MỘT SỐ NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN
THIỆN TỔ CHỨC HỒ SƠ KIỂM TOÁN TẠI AASC.
3.1. Nhận xét về công tác tổ chức hồ sơ kiểm toán tại AASC
3.1.1. Những ưu điểm của hồ sơ kiểm toán của AASC
Trong suốt thời gian 15 năm từ ngày thành lập, AASC luôn phát huy tiềm lực
của mình và luôn đặc biệt quan tâm đến chất lượng các dịch vụ mình cung cấp.
Chính điều đó đã nâng cao uy tín của công ty đối với khách hàng, và AASC luôn là
một trong hai công ty kiểm toán đầu ngành của kiểm toán Việt Nam.
Vấn đề đổi mới cho phù hợp với sự phát triển của thời đại luôn được chú ý. Với
hồ sơ kiểm toán, Công ty đã xây dựng cho mình hệ thống hồ sơ chuẩn từ năm
2002. Đó là mô hình hồ sơ kiểm toán của Tây Âu có sửa đổi theo quy định của Bộ
Tài chính và quy định riêng của Công ty. Tuy đã có rất nhiều cố gắng để hoàn
thiện hệ thống hồ sơ kiểm toán nhưng thực tế cho thấy vẫn còn một số hạn chế yêu
cầu Công ty cần nhanh chóng sửa đổi sao cho phù hợp và giúp cho công tác kiểm
toán ngày càng tốt hơn.
Mô hình hồ sơ kiểm toán Tây Âu là mô hình hồ sơ kiểm toán gắn liền với
phương pháp kiểm toán thủ công. Qua nghiên cứu có thể kết luận rằng chính
phương pháp thủ công này đã đem lại cho mô hình hồ sơ kiểm toán này những ưu
nhược điểm riêng:
• Ưu điểm của mô hình hồ sơ kiểm toán tại AASC.
Thứ nhất, công tác kiểm toán của Công ty đa số được thực hiện bằng phương
pháp thủ công nên yêu cầu về trang thiết bị (trong đó hồ sơ kiểm toán) là không
quá lớn. Kiểm toán viên có thể tự mình hoàn thiện giấy tờ làm việc mà không cần
sự trợ giúp của hệ thống máy tính. Chi phí cho trang thiết bị phục vụ kiểm toán vì
thế mà thấp dẫn đến chi phí cho cuộc kiểm toán cũng thấp.
Thứ hai, trong mô hình hồ sơ này, tính chủ động của kiểm toán viên được phát
huy cao độ. Tuỳ thuộc vào từng cuộc kiểm toán khác nhau mà kiểm toán viên có
thể đưa ra những thủ tục kiểm toán sao cho phù hợp nhất. Các giấy tờ làm việc
trong hồ sơ được lập một cách linh động phụ thuộc nhiều vào khả năng xét đoán
của kiểm toán viên và đặc điểm của khách hàng. Hồ sơ kiểm toán không nhất thiết
phải đầy đủ như trong hồ sơ mẫu đã quy định. Tài liệu nào không cần thiết thì
Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ
thuật, sự bùng nổ của công nghệ thông tin thì mô hình hồ sơ kiểm toán của AASC
cũng đã thể hiện rất nhiều hạn chế. Nhất là khi mô hình kiểm toán Bắc Mỹ mà đại
diện là hồ sơ kiểm toán AS/2 ra đời và thể hiện nhiều ưu việt hơn hẳn bởi AS/2 có
đưa ra mẫu hồ sơ kiểm toán chuẩn với giấy tờ làm việc được xây dựng theo mẫu
thống nhất đi tới từng chỉ mục cụ thể và được đánh số theo chỉ mục đó. Việc ghi
chép giấy tờ làm việc của kiểm toán viên có sự trợ giúp của phần mềm AS/2 nên
việc liên kết thông tin giữa các giấy tờ làm việc trong hồ sơ kiểm toán là rất chặt
chẽ. Khi thông tin được đưa vào giấy tờ làm việc này thì lập tức thông tin đó sẽ
được xử lý, lọc và chuyển đến các giấy tờ làm việc khác có liên quan theo một cơ
chế tự động trong máy vi tính. So sánh hai mô hình này, ta càng thấy rõ những hạn
chế của mô hình hồ sơ kiểm toán năm ở Tây ÂU.
Thứ nhất, mô hình kiểm toán AASC sử dụng phương pháp thủ công trong
việc lập các giấy tờ làm việc, do vậy công việc ghi chép tính toán của kiểm toán
viên rất phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức mà độ chính xác không cao.
Ví dụ như một công ty khách hàng lớn, có nhiều chi nhánh khác nhau thì việc
phân loại, sắp xếp sẽ không được nhanh chóng dễ dàng. Trong khi đó thì các giấy
tờ làm việc được thiết kế trên phần mềm AS/2 có độ chính xác cao mà lại nhanh
chóng. Giấy tờ làm việc được hình thành trên máy vi tính và tuân theo những mẫu
thiết kế sẵn nên nhanh chóng thuận tiện.
Thứ hai, giấy tờ làm việc được lập theo phương pháp thủ công nên sau khi
lập giữa các giấy tờ không có mối liên hệ chặt chẽ. Sự liên kết giữa các giấy tờ này
chỉ là sự liên kết từ giấy tờ tổng hợp đến giấy tờ làm việc chi tiết và ngược lại.
Nhược điểm là thông tin giữa các chỉ mục không gắn bó chặt chẽ với nhau, không
hình thành nên đường đi của thông tin xuyên suốt trong hồ sơ. Khi muốn đưa các
thông tin liên quan với nhau, kiểm toán viên lại phải tìm kiếm thông tin trên các
giấy tờ làm việc khác để ghi chép vào. Điều này khiến các thông tin bị lặp lại nhiều
lần trong hồ sơ kiểm toán khiến kiểm toán viên phải mất thêm thời gian, công sức
cũng như vật chất để hình thành nên giấy tờ làm việc. Còn với mô hình AS/2 việc
liên kết giấy tờ trong hồ sơ rất chặt chẽ. Việc thiết lập giấy tờ làm việc được vi tính
bản những diễn biến trong nền kinh tế thế giới. Ngày nay, thương mại dịch vụ đã
trở thành một ngành kinh tế quan trọng và chiếm một tỷ trọng khá lớn trong giao
dịch thương mại toàn cầu. Vấn đề tự do hóa thương mại dịch vụ đã trở thành mối
quan tâm ngày càng lớn của các quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển.
Trong các vòng đàm phán song phương và đa phương các ngành dịch vụ quan
trọng như vận tải, tài chính, thông tin, môi trường,….. luôn được đưa ra thảo luận.
Mở cửa dịch vụ tài chính luôn được coi là vấn đề quan trọng nhất. Phần lớn
các quốc gia trong đó có Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều sức ép từ các nước
phát triển, yêu cầu mở cửa ngành dịch vụ tài chính cho cạnh tranh nước ngoài. Tuy
nhiên, việc mở cửa ngành dịch vụ tài chính là vấn đề rất nhạy cảm, các quốc gia
đều phải có các bước đi thận trọng. Đây là một trong những lý do giải thích cho