Tiểu luận: Tổ chức công tác kiểm toán - Pdf 75

Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
Thực hiện: Võ Thị Linh
Lớp: K13CK2 -Trang 1 -
Tiểu luận
Công tác quản lý
vốn tại chi nhánh
công ty gang thép
Thái Nguyên
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
Mục lục
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KIỂM TOÁN
1. Khái quát về tổ chức công tác kiểm toán
1.1 Tổ chức
Là mối liên hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống .Mức độ liên hệ này
được xác định qua biên độ giao động từ không đến một.Ở mức độ không,
các yếu tố trong cùng một hệ thống không tồn tại bất kì mối liên hệ nào. Khi
đó hệ thống rơi vào tình trạng tan rã hay vô tổ chức.Ở độ một, ngược lại ,các
yếu tố quan hệ chặt chẽ,khoa học và hệ thống hoạt động ở mức độ tối ưu .
1.2 Tổ chức kiểm toán
Là khái niệm bao hàm trình tự kiểm toán .Một cuộc kiểm toán chỉ có
thể thực hiện thành công nếu đối tượng kiểm toán được xác định thống nhất
Thực hiện: Võ Thị Linh
Lớp: K13CK2 -Trang 2 -
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
giữa chủ thể và khách thể kiểm toán, trong đó chủ thể kiểm toán được xác
định rõ mục tiêu và phạm vi kiểm toán và kết hợp khéo léo các phương pháp
kĩ thuật theo trình tự kiểm toán trong khuôn khổ những cơ sở pháp lý nhất
định để thực hiện cuộc kiểm toán, thoả mãn nhu cầu khách thể kiểm toán và
các bên quan tâm.theo đó tổ chức kiểm toán là một vấn đề cơ bản,có ý nghĩa
quyết định sự thành côngvà tính hiệu quả thực hiện một cuộc kiểm toán.

công bố báo cáo kiểm toán.
Sơ đồ 1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán
Giai đoạn I
Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm
Giai đoạn II
Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Giai đoạn III
Hoàn thành kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán
2.1.3 Trình tự giai đoạn lập kế hoạch và thiết kế phương án kiểm toán
Thực hiện: Võ Thị Linh
Lớp: K13CK2 -Trang 4 -
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
Để giúp cho việc lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán
được thực hiện có hiệu quả, các giám đốc kiểm toán và các kiểm toán viên
cao cấp thường lập chiến lược kiểm toán.
2.1.4 Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Quy trình kiểm toán bắt đầu khi kiểm toán viên và Công ty kiểm toán
thu nhận một khách hàng. Công ty kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần
thiết để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán bao gồm: đánh giá khả năng chấp
nhận kiểm toán, nhận diện các lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhân viên
kiểm toán và ký hợp đồng kiểm toán.
- Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán thông qua việc xem xét hệ
thống kiểm soát và xem xét tính liêm chính của ban giám đốc khách hàng
thông qua việc phỏng vấn các kiểm toán viên tiền nhiệm. Từ đó, xác định
khả năng có thể kiểm toán được công ty khách hàng.
- Nhận diện lý do kiểm toán của công ty khách hàng, để thực hiện việc
này kiểm toán viên có thể phỏng vấn trực tiếp ban giám đốc khách hàng
hoặc dựa vào kinh nghiệp của những cuộc kiểm toán trước.
- Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán: trong quá trình lựa chọn
nhân viên kiểm toán phải chú trọng đến 3 vấn đề:

nghành, và ở Việt Nam kiểm toán viên có thể lấy các thông tin từ Niên giám
thống kê do Tổng cục Thống kê phát hành hàng năm.
1 - Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán
thường xuyên. Các hồ sơ kiểm toán thường xuyên thường chứa đựng rất
nhiều thông tin về khách hàng, về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và
các đặc điểm hoạt động khác. Ngoài ra đa phần các công ty kiểm toán đều
duy trì hồ sơ kiểm toán thường xuyên đối với mỗi khách hàng. Hồ sơ này có
các bản sao của các tài liệu như: sơ đồ tổ chức bộ máy, điều lệ công ty,
chính sách tài chính, kế toán… Qua đó kiểm toán viên sẽ tìm thấy những
Thực hiện: Võ Thị Linh
Lớp: K13CK2 -Trang 6 -
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
thông tin hữu ích về công việc kinh doanh của khách hàng. Việc cập nhật và
xem xét các sổ sách của công ty là rất cần thiết vì qua đó kiểm toán viên
không chỉ xác định được các quyết định của các nhà quản lý có phù hợp với
pháp luật của Nhà nước, với các chính sách hiện hành của công ty hay
không mà còn giúp kiểm toán viên hiểu được bản chất của các số liệu cũng
như sự biến động của chúng trên các báo cáo tài chính được kiểm toán.
1 - Tham quan nhà xưởng, kho bãi, trụ sở làm việc của công ty khách
hàng. Công việc này cung cấp cho kiểm toán viên một bức tranh tổng thể về
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty khách hàng, về sản phẩm tồn
kho, dây truyền công nghệ, cách phân công công tác, phong cách quản lý
điều hành của ban giám đốc.
2 - Nhận diện các bên hữu quan: phải được thực hiện ngay trong giai
đoạn lập kế hoạch kiểm toán, thông qua phỏng vấn ban giám đốc, xem sổ
theo dõi cổ đông, các bên tham gia góp vốn, hoặc sổ theo dõi khách hàng.
Từ đó dự đoán các vấn đề có thể phát sinh để hoạch định một kế hoạch kiểm
toán phù hợp hơn.
3 - Dự kiến nhu cầu đối với các chuyên gia bên ngoài: kiểm toán viên
phải đánh giá khả năng chuyên môn, mục đích, phạm vi công việc của họ,

