BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Khoa điều dưỡng
VŨ THỊ PHƯƠNG
MSV: B00068
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC HƯỚNG DẪN TỰ CHĂM SÓC
NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG ĐƯỢC XẠ
TRỊ ĐƠN THUẦN TẠI BỆNH VIỆN K NĂM 2007
ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN HỆ VLVH
Người hướng dẫn khoa học :
Tiến sĩ Ngô Thanh Tùng
Hà Nội – Tháng 02 năm 2012
1
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lời cám ơn chân
thành tới:
- Ban giám hiệu, bộ môn điều dưỡng, các phòng ban trường Đại học Thăng
Long cùng Đảng ủy, ban giám đốc và các khoa phòng Bệnh viện K trung ương
đã tạo điều kiện cho tôi được học tập và hoàn thành luận văn này.
- GS.TS Phạm Minh Đức, trưởng bộ môn điều dưỡng trường Đại học Thăng
Long, người đã góp nhiều công sức đào tạo, hướng dẫn, tận tình dạy bảo, tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập và hoàn thành luận văn này.
- TS.BS Ngô Thanh Tùng, Trưởng khoa xạ Đầu - cổ, Bệnh viện K, là người
thầy hướng dẫn, mặc dù rất bận rộn với công việc nhưng thầy đã dành thời gian
tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, cung cấp tài liệu và những kiến thức quý báu giúp
tôi thực hiện nghiên cứu này.
- Thạc sĩ Trần Hùng, bác sĩ khoa xạ đầu cổ - Bệnh viện K, là người giúp đỡ
tôi tận tình trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
- Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới quý thầy, cô bộ môn điều dưỡng
trường Đại học Thăng Long đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập trong
suốt thời gian qua.
phương pháp điều trị chính. Tuy nhiên, những người bệnh cao tuổi, toàn trạng yếu, có
bệnh nội khoa kết hợp thì chỉ có chỉ định xạ đơn thuần. Ngoài tác dụng chính là triệt
căn tế bào ung thư thì xạ trị đơn thuần gây cho NB những độc tính khó tránh khỏi như:
Mệt mỏi, đau, tổn thương da vùng tia, tổn thương niêm mạc, thay đổi vị giác, thay đổi
về nước bọt…Những độc tính này có thể giảm nếu như điều dưỡng chăm sóc và hướng
dẫn tự chăm sóc cho người bệnh trước, trong điều trị đầy đủ.
Theo ước tính dựa trên thực tế tại kho hồ sơ và sổ sách tại khoa xạ đầu cổ -
Bệnh viện K thì trong năm 2007, số người bệnh được xạ trị đơn thuần là 55,2%
(170/308 NB) được điều trị, chiếm tỉ lệ cao nhất về số người bệnh ung thư vòm họng
được xạ trị đơn thuần trong giai đoạn 2000-2011.
Chăm sóc NB là một phần của chiến lược điều trị. Nghiên cứu công tác chăm
sóc người bệnh UTVMH được xạ trị đơn thuần từ đó sẽ giúp nâng cao hiệu quả chăm
sóc cho điều trị nhóm bệnh này đồng thời là tiền đề để chăm sóc tốt hơn cho nhóm NB
hóa xạ trị kết hợp và nhóm người bệnh ung thư đầu cổ có chỉ định xạ trị. Tuy nhiên,
8
cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ về hiệu quả chăm sóc của
phương pháp này.
Do vậy, chúng tôi tiến tiến hành nghiên cứu đề tài : " Đánh giá công tác chăm sóc
người bệnh ung thư vòm mũi họng được xạ trị đơn thuần tại Bệnh viện K năm 2007"
nhằm hai mục tiêu :
1. Mô tả đặc điểm đối tượng nghiên cứu và một số biểu hiện độc tính cấp khi
xạ trị đơn thuần trên người bệnh ung thư vòm mũi họng tại bệnh viện K
năm 2007.
2. Đánh giá công tác hướng dẫn tự chăm sóc của điều dưỡng viên trên
những người bệnh được xạ trị đơn thuần.
