LÝ LUẬN CHUNG VỀ TƯ VẤN XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH
NGHIỆP CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1. Tổng quan về công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt. Hoạt động của
công ty chứng khoán khác hẳn với các doanh nghiệp sản xuất và thương mại thông
thường. Sản phẩm của công ty chứng khoán thường là các dịch vụ tài chính.
Khái niệm công ty chứng khoán.
Có rất nhiều khái niệm về công ty chứng khoán do nhiều tổ chức đặt ra. Các
khái niệm đều nêu bật được vị trí vai trò của công ty chứng khoán.
Theo giáo trình “Thị trường chứng khoán” của khoa ngân hàng tài chính
trường đại học kinh tế quốc dân thì : ‘công ty chứng khoán là một định chế tài
chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán’. Công ty
chứng khoán chính là một trung gian tài chính.
Phân loại công ty chứng khoán.
Theo mô hình tổ chức hoạt động thì công ty chứng khoán có thể chia thành
nhiều loại: Công ty cổ phần, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn.
Công ty hợp danh: Là loại hình kinh doanh có từ hai chủ sở hữu trở lên,
thành viên của công ty chứng khoán hợp danh bao gồm: Thành viên góp vốn và
thành viên hợp danh. Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng
toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ thanh toán của công ty. Các thành viên góp
vốn không tham gia điều hành công ty, họ chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần
vốn góp của mình đối với những khoản nợ của công ty.
Công ty hợp danh không được phép phát hành bất cứ một loại chứng khoán
nào.
Công ty cổ phần: Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở
hữu công ty là các cổ đông. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài
sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công
ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp
luật hiện hành.
Công ty trách nhiệm hữu hạn: Thành viên của công ty chịu trách nhiệm về
các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn
khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại
SGDCK hoặc thị trường OTC. Vì các quyết định đầu tư do chính khách hàng đưa
ra nên họ sẽ phải tự chịu trách nhiệm về kết quả.
Hiện nay, tất cả các công ty chứng khoán ở nước ta đều đang thực hiện
nghiệp vụ này. Nhân viên phòng môi giới của các công ty chứng khoán sẽ cung
cấp thông tin về các công ty niêm yết, các thông tin thị trường cho khách hàng bên
cạnh đó họ sẽ đại diện cho khách hàng trong việc thực hiện các giao dịch.Tuy
nhiên đó mới chỉ là "môi giới giao dịch" khi thị trường phát triển thì hoạt động môi
giới phải đóng vai trò là cầu nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán và nhà đầu tư
mua chứng khoán, thông qua hoạt động môi giới nhà môi giới chứng khoán sẽ trở
thành người bạn, người chia sẻ những lo âu, căng thẳng và đưa ra những lời động
viên kịp thời cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư có những quyết định tỉnh táo.
Nghiệp vụ tự doanh: Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán là quá
trình tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoán cho chính mình. Đây được
coi là một khoản đầu tư của công ty bởi vì hoạt động này được thực hiện nhằm
mục đích thu lợi nhuận cho chính công ty thông qua hành vi mua bán chứng khoán
với khách hàng. Nghiệp vụ này hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới, vừa
phục vụ lệnh giao dịch cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính công ty.
Hoạt động tự doanh được thực hiện thông qua cơ chế giao dịch trên SGCK
hoặc thị trường OTC. Trên thị trường OTC hoạt động tự doanh của công ty chứng
khoán được thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường. Lúc này, công ty
chứng khoán đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số lượng chứng
khoán nhất định của một số loại chứng khoán và thực hiện mua bán chứng khoán
với khách hàng để hưởng chênh lệch giá.
Đối với các công ty chứng khoán ở nước ta hiện nay thì chỉ có một số công
ty thực hiện hoạt động này bởi vì theo quy định của pháp luật thì muốn thực hiện
nghiệp vụ này thì công ty chứng khoán cần đáp ứng được một số yêu cầu mà đầu
tiên là phải có vốn điều lệ 12 tỷ. Đây cũng là một điều bất lợi đối với một số công
ty chứng khoán khi không có đủ điều kiện về vốn trong khi đội ngũ nhân viên có
trình độ chuyên môn và khả năng phân tích.
khoán còn thực hiện một mảng tư vấn rất lớn đó là mảng tư vấn tài chính doanh
nghiệp.
Trong mảng tư vấn về tài chính doanh nghiệp các công ty chứng khoán thực
hiện các hoạt động: Tư vấn cổ phần hoá, tư vấn niêm yết, tư vấn tái cấu trúc doanh
nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp, chia
tách, sát nhập…Những mảng hoạt động này đòi hỏi đội ngũ nhân viên tư vấn của
công ty chứng khoán cần phải nghiên cứu tìm hiểu các vấn đề tài chính doanh
nghiệp một cách chuyên sâu.
