1
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH
THEO MÔ HÌNH ĐỘI
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHÚ LƯƠNG NĂM 2016
ĐẶTVẤN ĐỀ
Chăm sóc điều dưỡng đóng một vai trò rất quan trọng trong chăm sóc sức
khỏe (duy trì, nâng cao sức khỏe và phòng chống bệnh tật) từ chăm sóc người
khỏe đến chăm sóc người ốm và phục hồi chức năng. Chỉ thị số 05/2003/CT-BYT
ngày 04 tháng 12 năm 2003 về tăng cường chăm sóc người bệnh toàn diện của Bộ
Y tế nhằm đưa chất lượng công tác chăm sóc người bệnh ở nước ta đi dần vào nề
nếp sánh kịp với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Hiện nay, theo quy định của Bộ Y tế có 04 mô hình phân công công tác
chăm sóc như sau:
- Mô hình phân công điều dưỡng chăm sóc chính;
- Mô hình chăm sóc theo nhóm;
- Mô hình chăm sóc theo đội;
- Mô hình phân chăm sóc theo công việc.
Mô hình chăm sóc theo đội gồm bác sĩ, điều dưỡng viên hoặc hộ sinh
viên và người hành nghề khám chữa bệnh, có trách nhiệm điều trị, chăm sóc
cho một số người bệnh ở một đơn nguyên hay một số buồng bệnh. [ 5]
Với điều kiện thực tế về nhân lực, cơ sở vật chất và những lợi thế của mô
hình chăm sóc theo đội như tính hiệu quả cao, tiếp cận chăm sóc toàn diện;
năm 2011, Bệnh viện Đa khoa Phú Lương đã triển khai thực hiện mô hình
chăm sóc người bệnh theo đội tại 02 khoa: Ngoại-sản và Nội-nhi-lây-cấp cứu.
Đến nay, sau hơn 05 năm triển khai thực hiện, Bệnh viện Đa khoa Phú
Lương chưa có một đề tài nghiên cứu nào đánh giá về thực trạng chăm sóc
người bệnh theo mô hình chăm sóc theo đội.
Vì vậy, chúng tôi xây dựng và thực hiện đề tài nghiên cứu này đề đánh
giá thực trạng công tác chăm sóc người bệnh theo mô hình đội tại Bệnh viện
Mô hình chăm sóc theo đội gồm bác sĩ, điều dưỡng viên hoặc hộ sinh
viên và người hành nghề khám chữa bệnh, có trách nhiệm điều trị, chăm sóc
cho một số người bệnh ở một đơn nguyên hay một số buồng bệnh.
Khác với mô hình chăm sóc theo nhóm trước đây đã từng áp dụng, mô
hình chăm sóc theo đội đã khắc phục được những hạn chế như: Các thành
viên trong đội phối hợp chặt chẽ với nhau, thường xuyên trao đổi thông tin về
tình hình bệnh nhân. Vào đầu giờ thăm bệnh buổi sáng, Đội đến trực tiếp các
giường bệnh được phân công quản lý. Tại đây, đội nghe điều dưỡng báo cáo
tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân, hoạt động chăm sóc người bệnh; bác sĩ
kiểm tra lại sức khoẻ người bệnh. Sau đó, các thành viên trong đội, trong đó cả
bệnh nhân và người nhà bệnh nhân cùng thảo luận, kiểm điểm tình hình chăm
sóc, điều trị cho người bệnh, thái độ, ứng xử của các thành viên trong đội đối
với bệnh nhân; đồng thời, phác thảo kế hoạch chăm sóc trong ngày, phân công
cụ thể công việc của các thành viên. Nhờ đó, cán bộ nhân viên trong Khoa bám
sát được bệnh tình của người bệnh, hoạt động chăm sóc bệnh nhân được giám
sát tốt. Bản thân bác sĩ không chỉ làm công tác điều trị như trước đây mà còn
tham gia trực tiếp vào triển khai dự thảo kế hoạch chăm sóc bệnh nhân trong
ngày sao cho hiệu quả nhất, bởi hơn ai hết, họ là người hiểu rõ hơn cả tình
trạng bệnh tật của người bệnh. [8]
1.1.1. Khái niệm chăm sóc toàn diện
Từ quan điểm của người cung cấp dịch vụ: Chăm sóc toàn diện được hiểu là
dịch vụ y tế tổng hợp được thực hiện một cách đồng bộ bởi Bác sĩ - Điều dưỡng
và mọi nhân viên y tế khác trong bệnh viện với sự tham gia của người bệnh.
