xếp vào mục
rối loạn loạn thần do rượu (291), trong đó ảo giác chiếm ưu thế ở mục (291.3) và
hoang tưởng chiếm ưu thế ở mục (291.5).
* Đặc điểm lâm sàng của loạn thần do rượu:
- Các yếu tố thúc đẩy
-> Đa số các tác giả đều thừa nhận loạn thần do rượu với hoang tưởng và ảo
giác chiếm ưu thế thường gặp ở lứa tuổi 30 - 40 tuổi (chiếm 61,3% số bệnh nhân).
-> Tỉ lệ nam/nữ có khác biệt (4:1). Theo nghiên cứu của Marozov G.V.
Hoangtưởng do rượu chủ yếu gặp ở nam giới, còn ảo giác do rượu gặp ở nữ nhiều hơn
ở nam. Ở nước ta hoang tưởng và ảo giác do rượu rất ít gặp ở nữ.
-> Loạn thần do rượu với hoang tưởng và ảo giác chiếm ưu thế thường gặp
ởnhững người nghiện rượu mãn tính sau 10 năm (chiếm 61,5% trường hợp), thường
gặp ở những người có học vấn thấp và nghề nghiệp khơng ổn định, thường ở trong
hồn cảnh gia đình có người thân nghiện rượu.
- Đặc điểm khởi phát
Loạn thần do rượu với hoang tưởng và ảo giác chiếm ưu thế có thể khởi phát
cấp tính hay từ từ. Giai đoạn tiền triệu ngắn với khí sắc hoang tưởng, ảo tưởng lời
nói và lo âu. Đa số các tác giả cho răng khởi phát cấp tính đạt đến đỉnh cao của bệnh
trong khoảng vài giờ đến vài ngày (92,4% các trường hợp khởi phát cấp tính trong
khoảng vài ngày)
- Biểu hiện lâm sàng

Sự phức tạp của loạn thần có thể diễn ra theo 2 hướng:
Hoang tưởng ghen tuông là chủ đề duy nhất không thay đổi.
Ý tưởng hoang tưởng cịn có nội dung khác liên quan đến sự thiệt hại vật
chất (vợ lấy tiền cho người yêu, đầu độc người bệnh để có tự do với người yêu). Một
số tác giả nhận thấy hoang tưởng ghen tuông thường xuất hiện sau loạn thần do rượu


17
cấp tính, ở tuổi trung niên. Một số thống kê nhận thấy hoang tưởng ghen tuông gặp ở
40% người bệnh loạn thần do rượu với hoang tưởng và ảo giác chiếm ưu thế.
-> Paranoid do rượu được nhắc đến nhiều là hoang tưởng bị theo dõi, hoang
tưởng bị hại và các hoang tưởng cảm thụ có tính hình tượng cao.
Hoang tưởng bị theo dõi chi phối mãnh liệt hành vi, cảm xúc của người bệnh.
Thường có ảo tưởng lời nói, ảo tưởng cảm xúc và ảo thanh với nội dung đe doạ. Hành
vi có tính xung động, nguy hiểm cho bản thân và xung quanh. Người bệnh bỏ chạy,
phòng thủ, có khi tự sát. Trong những trường hợp kéo dài thì hành vi ít nguy hiểm hơn.
ít thấy các hoang tưởng bị theo dõi, bị chi phối bằng vật lý như trong tâm thần phân
liệt. Theo Soayka H., 1990 hoang tưởng bị theo dõi chiếm 32%.
Hoang tưởng bị hại có thể cùng xuất hiện với hoang tưởng bị theo dõi hoặc
hoang tưởng ghen tuông trong paranoid cấp do rượu. Theo thống kê của một số tác giả
hoang tưởng bị hại chiếm 71% người bệnh loạn thần do rượu.
-> Ngoài ra ở người bệnh loạn thần do rượu còn thấy một số hoang tưởng khác
như hoang tưởng liên hệ, hoang tưởng tự cao, hoang tưởng nghi bệnh... nhưng tỉ lệ
thấp.
+ Hoang tưởng và ảo giác đôi khi cùng phối hợp với nhau trong một bệnh cảnh
lâm sàng của loạn thần do rượu. Theo thống kê của Soayle M., 1990 chỉ có 13% người
bệnh loạn thần do rượu có ảo giác đơn thuần.
+ Cảm xúc và hành vi:
-> Hoang tưởng và ảo giác do rượu thường chi phối mạnh mẽ hành vi, cảm xúc
của bệnh nhân loạn thần do rượu ở những cơn cấp tính. Bệnh nhân lo âu, sợ hãi và

+ Liệu pháp tâm lý: nhằm mục đích thiết lập các mối quan hệ tin cậy, thông cảm
với người bệnh, làm cơ sở cho việc điều trị tiếp theo.
- Giai đoạn sau loạn thần
Phục hồi chức năng tâm lý xã hội để chống tái nghiện, giúp người bệnh tái
hoà nhập với gia đình và cộng đồng. Phối hợp tâm lí, quản lí, lao động nghề nghiệp
để có thể chuyển đổi hành vi của người bệnh theo chiều hướng tốt.
* Điều trị và chăm sóc:
- Các xét nghiệm cần làm:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status