2.1.7.1 Chương trình kiểm toán
Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc
kiểm toán cần thực hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa
các kiểm toán viên cũng như dự kiến về những tư liệu, thông tin liên quan
cần sử dụng và thu thập. Trọng tâm của chương trình kiểm toán là các thủ
tục kiểm toán cần thực hiện đối với từng khoản mục hay bộ phận được kiểm
toán.
2.1.7.2 Quy trình thiết kế chương trình kiểm toán
Thực hiện: Võ Thị Linh
Lớp: K13CK2 -Trang 8 -
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
Chương trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toán được thiết kế
thành 3 phần: trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm
trực tiếp các số dư. Mỗi phần được chia nhỏ thành các chu kỳ nghiệp vụ và
các khoản mục trên Báo các tài chính.
2.2 Thực hành kiểm toán
2.2.1 Khái quát quá trình thực hiện kế hoạch kiểm toán
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp
kỹ thuật kiểm toán thích ứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập
bằng chứng kiểm toán. Đó là quá trình triển khai một cách chủ động và tích
cực các kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiến xác
thực về mức độ trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính trên cơ sở những
bằng chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy.
2.2.2 Thực hiện thủ tục kiểm soát
Thủ tục kiểm soát chỉ được thực hiện sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm
soát nội bộ với đánh giá ban đầu là khách thể kiểm toán có hệ thống kiếm
soát nội bộ hoạt động có hiệu lực. Khi đó, thủ tục kiểm soát được triển khai
nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán về thiết kế và về hoạt động của hệ
thống kiểm soát nội bộ
2.2.3 Thực hiện thủ tục phân tich

nhận được từ thủ tục phân tích cần được đánh giá do phát hiện qua kiểm
toán không chỉ bao gồm những sai sót trong tài khoản mà cả những quan sát
hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống thông tin và những vấn đề khác.
2.2.4 Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro
Nếu ở các bước trên, kiểm toán viên mới chỉ thu thập được các thông
tin mang tính khách quan về khách hàng thì ở bước này, kiểm toán viên sẽ
căn cứ vào các thông tin đã thu thập được để đánh giá, nhận xét nhằm đưa ra
một kế hoạch kiểm toán phù hợp.
Thực hiện: Võ Thị Linh
Lớp: K13CK2 -Trang 10 -
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
2.2.4.1 Đánh giá mức trọng yếu
Trọng yếu là khái niềm dùng để chỉ tầm cỡ và bản chất các sai phạm
của các thông tin tài chính, hoặc đơn lẻ hoặc theo nhóm.
- Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh
giá mức trọng yếu để ước tính mức độ sai sót trên báo cáo tài chính có thể
chấp nhận từ đó xác định nội dung và trình tự thực hiện các thử nghiệm
kiểm toán.
- Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đưa ra
ước tính ban đầu về tính trọng yếu và phân bổ các ước tính ban đầu đó cho
các khoản mục
+ Ước tính ban đầu về mức trọng yếu: mức ước tính ban đầu về tính
trọng yếu là giá trị tối đa mà kiểm toán viên tin rằng tại giá trị tối đa đó các
báo cáo tài chính có thể bị sai nhưng không ảnh hưởng đến các quyết định
của những người sử dụng thông tin tài chính, hay nói cách khác là mức sai
sót có thể chấp nhận được đối với báo cáo tài chính.
Ý nghĩa: việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho kiểm toán
viên lập kế hoạch để thu thập bằng chứng kiểm toán một cách đầy đủ và
thích hợp. Cụ thể, nếu kiểm toán viên ước lượng mức trọng yếu càng thấp
thì độ chính xác của các số liệu trên các báo cáo tài chính càng cao và do đó