5
Từ quan điểm của người bệnh: Chăm sóc toàn diện là sự chăm sóc đáp
ứng các nhu cầu cơ bản của người bệnh cả về thể chất tinh thần và xã hội.
1.1.2 Nhu cầu cơ bản của người bệnh và sự liên quan với hoạt động điều dưỡng
đòi hỏi sự can thiệp điều dưỡng. [6]
1.1.2.2. Nhu cầu cơ bản của người bệnh về chăm sóc
Theo Virginia Henderson trong cuốn các nguyên tắc điều dưỡng cơ bản
thì thành phần của chăm sóc cơ bản gồm 14 yếu tố:
- Ðáp ứng các nhu cầu về hô hấp.
- Giúp đỡ bệnh nhân về ăn, uống và dinh dưỡng.
- Giúp đỡ bệnh nhân trong sự bài tiết.
- Giúp đỡ bệnh nhân về tư thế, vận động và tập luyện.
- Ðáp ứng nhu cầu ngủ và nghỉ ngơi.
- Giúp bệnh nhân mặc và thay quần áo.
- Giúp bệnh nhân duy trì thân nhiệt.
- Giúp bệnh nhân vệ sinh cá nhân hàng ngày.
- Giúp bệnh nhân tránh được các nguy hiểm trong khi nằm viện.
- Giúp bệnh nhân trong sự giao tiếp.
- Giúp bệnh nhân thoái mái về tinh thần, tự do tín ngưỡng.
- Giúp bệnh nhân lao động, làm một việc gì đó để tránh mặc cảm là người vô dụng.
- Giúp bệnh nhân trong các hoạt động vui chơi, giải trí.
- Giúp bệnh nhân có kiến thức về y học. [6]
1.1.3. Các mô hình chăm sóc bệnh nhân
Hiện tại các bệnh viện, trung tâm y tế và viện nghiên cứu có giường
bệnh tại Việt Nam đang áp dụng các mô hình chăm sóc sau:
- Mô hình phân công điều dưỡng chăm sóc chính: Một điều dưỡng viên hoặc
7
một hộ sinh viên chịu trách nhiệm chính trong việc nhận định, lập kế hoạch chăm
sóc, tổ chức thực hiện có sự trợ giúp của các điều dưỡng viên hoặc hộ sinh viên
khác và theo dõi đánh giá cho một số người bệnh trong quá trình nằm viện.
- Mô hình chăm sóc theo nhóm: Nhóm có từ 2-3 điều dưỡng viên hoặc
khi một nhân viên điều dưỡng đơn nguyên phải nghỉ đột xuất thì phải có
người thay thế ngay và phải có sự bàn giao về người bệnh giữa nhân viên đó
với nhân viên thay thế.
1.1.4. Đặc điểm đội chăm sóc của Bệnh viện đa khoa Phú Lương
Do tính đặc thù của tuyến huyện và đặc điểm của nền văn hóa trên địa
bàn huyện Phú Lương, người thân muốn tự mình chăm sóc cho người nhà
của mình khi bị đau ốm. Do tình hình nhân lực cán bộ y tế hiện nay của bệnh
viện nên trong đội chăm sóc có thêm đối tượng là người nhà người bệnh.
Đây là điểm khác biệt cơ bản với mô hình chăm sóc đội trên toàn thế giới.
1.2. Kết quả một số đề tài nghiên cứu liên quan
1.2.1. Đánh giá hiệu quả của mô hình chăm sóc toàn diện theo đội
trong dự án điểm tại khối Ngoại Bệnh viện Việt nam-Thụy Điển Uông Bí
Báo cáo tập hợp số liệu từ các nghiên cứu về công tác chăm sóc toàn diện
theo đội từ năm 2004 đến nay tại bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí, kết
quả: sự thay đổi mô hình tổ chức phân công chăm sóc từ chăm sóc theo nhóm
sang thực hiện “Mô hình chăm sóc theo đội ” đã mang lại nhiều lợi ích:
- Các chăm sóc chuyên nghiệp của điều dưỡng tăng lên:
+ Khuyên về dinh dưỡng: Trước 61%, sau 93%,
+ Hướng dẫn luyện tập thở: trước 63% sau 80%;
+ Chăm sóc đau: trước 69%, sau 93%.
- Tỷ lệ các biến chứng giảm:
+ Bội nhiễm phổi: trước 1,2% sau: 0%;
+ Nhiễm khuẩn tiết niệu: trước 7,1%, sau 3,9%.