Chương 1
9
TỔNG QUAN
1. Khái niệm về bệnh ung thư vòm mũi họng
Vòm họng là phần trên của hầu và sau mũi, nó như một khoang trống với kích thước
- Triệu chứng thần kinh:
Hay gặp nhất là đau đầu, đau nửa đầu hoặc đau sâu trong hốc mắt, vùng thái
dương và xuất hiện tổn thương các dây thần kinh sọ não trong trường hợp bệnh nhân
đến muộn như: có cảm giác tê bì ở miệng và vùng mặt cùng với bên đau đầu do dây
thần kinh tam thoa bị chèn ép.
- Triệu chứng mũi - xoang:
Ngạt mũi một bên, cùng với bên đau đầu, lúc đầu ngạt không thường xuyên sau
ngạt liên tục. Hay gặp nhất là chảy mũi nhầy, có thể chảy mũi mủ do viêm xoang phối
hợp, thỉnh thoảng có xì ra nhầy lẫn máu.
11
- Triệu chứng tai: (khối u xuất phát từ thành bên họng mũi, loa vòi):
Có cảm giác tức như bị nút ráy tai cùng bên với đau đầu. Ù tai, nghe kém thể
dẫn truyền đơn thuần (do bị tắc vòi Eustache). Có thể gặp viêm tai giữa cùng bên do
bội nhiễm.
- Triệu chứng hạch cổ và hạch dưới hàm:
Phần lớn bệnh nhân đến khám vì xuất hiện hạch cổ, thường hạch cổ cùng bên
với khối u. Dễ chẩn đoán nhầm là ung thư hạch tiên phát. Hạch điển hình hay nhìn thấy
ở sau góc hàm, dãy hạch cảnh trên, hạch lúc đầu nhỏ sau to dần, hạch cứng, ấn không
đau, không có viêm quanh hạch, di động hạn chế dần. Sau cố định dính vào cơ, da.
4. Chẩn đoán.
Trước một bệnh nhân có những triệu chứng trên, phải nghi ngờ và được khám tỉ mỉ
vòm họng đó là: soi vòm gián tiếp qua gương hoặc soi vòm bằng ống soi (cứng, mềm).
Qua soi vòm có thể thấy một tổ chức sùi mủn nát, loét hoặc thâm nhiễm dễ chảy máu.
Hình 1: Ung thư vòm mũi họng qua nội soi tai mũi họng
4.1. Chẩn đoán lâm sàng:
Bệnh cảnh lâm sàng UTVH biểu hiện dưới 5 thể sau:
- Thể hạch: Thường gặp ở giai đoạn toàn phát
- Thể thần kinh: Gặp ở những trường hợp UTVH lan lên nền sọ gây tổn thương
các dây thần kinh sọ.
12
6.1.1. Trên thế giới
Xạ trị là phương pháp chủ yếu, hệ thống máy xạ trị ngày càng cải tiến. Hiện nay
các nước tiên tiến phần lớn điều trị bằng kỹ thuật IMRT ( xạ trị có điều biến cường độ
chiều tia)
Với những NB từ giai đoạn IIB – IVB, không có chống chỉ định hóa chất
thường được kết hợp hóa xạ trị
Hình 2: Phim mô phỏng trường chiếu cho một người bệnh T2N0M0
6.1.2. Tại bệnh viện K
- Người bệnh được xạ trị bằng máy gia tốc thẳng hoặc bằng máy Cobalt-60. Hệ
thống xạ trị thường chậm hơn các nước tiên tiến 10 năm, đội ngũ thầy thuốc thường
chỉ được đào tạo trong nước và tự đào tạo.
- Đây là phương pháp xạ trị từ xa. Thể tích tia thường bao hết vùng vòm mũi họng
và lân cận cùng toàn bộ hệ hạch cổ. Phân liều xạ trị thông thường là : 2Gy/ ngày x
5 ngày/ tuần. Tổng thời gian điều trị thường 6,5 – 7 tuần.
6.2. Hướng chăm sóc NB ung thư vòm mũi họng :
- Tại các nước tiên tiên, đội ngũ chăm sóc người bệnh bao gồm điều dưỡng và các thầy
thuốc phục hồi chức năng, các chuyên gia dinh dưỡng, nhân viên hỗ trợ tại cộng đồng.
Đội ngũ đó thường phối hợp nhip nhàng trong chăm sóc từng người bệnh cụ thể.
