ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế thế giới “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể
chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay
thương tật”.
Ở Việt Nam, khái niệm Chăm sóc người bệnh toàn diện (CSNBTD) được đề ra
từ năm 1993 qua Quyết định 526/QĐ-BYT ban hành chế độ trách nhiệm của y tá
trong việc chăm sóc người bệnh tại bệnh viện, và đã được thể chế hóa thành Quy
chế chăm sóc người bệnh toàn diện trong Quy chế bệnh viện vào 4 năm sau đó
(1997). Năm 2003, Chỉ thị 05/2003/BYT-CT của Bộ trưởng Bộ Y tế đã yêu cầu mọi
cán bộ y tế đều có trách nhiệm thực hiện CSNBTD, các bệnh viện phải tăng cường
công tác chăm sóc người bệnh toàn diện. Trong đó có nội dung “Giao trách nhiệm
cho các trưởng khoa lâm sàng tổ chức thực hiện CSNBTD, xoá bỏ mô hình phân
công chăm sóc theo công việc mà thay vào đó là mô hình phân công chăm sóc
theo đội hoặc nhóm thay cho chăm sóc theo công việc”
Tại bệnh viện Đa khoa thanh phố Vinh, công tác chăm sóc người bệnh toàn
diện theo mô hình đội đã được đưa vào triển khai và bước đầu thu được những kết
quả nhất định. Vì vậy chúng tôi tiến hanh nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực hiện
công tác chăm sóc người bệnh theo mô hình đội tại Bệnh viện đa khoa Thành phố
Vinh”
Nghiên cứu này được tiến hành với những mục tiêu sau:
1) Đánh giá hiệu quả quá trình thực hiện công tác CSNBTD theo mô hình
đội.
2) Đề ra giải pháp, phương hướng triển khai hoàn thiện mô hình nhằm nâng
cao chất lượng điều trị. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
Tự
thể hiện
Nhu cầu loại cao
Nhu cầu loại thấp
Những nhu cầu ở mức độ thấp luôn tồn tại, cho đến khi những nhu cầu đã được
thỏa mãn con người có khả năng chuyển sang những nhu cầu khác ở mức độ cao
hơn. Khi một người (người bệnh) đòi hỏi có nhu cầu cao hơn, việc ấy chứng tỏ họ
có sự khỏe khoắn trong tâm hồn và thể chất.
Hệ thống thứ bậc của các nhu cầu rất hữu ích để làm nền tảng trong việc nhận
định về sức chịu đựng của người bệnh, những giới hạn và nhu cầu đòi hỏi sự can
thiệp điều dưỡng.
1.2.2. Nhu cầu cơ bản của người bệnh và chăm sóc
Theo Virginia Henderson trong cuốn các nguyên tắc điều dưỡng cơ bản (CSCB)
thì thành phần của CSCB gồm 14 yếu tố:
1. Ðáp ứng các nhu cầu về hô hấp
2. Giúp đỡ bệnh nhân về ăn, uống và dinh dưỡng
3. Giúp đỡ bệnh nhân trong sự bài tiết
4. Giúp đỡ bệnh nhân về tư thế, vận động và tập luyện.
5. Ðáp ứng nhu cầu ngủ và nghỉ ngơi.
6. Giúp bệnh nhân mặc và thay quần áo.
7. Giúp bệnh nhân duy trì thân nhiệt.
8. Giúp bệnh nhân vệ sinh cá nhân hàng ngày.
9. Giúp bệnh nhân tránh được các nguy hiểm trong khi nằm viện.
10. Giúp bệnh nhân trong sự giao tiếp.
11. Giúp bệnh nhân thoái mái về tinh thần, tự do tín ngưỡng.
12. Giúp bệnh nhân lao động, làm một việc gì đó để tránh mặc cảm là người vô
dụng.
13. Giúp bệnh nhân trong các hoạt động vui chơi, giải trí.
14. Giúp bệnh nhân có kiến thức về y học.
tình hình người bệnh, các công việc chăm sóc cần được tiếp tục thực hiện nên cần
có chế độ bàn giao.