+ Nhiễm khuan vết thương (dấu hiệu lâm sàng): Trước 23,5%, sau 17%.
- Tỷ lệ người bệnh có tình trạng ra viện khỏi/tốt lên tăng lên và nặng
lên/xin về giảm đi. Thời gian điều trị trung bình rút ngắn từ 18 ngày xuống
9
mà còn muốn bày tỏ ý kiến với các nhà cung cấp dịch vụ. Việc tổ chức
thêm và tổ chức tốt các buổi họp sinh hoạt hội đồng người bệnh sẽ góp
phần tạo sự hài lòng của bệnh nhân đối với bệnh viện đồng thời đây cũng là
một kênh thong tin tốt để thu thập ý kiến để hoàn thiện bệnh viện.
Về công tác tư vấn sức khỏe mặc dù chỉ có 45,65% số điều dưỡng
nhận xét đã thực hiện tốt nhưng có đến 73,13% số bệnh nhân và người nhà
bệnh nhân hài lòng. Thực tế việc giáo dục sức khỏe là một công việc hết
sức quan trọng, để thực hiện tốt mô hình chăm sóc theo đội thì bệnh nhân
và người nhà bệnh nhân cũng phải có những hiểu biết cơ bản về bệnh của
mình, những việc cần làm và những vệc có thể làm để phối hợp với các
thành viên khác trong đội thực hiện tốt quá trình điều trị.
Tỷ lệ hài lòng về sực giúp đỡ bệnh nhân vệ sinh, uống thuốc chỉ đạt sự
hai lòng từ 41,46% - 47,80%, tuy nhiên nếu xét theo tỷ lệ bệnh nhân được
hỗ trợ chăm sóc cấp I, II thì đây là một tỷ lệ cao.
Công tác đi buồng đạt tỷ lệ thực hiện tốt ở nhóm điều dưỡng trưởng khoa
là 58.33%, còn ở nhóm điều dưỡng, nữ hộ sinh chỉ đạt 34.78%, tỷ lệ này còn
thấp nguyên nhân có thể do mục đích của công tác này chưa được hiểu đúng.
Việc đi buồng ở đây không phải là của lãnh đạo nhằm kiểm tra công việc đã
giao cho cấp dưới mà là hoạt động thường xuyên cần làm để các thành viên
trong nhóm thu thập thông tin từ người bệnh và từ các thành viên khác tronh
nhóm qua đó có sự điều chỉnh kế hoạch chăm sóc kịp thời. [11]
1.3. Quy mô và tình hình tổ chức chăm sóc tại Bệnh viện Đa khoa Phú Lương
1.3.1. Quy mô giường bệnh
- Tháng 10/2008 thì được UBND tỉnh Thái Nguyên ra quyết định số
2347/QĐ-UBND ngày 2/10/2008, thành lập Bệnh viện Đa khoa Phú Lương
thuộc Sở y tế tỉnh Thái Nguyên với quy mô 75 giường bệnh, đến nay bệnh
viện đã có quy mô 107 giường bệnh và 103 cán bộ y tế.
Chỗng nhiễm khuẩn
Dinh dưỡng
Điều dưỡng Trưởng khoa
ĐD hành chính
Điều dưỡng
Hộ sinh
Bác sĩ
Hộ lý
Sinh viên
Học sinh
Người
nhà
Người bệnh (trung tâm chăm sóc)
Số đội chăm sóc của mỗi khoa được hình thành tùy thuộc vào số lượng
bệnh nhân và số nhân viên được biên chế, nhưng ít nhất phải có từ 2 đội chăm
sóc trở lên.
- Nguyên tắc làm việc của đội chăm sóc
Phối hợp chặt chẽ giữa các thành viên, nhằm mục đích phát huy hết khả
năng của từng người. Mỗi nhóm thành viên trong đội (nhóm bác sĩ, nhóm
điều dưỡng, nhóm người nhà, nhóm hộ lý… ) và các thành viên khác trong
đội phải chủ động thực hiện nhiệm vụ của mình, tương trợ nhau ở trong
14
- Bệnh nhân có bệnh án nội trú đã nằm viện ≥ 04 ngày kể từ ngày vào viện.
- Thân nhân người bệnh có bệnh án nội trú nằm viện ≥ 04 ngày kể từ
ngày vào viện.
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân mới vào viện < 04 ngày, bệnh nhân nhi.
- Nhóm nghiên cứu.
2.2. Thời gian và địa điểm
- Thời gian: từ tháng 4/2016 đến tháng 9/2016.
