HỘI ĐỒNG TƯ VẤN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH BÁO CÁO KẾT QUẢ RÀ SOÁT
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
LĨNH VỰC GIÁO DỤC
Tháng 11 năm 2009
1
NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ ĐỀ XUẤT TRONG THỦ TỤC THÀNH LẬP TRƯỜNG ĐẠI
HỌC, CAO ĐẲNG, TRUNG CẤP VÀ CƠ SỞ GIÁO DỤC LIÊN KẾT VỚI NƯỚC NGOÀI
I/ GIỚI THIỆU:
Đối với mỗi quốc gia, giáo dục tạo nên sức mạnh quyết định sự hưng vong của cả dân
tộc. Đối với mỗi người dân, giáo dục mở cho họ cơ hội vào đời và tạo lập cuộc sống riêng
trong xã hội. Hiến pháp nước ta đã ghi nhận: « Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu »
1
…,
« học tập là quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân »
2
3
Theo />2
năng lực phát triển kinh tế, xã hội trong tương lai. Ngoài ra, thủ tục hành chính rườm rà phức
tạp và không rõ ràng tạo điều kiện cho tệ tham nhũng phát triển trong các cơ quan hành chính.
Về phía nhà đầu tư: một mặt thủ tục lập trường khó khăn dẫn đến chi phí cao do phải nhờ vả,
quan hệ, từ đó cản trở các dự án đầu tư tốt vào lĩnh vực này. Mặt khác, một số dự án đầu tư
kém chất lượng vẫn được chấp nhận do những quan hệ quen biết hay tiêu cực. Điều này tạo
nên sự bất bình đẳng trong hoạt động giáo dục, từ đó hạn chế năng lực cạnh tranh của Việt
Nam.
Nghiên cứu, rà soát thủ tục hành chính trong việc thành lập trường không nằm ngoài
mục đích cụ thể của Đề án 30: nhằm loại bỏ hoặc đơn giản hóa một số thủ tục hành chính
rườm rà không cần thiết, từ đó cắt giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Trên cơ sở
lựa chọn các vấn đề ưu tiên, Nhóm nghiên cứu chúng tôi tập trung vào bốn lĩnh vực sau: thủ
tục thành lập trường đại học, thủ tục thành lập trường cao đẳng, thủ tục thành lập trường trung
cấp và thủ tục thành lập cơ sở liên kết giữa bên nước ngoài với bên Việt Nam trong lĩnh vực
giáo dục và đào tạo. Việc nghiên cứu thủ tục hành chính chỉ tập trung vào các cơ sở giáo dục
tư nhân do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý – những cơ sở giáo dục công lập và cơ sở giáo
dục nghề nghiệp không thuộc phạm vi nghiên cứu của chúng tôi. Các tiêu chí nghiên cứu dựa
trên tính hợp pháp, tính hợp lý và sự cần thiết của các thủ tục kể trên. Việc nghiên cứu dựa
trên cơ sở khảo sát và phân tích văn bản (desk research), đồng thời kết hợp với việc nghiên
cứu thực tế (field research) và khảo sát kinh nghiệm của các đối tượng đã và đang tiến hành
thủ tục TLT, và tổ chức các Thảo luận Nhóm nhằm bình luận, đóng góp ý kiến vào kết quả
nghiên cứu. Trên cơ sở đó, chúng tôi tổng kết thực trạng, nêu các vấn đề vướng mắc cũng như
các đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm đơn giản hóa, thậm chí cắt bỏ một số công đoạn trong
Thủ tục TLT. Trong Báo cáo này, việc trình bày kết quả nghiên cứu sẽ được tiến hành riêng
biệt theo từng loại thủ tục: thủ tục thành lập trường đại học (TLT ĐH), thủ tục thành lập
trường cao đẳng (TLTCĐ), thủ tục thành lập trường trung cấp (TLTTC) và thủ tục thành lập
cơ sở liên kết giữa bên nước ngoài với bên Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
(CSLK).
kiện và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt chủ trương đầu tư thành lập trường.
Bước 2: Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài
chính, Nội vụ và các cơ quan liên quan tổ chức thẩm định dự án đầu tư thành lập trường và
các Điều kiện được quy định tại Quyết định này, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết
định thành lập trường ».