- Công tác quản lý: Công tác quản lý đòi hỏi ở một trình độ cao, ví dụ khi một
nhân viên điều dưỡng đơn nguyên phải nghỉ đột xuất thì phải có người thay thế ngay
và phải có sự bàn giao về người bệnh giữa nhân viên với nhân viên thay thế.
1.4. Thực tiễn hoạt động tại bệnh viện đa khoa thành phố Vinh.
1.4.1. Thực trạng công việc khám chữa bệnh.
Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh được phát triểu từ bệnh viện Vinh, thành lập
ngày 15/10/1965, tại Hưng Chính, Hưng Nguyên. Lúc đầu, Bệnh viện chỉ có 26 cán
bộ y tế với quy mô 50 giường bệnh, đến nay bệnh viện có 220 giường bệnh.
Từ lâu bệnh viện đa khoa thành phố Vinh vẫn biết đến đến với chất lượng chuyên
môn và thái độ phục vụ, y đức tốt, và bệnh viện đang không ngừng phát triển hoàn
thiện để đáp ứng kịp nhu cầu khám chữa bệnh. Một trong những hoạt động đó là
bệnh viện đã tiến hành áp dụng mô hình chăm sóc toàn diện theo đội phù hợp hơn
cho yêu cầu chuyên môn và nhu cầu của người bệnh.
1.4.2. Tổ chức mô hình chăm sóc theo đội tại bv ĐK TP Vinh.
Căn cứ theo mô hình mô hình chăm sóc theo đội và tình hình thực tế, bệnh
viện đa khoa thành phố Vinh đã triển khai mô hình chăm sóc theo đội với các thành
viên sau:
1. Điều dưỡng (điều dưỡng trưởng khoa, điều dưỡng đội trưởng, điều dưỡng
chăm sóc), Kĩ thuật viên phục hồi chức năng.
2. Bác sĩ
3. Sinh viên y khoa, học sinh/ sinh viên điều dưỡng.
4. Hộ lý.
5. Người bệnh: là trung tâm chăm sóc.
6. Người nhà người bệnh.
Học sinh
Bác sĩ
Điều dưỡng
KTV PHCN
Cận lâm sàng
Dược
Chỗng nhiễm khuẩn
Dinh dưỡng
Điều dưỡng Trưởng khoa
Trưởng khoa Lâm sàng
ĐD hành chính
Mô hình chăm sóc theo đội tại bệnh viện đa khoa thành phố Vinh
Nhiệm vụ của từng thành viên trong đội phải được giao, nhận và kiểm điểm mức
độ thực hiện hàng ngày và ghi chép vào sổ nhật ký hoạt động.
Người bệnh là trọng tâm, được chăm sóc cả về thể chất và tinh thần, được tham
gia vào lập kế hoạch chăm sóc. Ðáng chú ý, người nhà người bệnh cũng được tham
gia vào đội chăm sóc đó, có nhiệm vụ hỗ trợ chăm sóc người bệnh theo sự tư vấn,
hướng dẫn của các thành viên trong đội. Nhờ đó, hầu hết cán bộ và nhân viên các
khoa, phòng đều có thái độ tích cực và ý thức trách nhiệm trong quá trình triển khai
chăm sóc toàn diện người bệnh theo mô hình đội. Các thành viên đều phát huy được
vai trò, trách nhiệm của mình khi tham gia. Chất lượng chăm sóc người bệnh được
cải thiện, người bệnh được theo dõi sát và liên tục, không có "khoảng trống" trong
chăm sóc người bệnh.
Như vậy, mô hình đội chăm sóc ở bệnh viện cũng từ tính đặc thù của nền văn hóa
đó là người thân muốn tự mình chăm sóc cho người thân của mình khi ốm đau, cũng
như tình hình thực tế về nhân lực cán bộ y tế trong đó có nhân lực điều dưỡng hiện
nay của các bệnh viên nói chung và bệnh viện ĐK thành phố Vinh nói riêng nên
trong đội chăm sóc áp dụng tại bệnh viện có thêm đối tượng người nhà người bệnh.