Những năm gần đây thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước ta trong
việc sắp xếp đổi mới hình thức sở hữu của các doanh nghiệp, tất cả 13 công ty
chứng khoán đều đã thực hiện rất tốt mảng hoạt động này.
Công ty chứng khoán Mê Kông tuy ra đời muộn hơn so với các công ty khác
nhưng hoạt động tư vấn doanh nghiệp là một trong những hoạt động mạnh của
công ty không thua kém gì so với những công ty chứng khoán khác.
Trong năm 2003 và năm 2004 số lượng hợp đồng tư vấn cổ phần hoá và xác
định giá trị doanh nghiệp là 40. Đây có thể coi là một thành tích đáng khen đối với
một công ty chứng khoán với số vốn chỉ có 6 tỷ đồng và còn non trẻ trên thị
trường.
1.3. Lý luận chung về xác định giá trị doanh nghiệp.
Giá trị doanh nghiệp.
Theo luật doanh nghiệp năm 1999 được sửa đổi và bổ sung năm 2004 của
nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì doanh nghiệp được định nghĩa như
sau: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích
thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Ban đầu khi mới hình thành thị trường doanh nghiệp chỉ được coi là một tổ
chức kinh tế thông thường chứ chưa được coi là một hàng hoá của nền kinh tế bởi
nó chưa thực sự được đem ra trao đổi mua bán trên thị trường. Chỉ đến khi thị
trường phát triển đến một mức độ nhất định, lúc này doanh nghiệp mới thực sự là
một hàng hoá. Khi đã trở thành hàng hoá thì người ta bắt đầu quan tâm tới giá trị
“Định giá được hiểu là sự ước tính về giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ
thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định rõ”.
Còn theo giáo sư Lim Lan Yuan, trường xây dựng và bất động sản, đại học
quốc gia Singapore thì:
“Định giá được quan niệm là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị
cho một mục đích cụ thể của một tài sản tại một thời điểm, có cân nhắc đến tất cả
các đặc điểm của tài sản và cũng như xem xét đến tất cả các yếu tố kinh tế căn bản
của thị trường bao gồm các loại đầu tư lựa chọn”.
Vậy với hai khái niệm trên ta có thể hiểu định giá doanh nghiệp theo hai
cách như sau: Thứ nhất, định giá doanh nghiệp là sự ước tính về giá trị của các
quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác
định rõ, đó là để đưa doanh nghiệp ra mua bán, hoặc để đầu tư vào doanh nghiệp…
Thứ hai, định giá doanh nghiệp là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị
cho một mục đích cụ thể của một doanh nghiệp tại một thời điểm đó là thời điểm
định giá, mà có cân nhắc đến tất cả các đặc điểm của doanh nghiệp và cũng như
xem xét đến tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của thị trường.
1.3.2. Vai trò của việc định giá doanh nghiệp
Đối với mỗi chủ thể khác nhau trên thị trường thì việc tiếp cận giá trị doanh
nghiệp cũng với những mục đích khác nhau.
Đối với chủ sở hữu: Việc xác định giá trị doanh nghiệp sẽ giúp chủ sở hữu
biết rõ được giá trị thực tế của doanh nghiệp, từ đó họ có thể lập các kế hoạch,
chiến lược phát triển trong tương lai cho doanh nghiệp
Vấn đề chia tách sát nhập cổ phần hoá hoặc huy động vốn cũng trở lên thuận
lợi hơn rất nhiều.
Đối với nhà đầu tư: Với bất kỳ một nhà đầu tư nào trên thị trường họ luôn
mong muốn đồng vốn đầu tư của mình không những được bảo toàn mà còn phải có
lãi với từng mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau. Tại cùng một mức rủi ro họ luôn
muốn nhận được mức lợi nhuận cao nhất. Do đó, việc định giá doanh nghiệp là
một cơ sở quan trọng cho nhà đầu tư ra các quyết định của mình. Nhà đầu tư sẽ trả
lời được các câu hỏi : Có nên đầu tư vào doanh nghiệp này hay không? Mức giá là
trường, phù hợp với cơ chế thị trường và quy luật thị trường. Định giá doanh
nghiệp chính là xác định giá trị ước tính của doanh nghiệp theo giá cả thị trường.
Vì vậy, cần phải phản ánh đúng thực tế khách quan doanh nghiệp theo sự chấp
nhận của thị trường. Nếu không, doanh nghiệp sẽ bị định giá cao hoặc thấp hơn giá
trị thực của nó.