4
Ý kiến của chúng tôi:
Quy định về điều kiện thành lập nhà trường như trên thiếu cụ thể và chưa tính đến việc
từ khi có quyết định thành lập đến khi chính thức hoạt động giáo dục cần phải có một thời
gian nhất định để nhà trường chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ cũng
như chương trình giáo dục và giáo trình giảng dạy. Hai thủ tục:Thủ tục thành lập trường Đại
học và Thủ tục cho phép mở ngành đào tạo và tuyển sinh (thủ tục cho phép hoạt động) phải
gắn kết chặt chẽ, bởi lẽ nếu không được phép mở ngành đào tạo và tuyển sinh, việc thành lập
Trường đại học sẽ trở nên vô nghĩa. Cách quy định theo luật hiện hành là không hợp lý và dễ
dẫn đến những hậu quả như sau:
Thứ nhất: Gánh nặng sẽ dồn lên Thủ tục thành lập trường, với những điều kiện và
trình tự hết sức phức tạp và rườm rà, ví dụ như điều kiện về đất đai, cơ sở vật chất, tài chính,
đội ngũ giảng viên.v.v. (những điều kiện này lại rất khó có thể đáp ứng được khi chưa có
Quyết định thành lập trường – điều này chúng tôi sẽ trình bày cụ thể tại mục 3). Hậu quả là
nhà đầu tư sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi xin thành lập trường đại học, thậm chí đôi khi là
không thể vượt qua được những trở ngại này (xem các mục tiếp sau).
Thứ hai: Ngược lại, Thủ tục cho phép hoạt động lại dễ bị coi nhẹ. Cơ chế tiền kiểm
phức tạp dẫn đến tâm lý chủ quan không coi trọng hậu kiểm (kiểm tra giám sát kế hoạch xây
dựng cơ sở vật chất, đội ngũ sau khi nhà trường được thành lập). Cơ quan có thẩm quyền cho
phép hoạt động (Bộ Giáo dục và Đào tạo) thường không chú ý rà soát lại các điều kiện thực tế
như đất đai, cơ sở vật chất, giáo viên.v.v. của Nhà trường sau khi Nhà trường này đã được
phép thành lập, đặc biệt là khi Quyết định thành lập đó lại được ban hành bởi cơ quan cấp trên
(Thủ tướng Chính phủ), bởi lẽ các điều kiện trên đã được rà soát đến hai lần trong quá trình
cho phép thành lập trường. Thế nhưng trên thực tế, việc rà soát trong giai đoạn xin phép thành
chính, Nội vụ và các cơ quan liên quan tổ chức thẩm định dự án đầu tư thành lập trường và
các Điều kiện được quy định tại Quyết định này, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết
định thành lập trường”.
Ý kiến của chúng tôi:
Với cách quy định như trên, có thể hiểu là thủ tục Phê duyệt chủ trương đầu tư là bắt
buộc đối với tất cả mọi trường hợp xin lập trường đại học. Nhưng theo pháp luật đầu tư
6
(khoản 4 Điều 37 Nghị định 108: “trường hợp các Dự án đầu tư nằm trong quy hoạch đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư thực hiện thủ
tục Cấp giấy chứng nhận đầu tư mà không phải trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ
trương đầu tư”. Điều này có thể áp dụng tương tự cho thủ tục xin lập trường đại học: những
dự án đã nằm trong quy hoạch mạng lưới các trường đại học thì không cần phải xin Phê duyệt
chủ trương đầu tư. Trong trường hợp này, nếu duy trì thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư thì
Thủ tướng Chính phủ - người đã quyết định việc quy hoạch mạng lưới trường đại học, lại phải
phê duyệt Chủ trương đầu tư cho 1 dự án lập trường đại học đã nằm trong quy hoạch đó. Điều
này làm tăng thêm chi phí, mất thời gian cho nhà đầu tư và cả cơ quan quản lý nhà nước một
cách không cần thiết.
Đề xuất:
Nên bỏ thủ tục xin Chủ trương đầu tư đối với những Dự án đã nằm trong quy hoạch
mạng lưới các trường đại học. Đồng thời cần tạo điều kiện để nhà đầu tư có thể dễ dàng tiếp
cận được thông tin về Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, Bộ GD&ĐT cần phải công
bố thông tin quy hoạch hoặc phân bố mạng lưới trường ĐH cụ thể ở từng khu vực địa phương
bằng văn bản pháp lý, phù hợp với quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại QĐ
121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007. Vì hiện nay, chưa có VBPL nào công bố thông tin quy
hoạch hoặc phân bố mạng lưới trường ĐH cụ thể ở từng khu vực địa phương, nên làm cho Tổ
chức, cá nhân muốn đầu tư thành lập trường ĐH rất khó tiếp cận thông tin.
3/ Về Hồ sơ xin Thành lập trường Đại học:
a/ Các hồ sơ đề nghị xin Chủ trương đầu tư:
Vấn đề:
đất thì sẽ là không hợp lý.