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Kết quả thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng trưởng khoa trong công tác
CSNBTD
Đánh giá
Nội dung
Thực hiện tốt
Thực hiện
chưa tốt
n
Tỉ lệ %
n
Tỉ lệ %
Giám sát tiếp nhận NB, phổ biến nội quy khoa
phòng và kiểm tra thủ tục hành chính
10
83.34
7
58.33
5
41.67
Nhận xét:
- 100% có nhận xét quản lý, điều hành nhân lực ĐD, NHS, Hộ lý tốt. Các chỉ
tiêu khác về công tác quản lý như: Giám sát tiếp nhận NB, phổ biến nội quy khoa
phòng và kiểm tra thủ tục hành chính; Phân công chăm sóc BN cấp 1, diễn biến,
kiểm tra phương tiện cấp cứu; Kiểm tra chế độ vô khuẩn, trật tự khoa phòng đều có
tỷ lệ thực hiện tốt cao từ 83,34% - 91,67%.
- Công tác đi buồng theo quy định tổ chức sinh hoạt hội đồng NB cấp khoa, ghi
chép nội dung sinh hoạt đầy đủ đạt tỷ lệ thực hiện tốt là 58,33%.
3.2. Kết quả thực hiện nhiệm vụ của ĐD, NHS
Đánh giá
Nội dung
Thực hiện tốt
Thực hiện
chưa tốt
n
Tỉ lệ %
n
Tỉ lệ %
Kiểm tra phương tiện cấp cứu phục vụ NB, thực
hiện tốt việc nhân và bàn giao tua trực.
87
94.56
5
chăm sóc NB cả về thể chất lẫn tinh thần theo
phân cấp (I, II, III)
49
53.26
43
47.04
Đi buồng nắm các thông tin từ NB, điều dưỡng
trưởng đội để lên kế hoạch chăm sóc cho NB
32
34.78
60
65.22
Tư vấn giáo dục sức khỏe
42
45.65
50
54.35
Nhận xét:
- Nhìn chung, những công tác chăm sóc người bệnh theo mô hình “truyền
thống” như: Kiểm tra phương tiện cấp cứ phục vụ NB, thực hiện tốt việc nhân và
bàn giao tua trực; Thực hiện y lệnh đầy đủ, ghi phiếu chăm sóc; Xử lý dụng cụ, gử
tiệt khuẩn đúng quy trình ; đều đạt tỷ lệ thực hiện tốt cao từ 80% - 87%.
- Các công tác trong nội dung chăm sóc toàn diện theo mô hình mới tỷ lệ thực
hiện tốt còn khiêm tốn < 50%, tỷ lệ thực hiện tốt thấp nhất ở chỉ tiêu đi buồng nắm
các thông tin từ NB, điều dưỡng trưởng đội để lên kế hoạch chăm sóc cho NB (32%).
3.3. Đánh giá của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về công tác CSTD
Đánh giá
Hài lòng
Chưa hài lòng
180
87.80
25
12.2
Được công khai thuốc và cách sử dụng
thuốc hàng ngày
140
68.29
65
31.71
NB được giúp đỡ chế độ ăn uống vệ sinh
85
41.46
120
58.54
Điều dưỡng trực tiếp cho bệnh nhân uống
thuốc
98
47.80
107
52.20
Tư vấn giáo dục sức khỏe
150
73.17
55
26.83
Có ý kiến trong cuộc họp hội đồng người
bệnh
80
39.02
công tác chăm sóc toàn diện đòi hỏi sự tương tác giữa các thành viện trong đội chăm
sóc đạt tỷ lệ thực hiện tốt còn thấp.
Công tác tổ chức họp hội đồng người bệnh tại khoa phòng được điều dưỡng
trưởng khoa tiến hành với tỷ lệ thực hiện tốt là 58,33%, trong khi đó ý kiến của bệnh
nhân về vấn đề này tỷ lệ hài lòng chỉ chiếm 39,02%. Điều này cho thấy công tác tổ
chức họp hội đồng người bệnh chưa được quan tâm đúng mức, bệnh nhân đến viện
không chỉ quan tâm việc bệnh của mình mà còn muốn bày tỏ ý kiến với các nhà cung
cấp dịch vụ. Việc tổ chức thêm và tổ chức tốt các buổi họp sinh hoạt hội đồng người
bệnh sẽ góp phần tạo sự hài lòng của bệnh nhân đối với bệnh viện đồng thời đây
cũng là một kênh thong tin tốt để thu thập ý kiến để hoàn thiện bệnh viện.