- Địa điểm: Tại 02 Khoa: Nội-nhi-lây-cấp cứu, Ngoại-sản.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp: mô tả tiến cứu.
- Thiết kế cắt ngang.
2.4. Phương pháp chọn mẫu
Tại 02 khoa vào chiều thứ ba hàng tuần, các nghiên cứu viên lấy danh
sách bệnh nhân nằm viện ≥ 04 ngày tại 02 khoa trên, sau đó phát phiếu và
điền phiếu xin ý kiến bệnh nhân hoặc thân nhân những người bệnh đó.
Tại 02 khoa, nghiên cứu viên phát phiếu xin ý kiến cho điều dưỡng viên,
hộ sinh viên và bác sĩ và điền vào phiếu điều tra.
2.5. Phương pháp thu thập số liệu
- Dùng phiếu đánh giá sự hài lòng của người bệnh và thân nhân người
bệnh (phụ lục 1,2): Phát phiếu bệnh nhân tự điền, không cần ghi tên bệnh
nhân để hạn chế đánh giá thiếu khách quan.
- Dùng phiếu đánh giá mức độ tuân thủ, chấp hành chăm sóc theo đội
của nhân viên (phụ lục 3): Phỏng vấn nhân viên tại buồng bệnh theo những
nội dung của phiếu.
2.6. Chỉ số nghiên cứu
Nội dung phiếu phỏng vấn cán bộ y tế:
- Tham gia đi buồng hàng ngày.
- Nhân viên nắm vững bệnh nhân của mình (tên bệnh nhân, hoàn cảnh gia đình).
- Nhân viên nắm vững tình hình bệnh, diễn biến bệnh, các thông số sống
16
và các thông số theo dõi liên quan đến bệnh, phương thức điều trị, chăm sóc,
tình hình ăn uống, ngủ và nghỉ ngơi của người bệnh.
- Buồng bệnh đảm bảo trật tự vệ sinh.
- Sự phối hợp giữa các thành viên.
- Biết nguy cơ biến chứng có thể xảy ra và có kế hoạch phòng ngừa...
- Tư vấn- giáo dục sức khỏe cho người bệnh.
- Hướng dẫn thân nhân người bệnh để họ tự chăm sóc.
- Biết những chăm sóc mà thân nhân người bệnh tự làm.
- Hài lòng với mô hình chăm sóc đội.
2.7. Xử lý số liệu: bằng phương pháp thống kê y học thông thường.
2.8. Đạo đức của nghiên cứu
Thông tin từ phiếu điều tra chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu và
không nhằm gây tổn hại đến người được điều tra.
Có sự đồng ý của Ban Giám đốc Bệnh viện.
Có sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu.
2.9. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
Trong quá trình tham gia phỏng vấn, qua phiếu điều tra, những đối tượng
nghiên cứu, các câu trả lời có thể sẽ không phản ánh đúng sự thực theo các
câu hỏi trong phiếu khiến biến số nghiên cứu có sự sai số, do vậy ngoài việc
phát phiếu điều tra chúng tôi tiến hành giám sát và đối chiếu giữa các đối
tượng nghiên cứu để đảm bảo sai số là thấp nhất.
Không
Có
không
Thái độ, thực hành của điều dưỡng Chấp nhận được
viên khi chăm sóc bệnh nhân
Không chấp nhận
Biết được tên người chịu trách
nhiệm chăm sóc mình
Hiểu biết bệnh tật của mình và
cách tự chăm sóc
Yên tâm với các kỹ thuật can
thiệp của cán bộ y tế
Bị biến chứng/tai biến
Có
Không
Có
Không
Có
Không
Có
%
18
không
Hài lòng với quá trình điều trị, chăm
Có
Không
Có
không
Có
Không
%
19
Bảng 3.3. Hoạt động chăm sóc đội của các thành viên (Bác sỹ,
Điều dưỡng)
Tiêu chí đánh giá
Tham gia đi buồng hàng ngày
n
Đầy đủ
Không đầy đủ
Nhân viên nắm vững bệnh nhân của mình
(tên bệnh nhân, hoàn cảnh gia đình
Nhân viên nắm vững tình hình bệnh, diễn
biến bệnh, tình hình ăn uống, ngủ và nghỉ ngơi
Buồng bệnh đảm bảo trật tự vệ sinh
Đầy đủ
Không đầy đủ
Đầy đủ
%
20
BÀN LUẬN ( Theo kết quả và mục tiêu nghiên cứu )
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ( Theo mục tiêu nghiên cứu)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Bộ Y tế (1997), Quy chế bệnh viện, Quyết định số 1895/1997/BYTQĐ, ngày 19/09/1997.
