HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VIỆT NAM - Pdf 75

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT
TRIỂN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VIỆT NAM
3.1. Đánh giá thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần phát triển đầu tư xây dựng
Việt Nam:
Từ những ngày đầu thành lập cho đến nay, Công ty cổ phần phát triển đầu tư
xây dựng Việt Nam đã trải qua một chặng đường chưa phải dài nhưng đủ để Công
ty có quyền tự hào về những thành tựu đã đạt được. Với sự trưởng thành và phát
triển của ngành Xây dựng Việt Nam, Công ty cổ phần phát triển đầu tư xây dựng
Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh về quy mô, cơ cấu lẫn chất lượng công trình.
Hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực Xây dựng, Công ty đã tạo được chỗ đứng trên
thương trường, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho lao động địa phương và đóng
góp không nhỏ cho ngân sách Nhà nước. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh, Công ty đã có nhiều đổi mới trong công tác quản lý nói chung và công tác
kế toán nói riêng, tạo ra bước đi đúng đắn phù hợp với nhu cầu thị trường cũng như
chiến lược phát triển dài hạn của Công ty.
Trong quá trình thực tập tốt nghiệp, em đã tập trung tìm hiểu công tác kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty. Với những kiến
thức tích lũy tại nhà trường cùng sự tạo điều kiện tiếp cận thực tế của Ban lãnh đạo
Công ty và phòng kế toán, em xin đưa ra một số nhận xét và kiến nghị về công tác
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần
phát triển đầu tư xây dựng Việt Nam như sau:
3.1.1. Những ưu điểm chủ yếu:
Đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty là các công trình, hạng
mục công trình hoàn thành bàn giao. Hàng tháng, chi phí phát sinh sẽ được kế toán
tập hợp theo các khoản mục chi phí: CP NVLTT, CP NCTT, CP SDMTC, CP
SXC. Chi phí phát sinh liên quan đến đối tượng nào thì được kế toán trực tiếp cho
đối tượng đó, nếu chi phí liên quan đến nhiều đối tượng thì được phân bổ theo tiêu
thức thích hợp.
Kỳ tính giá thành của công trình là theo quý, nên đến cuối năm kế toán kết

Công ty, lao động thuê ngoài chiếm 100% công nhân trực tiếp sản xuất) nên Công
ty áp dụng cả hai hình thức trả lương: trả lương khoán và trả lương theo thời gian
đáp ứng một cách thỏa đáng vấn đề thù lao cho người lao động. Hình thức lương
khoán cho lao động thuê ngoài gắn chặt thu nhập của người lao động với hiệu quả
công việc, tạo năng suất cao trong lao động.
Công ty sử dụng Bảng chấm công để chấm công cho người lao động, theo dõi
thời gian lao động của họ nên đã tạo động lực thúc đẩy người lao động có trách
nhiệm hơn với công việc, đảm bảo tiến độ thi công công trình. Kế toán cũng có
Biên bản xác nhận khối lượng công việc hoàn thành và Quyết toán khối lượng thi
công để có thể so sánh khối lượng công việc thực tế đã hoàn thành với khối lượng
công việc trong Hợp đồng giao khoán, giúp việc thanh toán với đội trưởng đội
nhận khoán được chính xác.
3.1.1.3. Kế toán CP SDMTC:
Công ty luôn quan tâm đến công tác quản lý chi phí nhiên liệu chạy MTC vì các
loại nhiên liệu này dễ bị hao hụt. Công ty cũng đã tiến hành theo dõi và hạch toán
từng yếu tố chi phí (ví dụ: Chi phí vật liệu, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí kháu
hao MTC, chi phí lương nhân viên lái máy,...).
Công ty cho phép các đội sản xuất chủ động thuê máy thi công trong trường hợp
cần thiết. Điều này góp phần đẩy nhanh tiến độ thi công. Ứng với hai trường hợp
này, CP SDMTC ở Công ty cũng được chia thành hai loại: Đối với máy của Công
ty, kế toán tiến hành tính khấu hao và phân bổ cho từng công trình. Còn đối với
máy thuê ngoài, chi phí đi thuê được kế toán và theo dõi trên TK 6237 – Chi phí
dịch vụ mua ngoài.
3.1.1.4. Kế toán CP SXC:
CP SXC được phân loại và kế toán chi tiết theo từng yếu tố chi phí. CP SXC
của công trình nào thì được kế toán trực tiếp vào công trình đó. Các khoản chi phí
cần phân bổ cho nhiều công trình thì tiêu thức để phân bổ cho từng công trình,
hạng mục công trình là khoản mục CP NVLTT và CP NCTT là hợp lý, từ đó tạo
điều kiện cho công tác quản lý và tổng hợp chi phí chính xác và có hiệu quả.
Những ưu điểm về quản lý và kế toán chi phí sản xuất, giá thành nêu trên đã có