mang tính chủ quan đòi xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên.
2.2.4.2 Đánh giá rủi ro
Trên cơ sở mức trọng yếu và phân bổ mức trọng yếu thì kiểm toán
viên cần đánh giá khả năng xảy ra sai sót trọng yếu trên toàn bộ báo cáo tài
chính cũng như trên từng khoản mục để phục vụ cho việc thiết kế các thủ tục
kiểm toán và xây dựng chương trình kiểm toán phù hợp. Công việc này được
gọi là đánh giá rủi ro kiểm toán để lập kế hoạch kiểm toán.
Thực hiện: Võ Thị Linh
Lớp: K13CK2 -Trang 12 -
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
- Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thường phải
xác định một mức rủi ro kiểm toán mong muốn, mức rủi ro này được xác
định phụ thuộc vào hai yếu tố:
+ Mức độ mà theo đó người sử dụng thông tin tài chính bên ngoài tin
tưởng báo cáo tài chính.
+ Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo
kiểm toán được phát hành.
- Đánh giá rủi ro tiềm tàng: được thực hiện dựa vào các yếu tố:
1 + Báo cáo công việc kinh doanh của khách hàng
2 + Tính liêm chính của ban giám đốc
3 + Hợp đồng kiểm toán lần đầu hay hợp đồng kiểm toán đã ra
1 + Các nghiệp vụ kt bất thường
2 + Các ước tính kế toán
3 + Quy mô của các số dư trên các tài khoản
- Đánh giá rủi ro kiểm soát : liên quan đến sự yếu kém của hệ thống kiểm
soát nội bộ, rủi ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giá trên toàn bộ báo
cáo tài chính, cũng như đối với các khoản mục trên báo cáo tài chính.
- Đánh giá rủi ro phát hiện: được xác định từ 3 loại rủi ro trên, xảy ra do các
nhân tố :
1 + Kiểm toán viên thực hiện các bước kiểm toán không thích hợp do kế

3 - Chi phí kiểm tra tất cả các khoản mục là không kinh tế.
Khi không lựa chọn tất cả các khoản mục từ một tài khoản thì chúng ta
có thể lựa chọn một số khoản mục dựa trên cơ sở chọn điển hình những
khoản mục chính chính hoặc chọn mẫu đại diện hoặc kết hợp cả hai phương
pháp.
2.2.5.3 Lựa chọn khoản mục chính
Thực hiện: Võ Thị Linh
Lớp: K13CK2 -Trang 14 -
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
Các khoản mục chính là những khoản mục mà dựa trên đánh giá, kinh
nghiệm và sự hiểu biết về tình hình kinh doanh của khách hàng, kiểm toán
viên thấy chúng là khoản mục không phát sinh thông thường, không dự đoán
trước được hay dễ có sai phạm. Để lựa chọn được những khoản mục chính
cần đọc những chứng từ tài liệu.
2.2.5.4 Thực hiện các biện pháp kỹ thuật kiểm tra chi tiết trên các khoản
mục đã chọn.
Trên cơ sở các khoản mục đã chọn, cần thực hiện các biện pháp kỹ
thuật để kiểm tra chi tiết. Có thể áp dụng các kỹ thuật kiểm toán thích hợp
đối với mỗi khoản mục lựa chọn để tiến hành kiểm tra chi tiết nhằm xác định
khả năng tồn tại những chênh lệch đến mức đòi hỏi điều tra và theo dõi.
Trong các biện pháp kỹ thuật kiểm tra chi tiết xác nhận và kiểm tra thực tế là
những kỹ thuật thường được áp dụng rộng rãi trong kiểm toán báo cáo tài
chính và cần được thực hiện trên cơ sở xác định.
+ Xác nhận: Xác nhận số dư và những nghiệp vụ bằng một nguồn bên
ngoài thường cung cấp bằng chứng kiểm toán có tính thuyết phục. Xác nhận
thường là một thủ tục kiểm toán có hiệu quả vì thủ tục này có thể xác nhận
được thời điểm bắt đầu của nghiệp vụ và những hoạt động xử lý nghiệp vụ
đó. Về loại xác nhận, tuỳ theo loại câu hỏi và câu trả lời tương ứng, có thể
áp dụng các loại xác nhận khác nhau: xác nhận mở, xác nhận đóng, xác nhận
chủ động, những thủ tục kiểm toán thay thế, và xác nhận thụ động.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status