Một số ý kiến đề suất nhằm hoàn thiện hạch toán ngoại tệ và chênh lệch tỷ giá hối đoái ở
Việt Nam
1/ Sự cần thiết phải hoàn thiện
Hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đã và đang mở ra nhiều cơ hội cũng như
thách thức đối với các doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản,
các doanh nghiệp trong nước cũng gặp không ít những khó khăn trên nhiều mặt
trong đó có khó khăn về kế toán các nghiệp vụ liên quan đến ngoại tệ. Mặc dù, kế
toán các nghiệp vụ liên quan đến ngoại tệ được đề cập đến từ lâu trong chế độ kế
toán Việt Nam và thường xuyên được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp nhưng trong
thực tế các doanh nghiệp có quan hệ mua, bán với nước ngoài gặp không ít khó
khăn khi phản ánh các nghiệp vụ này. những khó khăn các doanh nghiệp gặp phải
một phần do tỷ giá hối đoái ngoại tệ với đồng Việt Nam (NVD) thường xuyên biến
động, phần nữa là do việc hướng dẫn của chế độ kiểm toán về ngoại tệ còn quá
cứng nhắc nên thực sự chưa phù hợp với khu vực nhạy cảm này.
II. Hoàn thiện
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam Số 10 "ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối
đoái", trong trường hợp các doanh nghiệp phát sinh các nghiệp vụ liên quan đến
các đơn vị tiền tệ khác với các đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế toán và
lập báo cáo tài chính, khi qui đổi từ đơn vị tiền tệ khác sang đơn vị tiền tệ sử dung
trong kế toán sẽ phát sinh chênh lệch tỷ giá hối đoái. Chênh lệch tỷ giá hối đoái là
chênh lệch từ việc trao đổi thực tế hoặc qui đổi cùng một lượng tiền tệ kháchênh
lệch sang đơn vị tiền tệ kế toán theo tỷ giá hối đoái khác nhau. Cũng theo Chuẩn
mực kế toán Số 10, một giao dịch bằng ngoại tệ phải được thanh toán và ghi nhận
ban đầu theo đơn vị tiền tệ kế toán bằng việc áp dụng tỷ giá hối đoái giữa đơn vị
tiền tệ kế toán với đơn vị tiền tệ tại ngày giao dịch. Việc qui đổi đồng ngoại tệ ra
đồng Việt Nam, hoặc ra đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế toán phải căn cứ
vào tỷ giá giao dịch thực tế của nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoặc tỷ giá giao dịch
bình quân trên thị trường ngoại tệ đến ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế gọi tắt là tỷ giá giao dịch ,
để ghi sổ kế toán doanh nghiệp có thể sử dụng tỷ giá xấp xỉ với tỷ giá hối đoái
ngoại tệ để ghi các nghiệp vụ phát sinh trong kỳ(ví dụ tỷ giá trung bình tuần hoặc
điều chỉnh và xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái cuối năm tài chính. Tôi cho
rằng: những hướng dẫn này là kịp thời và cần thiết giúp cho các doanh
nghiệp có phát sinh các nghiệp vụ kinh tế có liên quan đến ngoại tệ có cơ sở
và căn cứ ghi sổ kế toán cũng như xác định các khoản trách nhiệm, nghĩa vụ
đóng góp với ngân sách được chính xác. tuy nhiên, theo tôi những hướng
dẫn này còn khá nhiều tồn tại. Có thể kể ra một vài tồn tại chính như sau
- Về phạm vi áp dụng
Những qui định và cách thức ghi sổ theo hưỡng dẫn của Thông tư
105/2003/tiền tệ-BTC nói trên chỉ thích hợp với doanh nghiệp phát sinh ít
nghiệp vụ liên quan đến ngoại tệ và tỷ giá ngoại tệ mang tính ổn định. Đối với
các doanh nghiệp phát sinh nhiều nghiệp vụ liên quan đến ngoại tệ và tỷ giá
ngoại tệ biến động thường xuyên phức tạp như hiện nay, những hướng dẫn nói
trên không thể vận dụng được, nhất là trong điều kiện kế toán thủ công. Ngay cả
trong điều kiện doanh nghiệp đã áp dụng các phần mềm kế toán, ngay cả trong
trường hợp này, kế toán cũng phải mất rất nhiều công sức để nhập dữ liệu và xử
lý các nghiệp vụ liên quan đến ngoại tệ. Bởi vì, trên thực tế, tại cùng một thời
điểm, tỷ giá hối đoái của một loại ngoại tệ ở các thị trường khác nhau(trong cùng
một quốc gia hay trong cùng một khu vực hay giữa các quốc gia đã có sự khác
biệt đáng kể chưa nói đến tại cùng một thời điểm đó, các doanh nghiệp có thể
phát sinh rất nhiều giao dịch liên quan đến ngoại tệ khác nhau tại nhiều thị
trương khác nhau.
-Về khối lượng ghi sổ
Do việc ghi sổ các nghiệp vụ liên quan đến ngoại tệ theo tỷ giá hối đoái
thực tế mà tỷ giá hối đoái biến động hàng giờ hàng ngày, nên khối lượng tính
toán và ghi sổ kế toán tăng lên đáng kể. Kế toán phải theo chi tiết cụ thể sự biến
động về tỷ giá từng loại ngoại tệ theo thời gian tại các thị trường khác nhau và
theo từng đối tượng khác nhau. đối với các doanh nghiệp đã áp dụng phần mềm
kế toán phù hợp, khối lượng tính toán này có thể giải quyết không mấy khó khăn.
tuy nhiên, ở Việt Nam, số lượng các doanh nghiệp này không nhiều. Ngay bản
thân các phần mềm kế toán hiện đang áp dụng tại các doanh nghiệp Việt Nam, cơ
ngoại tệ. Giải pháp "Kết hợp tỷ giá " được xây dựng trên cơ sở quán triệt chế độ
tài chính hiện hành và tinh thần của Chuẩn mực kế toán sổ 10 cũng như thông tư
105/2003/tiền tệ-BTC .Nội dung chính của giải pháp này là việc kết hợp linh
hoạt giữa tỷ giá hối đoái thực tế với tỷ giá hạch toán ghi trong sổ các nghiệp vụ
phát sinh liên quan đến ngoại tệ. Bằng cách kết hợp này, các doanh nghiệp
không những giảm bớt được khối lượng ghi sổ, tính toán mà quan trọng hơn, các
doanh nghiệp dễ dàng xác định được một cách chính xác nghĩa vụ đối với Ngân
sách, các chỉ tiêu do kế toán cung cấp đảm bảo độ tin cậy cao. Cách thức vận
dụng giải pháp "Kết hợp tỷ giá " trong ghỉ sổ có thể tóm lược như sau:
-Ghi sổ theo tỷ giá hối đoái thực tế:
Các đối tượng bắt buộc phải ghi sổ theo tỷ giá hối đoái thực tế thường là
những đối tượng liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc xác định nghĩa vụ của
doanh nghiệp đối với ngân sách nhà nươc về các khoản phí, lệ phí, thuế. Mức phí