TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP - Pdf 75

TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI DOANH NGHIỆP
XÂY LẮP
1.1. Khái niệm,vai trò, đặc điểm của nguyên vật liệu trong doanh nghiệp
Xây lắp.
Nói đến nguyên vật liệu, hẳn chúng ta đều biết, đó chính là thực thể cấu
thành nên sản phẩm. Hay nói cách khác, đó chính là một loai đối tượng lao
động.
Đối tượng lao động - Theo Mác - đó chính là tất cả mọi vật trong thiên nhiên
mà lao động con người tác động vào nhằm biến đổi nó phù hợp với mục đích của
con người. Từ cách hiểu trên, đối tượng lao động được chia làm hai loại.
Loại thứ nhất là loại sẵn có trong tự nhiên, con người khai thác chúng để chế
biến, sử dụng cho các ngành công nghiệp. Đây là đối tượng của ngành công nghiệp
khai thác, nó không tạo ra thực thể sản phẩm. Do đó, nó không phải là nguyên vật
liệu.
Loại thứ hai đã qua chế biến, con người tác động vào nó để tạo ra sản phẩm
theo mục đích của mình. Đối tượng lao động này là nguyên liệu của ngành công
ngiệp chế biến. Đó chính là nguyên vật liệu.
Vậy, nguyên vật liệu là đối tượng lao động đã qua chế biến, nó dùng để chế
tạo ra các sản phẩm phục vụ cho mọi mặt đời sống của con người, đồng thời nó
cũng có thể là nguyên liệu cho ngành sản xuất vật chất khác.
Đối với ngành xây lắp, nguyên vật liệu là tất cả các thực thể vật chất tạo nên
công trình xây lắp như gạch, xi măng, sắt thép...
Từ cách hiểu về nguyên vật liệu như vậy, ta thấy nguyên vật liệu trong
ngành xây lắp nói riêng và trong các ngành sản xuất vật chất nói chung đều có đặc
điểm là chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và bị tiêu hao toàn bộ, không giữ
nguyên hình thái vật chất ban đầu. Giá trị của chúng bị tiêu hao toàn bộ vào chi phí
sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Như chúng ta đã biết, sản xuất vật chất là ngành tạo ra của cải vật chất cho
xã hội, thiếu nó thì xã hội không thể tồn tại và phát triển được. Để sản xuất ra các
sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người, ba nhân tố không thể thiếu được là
lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Đối tượng lao động chính là

Kế toán nguyên vật liệu giữ một vai trò rất quan trọng đối với hoạt động
quản lý doanh nghiệp. Nó cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp về
tình hình sử dụng nguyên vật liệu thực tế của doanh nghiệp, từ đó so sánh với dự
toán đặt ra, nếu có chênh lệch sẽ tìm ra nguyên nhân để từ đó phát huy hoặc tìm ra
nguyên nhân khắc phục. Ngoài ra, kế toán nguyên vật liệu cung cấp thông tin cho
kế toán tổng hợp để xem xét tình hình tài chính doanh nghiệp.
Từ vai trò quan trọng như vậy, nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu được
đặt ra là:
Thứ nhất, thường xuyên tiến hành đánh giá, phân loại nguyên vật liệu phù
hợp với yêu cầu quản lý thống nhất của nhà nước và yêu cầu của các nhà quản trị
doanh nghiệp
Thứ hai, tổ chức chứng từ, tài khoản kế toán, sổ kế toán theo phương pháp
kế toán hàng tồn kho đang được doanh nghiệp áp dụng
Thứ ba, hướng dẫn các bộ phận liên quan thực hiện đầy đủ việc ghi chép ban
đầu sao cho đúng, đủ và luân chuyển đúng quy trình hạch toán nguyên vật liệu áp
dụng tại doanh nghiệp (theo phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu áp dụng
tại doanh nghiệp như phương pháp thẻ song song hay phương pháp sổ số dư...)
Thứ tư, tham gia phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch thu
mua, bảo quản, sử dụng nguyên vật liêu. Tiến hành kiểm kê, đánh giá nguyên
vật liệu theo đúng quy định của nhà nước.
1.2.3. Phân loại nguyên vật liệu.
Trong các doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh, vật liệu bao gồm rất
nhiều loại có quy cách, phẩm chất khác nhau. Để có thể quản lý một cách chi tiết
từng thứ, từng loại nguyên vật liệu phục vụ cho nhu cầu quản trị doanh nghiệp, cần
phải tiến hành phân loại chúng theo những tiêu thức nhất định.
Căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu quản trị trong doanh nghiệp sản
xuất, vật liệu được chia thành:
- Nguyên vật liệu chính (bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài): trong các
doanh nghiệp xây lắp, nguyên vật liệu chính bao gồm các đối tượng cấu thành nên
thực thể sản phẩm như xi măng, gạch, sắt, thép, nửa thành phẩm mua ngoài như bê