liệu xây dựng như hiện nay, do đó tính chính xác, cập nhật giá xuất vật liệu của
phương pháp này không cao.
Hơn nữa, do thiếu nhân viên kế toán thống kê tại các công trường làm nhiệm vụ
tập hợp, phân loại chứng từ và quản lý vật tư thông qua thẻ kho nên Kế toán vật tư
vừa thực hiện ghi chép sổ chi tiết vật tư, vừa ghi chép thẻ kho thông qua việc tập
hợp chứng từ vật tư do bảo vệ các công trường chuyển lên. Điều này chưa thể nói
là vi phạm nguyên tắc bất kiêm nhiệm (vì phiếu nhập kho, xuất kho là do bảo vệ
công trường ghi) nhưng sẽ thiếu đi một khâu kiểm soát, đối chiếu. Do đó sai sót là
điều khó tránh khỏi.
Một điểm không hợp lý nữa là NVL mua về không qua kho mà đưa thẳng đến
chân công trình nhưng kế toán vẫn viết Phiếu nhập kho, Phiếu xuất kho tạo ra sự
rườm rà trong quá trình kiểm nhận vật tư, tăng khối lượng sổ sách.
3.1.2.2. Kế toán CP NCTT:
Đối với lao động thuê ngoài, Công ty thực hiện giao khoán cho từng đội trực
tiếp tham gia thi công công trình và để đội trưởng tiến hành chia lương, nhưng
Công ty không theo dõi cụ thể quá trình chia lương nên dễ dẫn đến tình trạng
người lao động hưởng không đúng với sức lao động mà mình bỏ ra.
Đối với lao động trong danh sách, Công ty tiến hành trả lương 1 lần/2 tháng.
Điều này đã gây khó khăn cho việc tái sản xuất sức lao động, các nghiệp vụ tạm
ứng lương nhiều gây khó khăn cho công tác kế toán tiền lương. Việc tính lương
được kế toán tiền lương thực hiện trên cơ sở các bảng chấm công do trưởng phòng
hay chỉ huy các công trường chuyển đến. Việc thanh toán tiền lương cho cán bộ
công nhân viên cũng do kế toán tiền lương thực hiện thông qua người đứng đầu
của bộ phận. Điều này sẽ làm cho công tác kiểm soát chi phí lương nhân viên gặp
khó khăn.
Hiện nay, kế toán hạch toán tiền công của công nhân thuê ngoài vào TK 3341
(chi tiết theo từng đội trưởng) nên không theo dõi được chi phí lương cho bộ phận
lao động trong danh sách và ngoài danh sách.
3.1.2.3. Kế toán CP SDMTC:
Những MTC sử dụng của Công ty không được trích khấu hao theo ca máy