Định giá cho từng doanh nghiệp theo từng phương pháp cụ thể cho các
doanh nghiệp thuộc các nhóm nghành khác nhau, các doanh nghiệp hoạt động
trong các lĩnh vực khác nhau theo đúng giá hiện hành. Không áp dụng dập khuôn
một mô hình, một kiểu định giá cho mọi doanh nghiệp. Bởi vì, mỗi một doanh
nghiệp là một hàng hoá đặc biệt của thị trường, nó có sự khác biệt về nguồn lực, về
điều kiện cạnh tranh. Các doanh nghiệp xét dưới các góc độ khác nhau, chúng có
những yếu tố đặc trưng riêng biệt. Khi xác định giá trị doanh nghiệp cần phải dựa
trên những hiểu biết sâu sắc về từng doanh nghiệp từ đó có thể đưa ra các quyết
định lựa chọn phương pháp và cách làm cho phù hợp.
Định giá doanh nghiệp phải tuân theo các quy luật kinh tế như quy luật cung
cầu, quy luật giá trị. Ngoài ra định giá doanh nghiệp cần phải linh hoạt trong quá
trình xác định, phải đặt doanh nghiệp trong tổng thể phát triển chung của toàn thị
trường, của nghành nghề mà doanh nghiệp tiến hành kinh doanh. Khi đó định giá
doanh nghiệp sẽ phản ánh chính xác hơn triển vọng phát triển của doanh nghiệp
trong tương lai.
Yêu cầu: Định giá doanh nghiệp cũng phải tuân theo các yêu cầu sau:
Tính chuẩn xác: Chuẩn xác vừa là yêu cầu, vừa là mục đích của hoạt động
định giá doanh nghiệp. Bởi vậy, tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp mà phải lựa chọn
từng phương pháp định giá cho phù hợp. Trong toàn bộ quá trình thực hiện các
khâu của hoạt động định giá các vấn đề về kiểm kê tài sản, xử lý tài chính phải thật
chuẩn xác và cẩn trọng.
Dễ dàng trong việc tính toán: Định giá doanh nghiệp có thể dựa vào rất nhiều
phương pháp khác nhau, song đối với doanh nghiệp là phải chọn được phương
pháp định giá sao cho phù hợp với doanh nghiệp vừa đơn giản vừa dễ thực hiện,
phù hợp với năng lực của người định giá. Bởi xét cho cùng nếu các công thức sử
khoản chi của doanh nghiệp thuê tổ chức định giá. Hiện nay ở nước ta nhà nước đã
quy định trong nghị định 187 rất rõ như sau:
Không quá 200 triệu đồng với doanh nghiệp có giá trị dưới 30 tỷ đồng.
Không quá 300 triệu đồng đối với doanh nghiệp có giá trị từ 30 tỷ đến 50 tỷ
đồng.
Không quá 400 triệu đồng với doanh nghiệp có giá trị trên 50 tỷ đồng.
Cho nên việc định giá doanh nghiệp phải có chi phí sao cho vừa với các
khoản chi phí mà doanh nghiệp được phép bỏ ra theo quy định của nhà nước.
Quá trình định giá doanh nghiệp không phải là một công việc đơn giản và dễ
làm, vì vậy để đảm bảo được vài trò cũng như ý nghĩa của hoạt động định giá thì
khi tiến hành định giá cần phải kết hợp cả ba yêu cầu và nguyên tắc trên một cách
tốt nhất. Chỉ có như vậy giá trị doanh nghiệp được xác định mới là giá trị thực của
nó.
1.4. Các phương pháp định giá doanh nghiệp
Mỗi một doanh nghiệp là một chủ thể riêng biệt, có một đặc điểm và cấu trúc
khác nhau, hơn nữa tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi quốc gia, mỗi khu
vực, cũng như tuỳ thuộc vào ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp và trình độ
của đội ngũ chuyên viên định giá mà người ta có thể chọn và sử dụng các phương
pháp định giá khác nhau sao cho phù hợp. Mỗi phương pháp được xây dựng dựa
trên các cơ sở, căc cứ và phục vụ cho các đối tượng với các mục đích khác nhau.
Có hai phương pháp hay được sử dụng đó là phương pháp tài sản và phương pháp
chiết khấu dòng tiền.
1.4.1. Phương pháp tài sản.
Cơ sở để xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản: Phương
pháp định giá doanh nghiệp theo giá trị tài sản cho rằng giá trị của một doanh
nghiệp bằng tổng giá trị của từng loại tài sản riêng trên bảng cân đối kế toán trừ đi
các khoản nợ của doanh nghiệp. Giá trị của tài sản được đo bằng hiệu quả sử dụng
và khai thác chúng nhằm tạo ra những lợi ích kinh tế trong tương lai.
Giá trị thực tế của tài sản mà doanh nghiệp quản lý.
Khả năng mang lại thu nhập từ các tài sản đó.