- Tại Việt Nam, một nhóm gồm bác sĩ và điều dưỡng chăm sóc NB trong giờ hành
chính. Ngoài giờ hành chính, người bệnh hoàn toàn phải tự chăm sóc. Nội dung của
14
chăm sóc người bệnh UTVMH chủ yếu vẫn là hướng dẫn NB hoặc người nhà NB tự
chăm sóc. Nhưng để tự chăm sóc tốt thì các thông tin tự chăm sóc cho NB phải đầy đủ
trước điều trị và bổ sung hướng dẫn kịp thời vào các thời điểm khi NB cần.
7. Nội dung công tác chăm sóc điều dưỡng với người bệnh.
Năm 2007 Bệnh viện K thực hiện công tác chăm sóc người bệnh theo « Quy chế
công tác chăm sóc người bệnh toàn diện » và chỉ thị 05/2003/CT - BYT về tăng cường
công tác chăm sóc người bệnh toàn diện trong các bệnh viện. Với nguyên tắc : Chăm
sóc người bệnh toàn diện là sự theo dõi chăm sóc điều trị của bác sĩ và điều dưỡng,
nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của người bệnh cả về thân thể và tinh thần trong thời
mỏi của người bệnh. Đa số người bệnh thấy mệt mỏi sau một vài tuần từ khi xạ trị. Mệt
mỏi thường tăng lên theo thời gian khi xạ trị. Căng thẳng do bệnh và các thay đổi trong
thời gian điều trị có thể làm mệt mỏi tăng lên.
- Nguyên nhân gây ra mệt mỏi liên quan đến ung thư là không phải lúc nào cũng xác
định được rõ ràng. Nhưng khi rõ được nguyên nhân thì sẽ được điều trị theo nguyên
nhân. Ví dụ, nếu thiếu hồng cầu gây ra mệt mỏi thì sẽ được điều trị thiếu máu. Trong
nhiều trường hợp, điều trị có thể bao gồm điều chỉnh sự mất cân bằng nước và điện
giải. Tăng hoạt động thể lực, ăn ngủ đủ giúp cải thiện mệt mỏi. Chăm sóc tâm lý cho
người bệnh cũng là một phần của điều trị, sẽ giúp người bệnh thêm sức sống, giảm
căng thẳng và tập trung vào những thứ khác sẽ bớt mệt mỏi hơn. Hiểu rõ mệt mỏi,
người bệnh sẽ ứng phó với nó tốt hơn và thoải mái hơn. Mệt mỏi thường sẽ hết sau
khi kết thúc xạ trị.
8.2 Bỏng da
16
Hình 3: Loét da (viêm da độ 3)
Da trong diện xạ trị có thể đỏ, nóng, sưng, phồng rộp, như cháy nắng hoặc rám nắng.
Sau vài tuần, da vùng này có thể trở nên khô, bong tróc vảy, ngứa hoặc lên da non.
Nhân viên y tế sẽ hướng dẫn bạn cách giảm bớt những điều này. Hầu hết bỏng da dần
dần hết hoàn toàn sau khi kết thúc điều trị. Đôi khi, sau đó, da vùng tia sẽ trở lại xạm
hơn trước. Cần phải nhẹ nhàng với da vùng này.
8.3. Viêm niêm mạc
Trong xạ trị ung thư vòm họng, niêm mạc vùng họng, miệng và phần trên thực
quản bị viêm do xạ trị. Tình trạng này, ở mức độ nhẹ gần như không gây ảnh hưởng
đến tại chỗ và toàn thân. Ở mức độ nặng hay nghiêm trọng, sẽ gây đau nhiêù, phải
dùng thuốc giảm đau và cần hỗ trợ dinh dưỡng. Trong hầu hết các trường hợp, tình
trạng viêm niêm mạc dần hồi phục theo thời gian.
17
Hình 4: Các mức độ viêm miệng độ 1,2,3
8.4. Vấn đề ăn uống :
Xạ trị vào vùng đầu - cổ có thể gây độc tính ảnh hưởng đến ăn uống và tiêu hóa.
Tiếp tục dùng chỉ nha khoa nhẹ nhàng nếu điều đó là thói quen của bạn.
- Tránh mọi loại nước súc miệng chứa cồn.
- Sử dụng kem dưỡng ẩm môi thường xuyên nếu có thể nhưng phải làm sạch khi điều
trị.
- Sử dụng máy tạo độ ẩm hoặc bình xịt tạo ẩm trong phòng ngủ.
