PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN - Pdf 75

PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN –
LONG HỒ
3.1. Giới thiệu về huyện Long Hồ và tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
huyện
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên huyện Long Hồ
Huyện Long Hồ là một trong 7 huyện - thị của Tỉnh Vĩnh Long, có diện tích đất
tự nhiên là 19298,76 ha. Trong đó:
 Diện tích đất nông nghiệp: 14448,82 ha
 Diện tích đất chuyên dùng là: 1194,92 ha
 Diện tích đất ở là 818,77 ha
 Diện tích đất chưa sử dụng là 2827,46 ha
Với địa hình tương đối bằng phẳng, hệ thống kinh rạch chằng chịt tạo nên hệ
thống tưới tiêu và thông liên hoàn. Đồng thời, sông rạch với lượng nước ngọt quanh
năm ưu đãi cho ruộng lúa, hoa màu cây trái các loại.
Ngoài ra, Long Hồ có khí hậu ấm áp và lượng mưa dồi dào. Toàn huyện có
33.593 hộ với 154 ngàn người và hơn 82 ngàn lao động trong đó lao động nông nghiệp
chiếm 50 ngàn người, chiếm 32,46%. Số hộ có cơ sở sản xuất kinh doanh là 6.279 hộ,
trong đó hộ cơ sở thương nghiệp, dịch vụ 5.161 hộ và hộ cơ sở sản xuất công nghiệp -
tiểu thủ công nghiệp là 833 hộ. Lực lượng lao động trong nông thôn dồi dào với tinh
thần cần cù, chịu khó từ đó đã góp phần nâng cao sản lượng nông nghiệp, phát triển
kinh tế của huyện.
3.1.2. Tình hình kinh tế trên địa bàn huyện Long Hồ
3.1.2.1. Ngành trồng trọt
Bảng 1: Tình hình sản xuất lúa huyện Long Hồ
Chỉ tiêu Đơn vị 2005 2006
2006/2005
%
Diện tích gieo trồng cả năm Ha 20064,70 19.240,60
-4,11
Năng suất bình quân Tạ/ha

6.853,33 ha đạt 102% so kế hoạch, so vụ hè thu năm trước giảm gần 2% hay giảm 135
ha. Năng suất bình quân chung của vụ ước đạt 42,85 tạ/ha giảm 1,19 tạ/ha so với vụ hè
thu năm 2005. Nguyên nhân do bà con thực hiện chương trình trồng màu trên đất ruộng,
nuôi thuỷ sản, bán đất làm gạch, trồng cỏ, chuyển mục đích sử dụng…
Vụ Thu đông: Toàn huyện sản xuất được 5267,6 ha giảm 9,99% so với vụ thu đông
năm 2005 hay bằng 584,9 ha. Nguyên nhân giảm là do bà con hiểu được tác hại về sâu
bệnh từ vụ thu đông để lại cho vụ chính (vụ đông xuân) nên không sản xuất vụ 3 mà xới
nền chuẩn bị cho vụ đông xuân. Do lợi nhuận từ vụ thu đông không cao nên bà con
chuyển sang trồng màu hoặc bán đất gạch để cải tạo đất.
Cây hàng năm: Ước diện tích thu hoạch rau các loại tháng 12/2006 đạt 87,5 ha
tăng 6,71% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch rau màu các loại cả năm ước đạt 21.531
tấn tăng 11,15% so năm 2005.
Cây lâu năm: Ước tính sản lượng thu hoạch trái cây các loại tháng 12/2006 đạt
5984 tấn tăng 1,98% so cùng kỳ, luỹ kế 12 tháng năm 2006 đạt 80399 tấn tăng 17,64%
so cùng kỳ. Phát huy thế mạnh đạt được đồng thời do tác động giá cả tăng và ổn định từ
đầu năm ngành nông nghiệp cùng bà con nhà vườn có bước chuẩn bị chu đáo trong việc
gia cố tu bổ bờ bao, cống bọng cho mùa lũ tới. Việc cải tạo vườn tạp, vườn già cỏi kém
hiệu quả ngày càng được quan tâm phát triển mạnh cũng như khâu đầu tư chăm sóc, áp
dụng thành công các tiến bộ khoa học kỹ thuật.
3.1.2.2 Ngành chăn nuôi
Bảng 2: Số lượng đàn chăn nuôi toàn huyện 2005, 2006
Chỉ tiêu Đơn vị 2005 2006 2006/2005
Tổng đàn gia súc gia cầm Con 620.098
374.542 -39,60
- Gia súc Con 42.080
36.989 -12,10
+Trâu Con 21 18
-14,29
+Bò Con 3.291 4.527
37,56