tắc nhất quán trong kế toán.
Nếu giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì ghi nhận theo
giá trị thuần có thể thực hiện được.
Theo chuẩn mực kế toán số 02 ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ-
BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, theo đó quy định,
hàng tồn kho được tính theo giá gốc. Giá gốc hàng tồn kho gồm chi phí mua, chế
biến và các chi phí liên quan khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và
trạng thái hiện tại. Không tính vào giá trị của chúng những chi phí bất hợp lý,
không theo chế độ của nhà nước.
Nguyên tắc nhất quán trong kế toán được quy định trong chuẩn mực kế toán
số 01-Chuẩn mực chung, ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31
tháng 12 năm 2002, nêu rõ: “Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp
đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Trường
hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải trình bày lý do
và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh Luận văn tài chính”. Đối
với việc đánh giá nguyên vật liệu thì phải đảm bảo thống nhất và phương pháp
đánh giá ít nhất trong một niên độ kế toán (trong một kỳ hạch toán).
1.2.4.1. Giá thực tế nhập kho nguyên vật liệu.
a. Đối với nguyên vật liệu mua ngoài .
Doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp
khấu trừ:
Doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp trực
tiếp.
Giá gốc Nguyên Giá mua ghi trên Các loại thuế CP có
Liệu, Vật Liệu = hoá đơn sau khi trừ + không được + lq TT
nhập kho đi các khoản chiết khấu, hoàn lại đến việc
giảm giá mua hàng
b. Đối với nguyên vật liệu do doanh nghiệp tự gia công chế biến .
Trị giá vốn thực tế nhập kho= Giá thực tế của nguyên vật liệu gia công chế
biến + Chi phí chế biến (chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung...)

thực tế =
bình quân Số lượng tồn đầu kỳ + Số lượng nhập trong kỳ
b. Tính theo giá thực tế nhập trước, xuất trước .
Theo phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua
trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là
hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp
này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho tại thời điểm
đầu kỳ hoặc gần cuối kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập
kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.
c. Tính theo giá thực tế nhập sau, xuất trước .
Theo phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua
sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng
tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp này thì giá trị hàng
xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của
hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn
tồn kho
d. Tính theo giá thực tế đích danh .
Theo phương pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải theo dõi nguyên vật liệu
theo từng lô hàng. Khi xuất vật liệu thuộc lô hàng nào thì căn cứ vào số lượng xuất
kho và đơn giá thực tế nhập kho của chính lô hàng đó để tính giá thực tế xuất kho.
1.3. Tổ chức kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.
1.3.1. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu là một trong những đối tượng kế toán, loại tài sản cần phải
được tổ chức hạch toán chi tiết không chỉ về mặt giá trị mà cả hiện vật, không chỉ
theo từng kho mà còn theo từng thứ, từng loại, nhóm và phải tiến hành đồng thời
cả ở kho và phòng kế toán trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất kho. Các doanh
nghiệp phải tổ chức hệ thống chứng từ và lựa chọn phương pháp kế toán chi tiết
nguyên vật liệu cho phù hợp với doanh nghiệp nhằm tăng cường công tác quản lý
nguyên vật liệu.
1.3.1.1. Chứng từ sử dụng và sổ kế toán chi tiết.

Có thể khái quát phương pháp này bằng sơ đồ sau
Thẻ kho
Sổ kế toán chi tiết nguyên vật liệu
Chứng từ nhập
Chứng từ xuất
Bảng kê tổng hợp Nhập- Xuất-Tồn nguyên vật liệu Ghi chú:
Ghi h ng ng yà à
Đối chiếu kiểm tra
Ghi cuối kỳ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status