Về công tác tư vấn sức khỏe mặc dù chỉ có 45,65% số điều dưỡng nhận xét đã
thực hiện tốt nhưng có đến 73,13% số bệnh nhân và người nhà bệnh nhân hài lòng.
Thực tế việc giáo dục sức khỏe là một công việc hết sức quan trọng, để thực hiện tốt
mô hình chăm sóc theo đội thì bệnh nhân và người nhà bệnh nhân cũng phải có
những hiểu biết cơ bản về bệnh của mình, những việc cần làm và những vệc có thể
làm để phối hợp với các thành viên khác trong đội thực hiện tốt quá trình điều trị
Tỷ lệ hài lòng về sực giúp đỡ bệnh nhân vệ sinh, uống thuốc chỉ đạt sự hai lòng
từ 41,46% - 47,80%, tuy nhiên nếu xét theo tỷ lệ bệnh nhân được hỗ trợ chăm sóc
cấp I, II thì đây là một tỷ lệ cao.
Công tác đi buồng đạt tỷ lệ thực hiện tốt ở nhóm điều dưỡng trưởng khoa là
58.33%, còn ở nhóm điều dưỡng, nữ hộ sinh chỉ đạt 34.78%, tỷ lệ này còn thấp
nguyên nhân có thể do mục đích của công tác này chưa được hiểu đúng. Việc đi
buồng ở đây không phải là của lãnh đạo nhằm kiểm tra công việc đã giao cho cấp
dưới mà là hoạt động thường xuyên cần làm để các thành viên trong nhóm thu thập
thông tin từ người bệnh và từ các thành viên khác tronh nhóm qua đó có sự điều
chỉnh kế hoạch chăm sóc kịp thời.
thiết cho người bệnh đồng thời nâng cao uy tín của bệnh viện.
Thực hiện tốt đi buồng theo quy định, đặc biệt chú trọng ở đối tượng điều dưỡng
viên, cần lứu ý công tác đi buồng ở đây không phải là của đối tượng lãnh đạo đi kiểm
tra mà là để nắm thông tin từ các thành viên khác trong đội để có kế hoạch chăm sóc
phù hợp.
Chú trọng hơn trong công tác họp hội đồng người bệnh, truyên truyền giáo dục
sức khỏe nhằm tăng cường kiến thức về phòng chữa bệnh cũng như phối hợp trong
khám và điều trị của bệnh nhân (là trung tâm chăm sóc), và của người nhà bệnh nhân
(hỗ trợ chăm sóc cá thể chất lẫn tinh thần). Trển khai thêm, tăng cường các hoạt
động giáo dục sức khỏe khác như truyền thông qua loa đài, áp phích, các buổi tư vấn
– tuyên truyền tập thể… nhất là đối với các bệnh dịch, lây truyền, các bệnh mạn tính.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Bộ Y tế (2011) “Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong
bệnh viện”, Thông tư 07/2011/TT-BYT
2) Doãn Thị Thái (2009) “ Đánh giá thực hiện công tác chăm sóc người bệnh tâm
thần của điều dưỡng tại bệnh viện tâm thần Nghệ An”, Kỷ yếu hội nghị khoa học
điều dưỡng Ngệ An lần thứ 2.
3) Lê Phúc Linh (2009) “ Đánh giá kết quả bước đầu chăm sóc người bệnh toàn
diện theo mô hình đội tại khoa thần kinh bệnh viên đa khoa Nghệ An năm 2008”,
Kỷ yếu hội nghị khoa học điều dưỡng Ngệ An lần thứ 2.
4) Hoàng ngọc Chương – Trần Đức Thái (2007) “Điều dưỡng cơ bản tập I, II”,
Nhà xuất bản y hoc – 2007.
5) Nguyễn Thị Oanh (2007) “Chăm sóc toàn diện tại khoa sản bệnh viện đa khoa
Châu Thành năm 2007”
6) Phùng Thị Từ Lân (2009) “ Đánh giá sự hài long của người bệnh trong thời
gian điều trị tại bệnh viện đa khoa thành phố Vinh”, Kỷ yếu hội nghị khoa học