không phản ánh chính xác chi phí phát sinh và giá thành công trình, hạng mục
công trình. Mặt khác, không xác định được năng lực thi công của các đội cũng như
trách nhiệm vật chất đối với phần thiệt hại của các đội xây dựng. Đây là một tồn tại
mà Công ty cần khắc phục.
3.1.2.5. Công tác đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành sản phẩm:
Ở Công ty cổ phần phát triển đầu tư xây dựng Việt Nam, số liệu về giá trị sản
phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ do phòng kỹ thuật cung cấp, chưa có sự tham gia
trực tiếp của phòng Tài chính kế toán. Do đó trong một số trường hợp, giá trị sản
phẩm dở dang cuối kỳ còn mang tính ước tính, thiếu chính xác.
Mặt khác, mặc dù Công ty thực hiện hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp
kê khai thường xuyên theo quy định của chế độ tài chính đối với doanh nghiệp xây
lắp nhưng hiện nay công việc kiểm kê vật tư mới chỉ thực hiện được 2 lần/năm
(vào 30/6 và 11/1). Nguyên nhân vẫn là do cán bộ vật tư còn thiếu và khối lượng
công việc quá lớn. Điều này đã phần nào ảnh hưởng tới tính chính xác của chi phí
nguyên vật liệu.
3.2. Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp ở Công ty cổ phần phát triển đầu tư xây
dựng Việt Nam:
3.2.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện:
Tổ chức kế toán chi phí sản xuất chính xác, hợp lý và tính đúng, tính đủ giá
thành công trình xây lắp có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành
xây dựng, trong việc kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chi phí phát sinh. Qua đó
tạo điều kiện cho nhà quản trị có được những nhận xét, đánh giá chuẩn xác, từ đó
đưa ra những quyết định quản lý thích hợp và kịp thời để phát huy những mặt tích
cực, hạn chế, ngăn chặn những nguy cơ phát sinh gây tổn hại trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh. Đồng thời, việc tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp sẽ phản ánh trung thực chất lượng công
trình cũng như trình độ kỹ thuật thi công của đơn vị, khả năng sử dụng vốn đầu tư,
tình hình sử dụng lao động, khai thác nguồn nguyên liệu và áp dụng khoa học kỹ
thuật trong sản xuất kinh doanh. Qua đó đánh giá được trình độ, hiệu quả công tác

công, CP SDMTC và các chi phí khác, phát hiện kịp thời các chênh lệch so với
định mức, các khoản thiệt hại,... trong sản xuất để đề xuất những biện pháp ngăn
chặn kịp thời.
Thứ ba: Tính toán hợp lý giá thành công tác xây lắp.
Thứ tư: Kiểm tra thực hiện kế hoạch giá thành của Công ty theo từng công trình,
hạng mục công trình, đề ra các biện pháp hạ giá thành một cách hiệu quả, khả thi.
Cuối cùng là phải đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở
từng công trình, bộ phận sản xuất,... trong từng thời kỳ nhất định, kịp thời lập báo
cáo về chi phí sản xuất, tính giá thành công trình xây lắp.
3.3. Nguyên tắc hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần phát triển đầu tư xây dựng
Việt Nam:
Việc hoàn thiện công tác kế toán ở Công ty cổ phần phát triển đầu tư xây dựng
Việt Nam cũng như bất cứ doanh nghiệp nào khác, phải tuân theo những nguyên
tắc sau:
Thứ nhất: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây
lắp phải dựa trên cơ sở tôn trọng Luật, Chuẩn mực, Chế độ kế toán hiện hành (chế
độ kế toán ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ – BTC ngày 20/03/2006 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính), các thông tư hướng dẫn cùng các cơ chế tài chính có liên
quan.
Thứ hai: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải
xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất,
loại hình sản xuất, đặc điểm của sản phẩm, khả năng hạch toán và yêu cầu quản lý
kinh doanh.
Thứ ba: Việc hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
phải phù hợp với đặc điểm cụ thể của Công ty trong từng giai đoạn phát triển, tức
là phải có tính khả thi. Các giải pháp phải tính đến mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra
và các lợi ích thu được cả trong hiện tại và tương lai.
Cuối cùng: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải
tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tin học hóa kế toán.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status