- Tránh mọi chất kích thích tại miệng
- Hạn chế nói.[11]
9.2. Thực tế áp dụng tại bệnh viện K
Vào thời điểm năm 2007 và hiện tại bệnh viện áp dụng quy trình chăm sóc
người bệnh xạ trị đầu mặt cổ do bộ y tế ban hành năm 2002. [5],[6],
9.2.1. Chăm sóc da vùng bị chiếu xạ:
19
Mục đích: Chăm sóc da nhằm mục đích phòng và chống viêm loét giúp cho quá trình
xạ trị không bị ngắt quãng, cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh trong và sau
xạ trị.
- Thuốc phòng và chống cháy da: Biafine 100g, kem phenergan 50g,
- Dùng kẹp, kẹp miếng bông vô khuẩn, bơm thuốc lên mặt miếng bông
lượng thuốc khoảng 1/2ml, bôi nhẹ một lớp lên bề mặt da vùng bị chiếu
xạ ( bôi 3 lần/ ngày, bôi trước và sau tia xạ 2 giờ, trước khi đi ngủ)
Chú ý: Bôi phòng cháy da bắt đầu ngay từ buổi xạ trị đầu tiên, bôi chống viêm loét tiếp
tục cho đến khi da đã ổn định một tuần sau khi ngừng xạ.
- Với bệnh nhân trong quá trình xạ trị nên tránh: Ánh nắng mặt trời, tránh để da ẩm
ướt, tránh cọ sát vùng da chiếu xạ.
- Hướng dẫn bệnh nhân nên mặc áo sợi bông thông thoáng.
- Luôn để hở vùng da cổ nơi chiếu xạ.
- Không để vùng da chiếu xạ nóng và ra mồ hôi.
- Bệnh nhân luôn phải cắt móng tay tránh làm trầy xước vùng da xạ trị.
9.2.2. Chăm sóc niêm mạc miệng
- Xúc họng, miệng 4 – 6 lần/ ngày, vệ sinh răng miệng trước và sau bữa ăn.
- Sử dụng bàn chải đánh răng mềm và kem đánh răng nhẹ.
- Có chẩn đoán là ung thư vòm họng
- Được chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học
- Được chỉ định ban đầu là xạ trị đơn thuần
2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ
21
- Không đủ hồ sơ lưu trữ tại kho hồ sơ, bệnh viện K
2. 2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Tại bệnh viện K
2.2.2. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hồi cứu
2.2.3. Cỡ mẫu, cách chọn mẫu
Tất cả số hồ sơ đủ tiêu chuẩn: n =170
2.2.4. Thu thập thông tin
Thu thập thông tin theo bệnh án mẫu nghiên cứu gồm:
- Đặc điểm của bệnh nhân, thực hiện quy trình và độc tính cấp trên lâm sàng của
điều trị:
+ Tuổi
+ Giới
+ Nghề nghiệp
+ Trình độ
+ Nơi ở
+ Thực hiện quy trình điều trị
+ Toàn trạng và độc tính cấp trên lâm sàng trong quá trình xạ trị
- Đánh giá công tác chăm sóc người bệnh
+ Đánh giá người bệnh và giải thích, hướng dẫn quy trình trước xạ trị
+ Hướng dẫn ăn uống, chăm sóc da, niêm mạc trước xạ trị
+ Tình hình ăn, ở của người bệnh
+ Tần suất chủ động tiếp xúc của điều dưỡng viên với người bệnh trong thời
gian xạ trị.
Ban đỏ phơn phớt
hoặc rõ, da tróc vảy
ướt rải rác.
Tróc vảy ướt
liền kề trừ chỗ
nếp gấp.
Loét,chảy
máu, hoại tử
Niêm mạc Không thay
đổi
Sung huyết có thể đau
nhẹ, không đòi hỏi
Viêm niêm mạc rải
rác, có thể gây viêm
Viêm niêm
mạc tơ huyết
Loét, chảy
máu, hoại tử
23
giảm đau chẩy máu, có thể
đau vừa cần tới
thuốc giảm đau
mảng, có thể
gây đau nặng
cần tới giảm
đau
Tuyến nước
bọt
Không thay
đổi
Biểu đồ 3.1 : Phân bố người bệnh theo tuổi
Trung bình : 49,6
Khoảng tuổi : 14 - 77
Nhận xét: Tuổi trung bình của nhóm NB này là 49,6 tuổi
3.1.2.Giới
25
8070605040302010
tuoi
25
20
15
10
5
0
Std. Dev. = 12.744