2- Bộ Y tế (1996), Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế,
Quyết định số 2088/BYT-QĐ ngày 06 tháng 11 năm 1996.
3- Bộ Y tế (2014), Quy định về quy tắc ứng xử của công chức, viên
chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế, Thông tư 07/2014/TT-BYT
ngày 25 tháng 02 năm 2014.
4- Bộ Y tế (2003), Tăng cường chăm sóc người bệnh toàn diện, Chỉ thị
số 05/2003/CT-BYT ngày 04/12/2003.
5- Bộ Y tế (2011), Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người
bệnh trong bệnh viện, Thông tư 07 số 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011.
6- Hoàng ngọc Chương – Trần Đức Thái (2007), Điều dưỡng cơ bản tập
I, II, Nhà xuất bản y hoc – 2007.
7- Quốc hội XII (2009) “Luật Khám bệnh, chữa bệnh”.
8- Thu Nguyệt (2013), Mô hình chăm sóc toàn diện theo đội ở Bệnh viện
Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí.
9- CN. Trần Thị Thảo . Kinh nghiệm tổ chức chăm sóc người bệnh theo mô
hình đội chăm sóc tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí. (Tài liệu tập huấn
triển khai thông tư 07/2011TT-BYT.” Hướng dẫn công tác Điều dưỡng về chăm
sóc người bệnh trong các Bệnh viện”, trang 111).
10- Thư viện y khoa, Đánh giá hiệu quả của mô hình chăm sóc toàn diện theo
đội trong dự án điểm tại khối Ngoại Bệnh viện Việt nam-Thụy Điển Uông Bí,
b. Không
4. Ông/ bà có được hướng dẫn quy chế, nghĩa vụ, trật tự buồng bệnh không ?
a. Có
b. Không
5. Ông/ bà có được hướng dẫn sử dụng thuốc, chế độ ăn uống trong bệnh lý không?
a. Có
b. Không
6. Ông/ bà có được hướng dẫn tư vấn – giáo dục sức khỏe không ?
a. Có
b. Không
7. Ông/ bà thấy thái độ, thực hành của điều dưỡng viên khi chăm sóc bệnh nhân ở đây như thế nào ?
a. Chấp nhận được
b. Không chấp nhận được
8. Ông/ bà có biết tên của bác sĩ và điều dưỡng chăm sóc mình không ?
a. Có
b. Không
9. Ông/ bà có biết mình bị bệnh gì và cách tự chăm sóc không ?
a. Có
2. Nghề nghiệp
3. Nơi ở:
4. Tuổi:
B. CÂU HỎI
1. Ông/bà/anh/chị có biết mình là thành viên của đội chăm sóc cho bệnh nhân
không ?
a. Có
b. Không
2. Ông/bà/anh/chị có biết tên bác sỹ/ điều dưỡng chăm sóc cho người nhà mình
không?
a. Có
b. Không
3. Ông/bà/anh/chị có được nhân viên y tế phân công nhiệm vụ chăm sóc người
bệnh cho mình không?
a. Có
b. Không
4. Ông/bà/anh/chị có được nhân viên y tế hướng dẫn cách chăm sóc người bệnh không?
a. Có
b. Không
b. Không đầy đủ
2. Đồng chí cho nắm được tên, thông tin hành chính bệnh nhân mà mình phụ trách không ?
a. Đầy đủ
b. Không đầy đủ
3. Đồng chí có nắm vững tình hình bệnh, diễn biến bệnh, tình hình ăn uống, ngủ và
nghỉ ngơi của người bệnh không ?
a. Đầy đủ
b. Không đầy đủ
4. Buồng bệnh đồng chí phụ trách có được đảm bảo trật tự vệ sinh không ?
a. Có
b. Không
5. Các đồng chí có sự phối hợp giữa các thành viên trong đội, có thảo luận khi lên
kế hoạch chăm sóc không ?
a. Có
b. Không
6. Các đồng chí có đánh giá được tình trạng, biết nguy cơ biến chứng có thể xảy ra
và có biện pháp phòng ngừa cho bệnh nhân hay không ?
a. Có
b. Không
Đề cương nghiên cứu khoa học cấp cơ sở chuyên ngành quản lý điều dưỡng
Mã số:.................
25
Thái Nguyên – 2016