Đề xuất:
- Thứ nhất: Những hồ sơ này nên chuyển qua bước 2 – trong hồ sơ đề nghị Thủ tướng Chính
phủ ra quyết định thành lập trường. Vì đây mới chỉ là bước xin Chủ trương thành lập trường,
nên chưa cần thiết phải có các điều kiện trên. Nếu thực hiện vấn đề này, tốn rất nhiều thời
gian và công sức ít nhất là 2 năm hoặc lâu hơn mới xong, vì liên quan đến trình tự và thủ tục
xin giao đất do pháp luật đất đai qui định.
8
-Thứ hai: Việc quy định về “văn bản xác nhận khả năng tài chính” như trên sẽ gây khó khăn
cho nhà đầu tư vì không quy định rõ cơ quan nào xác nhận khả năng tài chính? Hơn nữa
không có biểu mẫu cụ thể cho văn bản này. Do vậy đề nghị sửa lại là có Văn bản chứng minh
khả năng tài chính và cam kết góp vốn của các nhà đầu tư.
b/ Các hồ sơ đề nghị xin Quyết định thành lập trường:
Vấn đề:
Điều 3 Khoản 5 Quyết định 07 quy định về các hồ sơ đề nghị Thủ tướng Chính Phủ ra
quyết định thành lập trường bao gồm một số văn bản như:
“c. Văn bản báo cáo chi tiết về tình hình triển khai Dự án đầu tư thành lập trường ....cùng ý
kiến của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi trường đặt trụ sở chính, trong báo cáo cần làm rõ
những công việc cụ thể đã hoàn thành hoặc đang thực hiện về đất xây dựng trường, số lượng
và các điều kiện đã chuẩn bị về phòng học, phòng làm việc, phòng thí nghiệm, thư viện; trang
thiết bị; khu thực hành, ký túc xá, khu thể thao và những công trình khác đã được xây dựng
trên khu đất; các cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ đào tạo; đội ngũ cán bộ, giảng viên, công tác
tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên; tài chính chuẩn bị cho các hoạt động của
trường, phù hợp với nội dung, kế hoạch triển khai thực hiện của Dự án ».
Ý kiến của chúng tôi:
Trong giai đoạn đề nghị Thủ tướng ra quyết định thành lập trường, cũng chưa thể yêu cầu
có các điều kiện thực tế (đã hoàn thành hoặc đang thực hiện) về đất xây dựng trường, danh
mục số lượng các phòng học, phòng làm việc và cơ sở vật chất phục vụ học tập giảng dạy, đội
ngũ cán bộ giảng viên. Bởi lẽ muốn có những điều kiện đó, phải cần có Quyết định thành lập
minh rõ về tính khả thi và hợp pháp của các nguồn vốn đầu tư xây dựng và phát triển nhà
trường trong từng giai đoạn;
- Văn bản cam kết hoặc chứng minh về khả năng tài chính và điều kiện cơ sở vật chất - kỹ
thuật của người đầu tư thành lập trường (đối với trường tư thục) hoặc thuyết minh khả năng
tài chính đầu tư xây dựng trường của cơ quan tài chính có thẩm quyền (đối với trường công
lập).
- Đối với việc thành lập các trường đại học tư thục, hồ sơ phải có các văn bản sau đây
được lập theo mẫu thống nhất do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định:
+ Danh sách các thành viên sáng lập;
10
+ Biên bản cử đại diện đứng tên thành lập trường của các thành viên góp vốn;
+ Bản cam kết góp vốn xây dựng trường của cá nhân, tổ chức và ý kiến đồng ý của người
đại diện đứng tên thành lập trường;
+ Danh sách các cổ đông cam kết góp vốn điều lệ;
- Bước 2: Quyết định thành lập: Hồ sơ đề nghị:
Áp dụng theo quy định hiện hành và thêm các bước chuyển từ bước 1 qua như sau:
- Văn bản pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất hoặc văn bản của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
về chủ trương giao đất để xây dựng trường, trong đó cần làm rõ về địa điểm, ranh giới của
khu đất;
- Bản dự thảo quy hoạch tổng thể mặt bằng và thiết kế sơ bộ các công trình kiến trúc xây
dựng trên khu đất xây dựng trường, bảo đảm phù hợp với quy mô đào tạo và tiêu chuẩn diện
tích sử dụng phục vụ việc học tập, giảng dạy.
- Bước 3: Cho phép mở ngành đào tạo và tuyển sinh
Sau khi Quyết định thành lập trường của Thủ tướng Chính phủ được ban hành, Bộ Giáo
dục và Đào tạo sẽ cho phép cá nhân, tổ chức tiến hành mở ngành đào tạo và tuyển sinh sau
khi đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Quyết định 07
4
.