từng bước đi vào sản xuất ổn định hơn, thu hút trên 9.000 công nhân trong và ngoài tỉnh. Bên
cạnh một số doanh nghiệp đang đầu tư và đi vào hoạt động ổn định hơn như công ty Đỗ Lộc,
Tỷ Xuân, Tân Hải, Á Châu…
Thương mại dịch vụ: tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội
năm 2006 trên địa bàn huyện tăng trưởng khá cao so cùng kỳ. Ước tính tổng mức lưu
chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ đạt 750.467 triệu đồng tăng 19,48% so cùng kỳ.
Nguyên nhân là do trên địa bàn huyện hiện nay, mạng lưới chợ nông thôn không
ngừng mở rộng, hình thành nhiều chợ ở các xã, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của
người dân. Kết hợp với hiệu quả đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện giao
thông thuận tiện hơn, trao đổi hàng hoá thuận tiện hơn…
3.2. Khái quát Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn huyện Long Hồ,
Tỉnh Vĩnh Long
3.2.1. Lịch sử hình thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Chi nhánh Long Hồ, Vĩnh Long
Theo Quyết định 400/CP của Thủ tướng Chính phủ Ngân hàng nông nghiệp Việt
Nam được thành lập với 100% vốn ngân sách cấp là ngân hàng quốc gia đa năng, nay là
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có trụ sở chính đặt tại Hà
Nội, mỗi thành phố, mỗi tỉnh đều có chi nhánh trực thuộc khu vực, ban lãnh đạo và điều
hành trong các chi nhánh do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
bổ nhiệm chỉ đạo quản lý.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Vĩnh Long đặt tại trung
tâm thị xã Vĩnh Long với 15 chi nhánh được đặt ở các huyện. Tại khóm 5 Thị trấn Long
Hồ, chi nhánh NHN
o
&PTNT Long Hồ là một ngân hàng tư nhân hoạt động dưới hình
thức “đi vay để cho vay”, mọi hoạt động và sự phát triển của ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn chi nhánh Long Hồ đều thông qua sự quản lý và điều hành của
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Long.
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Long Hồ ra đời vào năm 1988
trong điều kiện đất nước hoàn toàn được giải phóng, thống nhất và đang gặp nhiều khó

CN. Phú Quới
Hình 2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn huyện Long Hồ
3.2.2.2. Chức năng của các bộ phận:
• Ban giám đốc: Giám đốc ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Long
Hồ do Giám đốc ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Vĩnh Long bổ
nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh tại ngân hàng mọi hoạt động
dưới sự lãnh đạo của Ban giám đốc.
• Phó Giám đốc phụ trách chi nhánh cấp 3: Trực tiếp quản lý và điều hành mọi hoạt
động của 4 chi nhánh cấp 3
• Phó Giám đốc: Trực tiếp quản lý và điều hành mọi hoạt động của phòng
kinh doanh, phòng kế toán, phòng ngân quỹ, phong hành chính và bảo vệ.
• Giám định viên: Có nhiệm vụ kiểm soát nội bộ trong quá trình thực hiện
chế độ theo quy chế của pháp luật.
• Phòng kinh doanh: Trong đó Trưởng phòng có nhiệm vụ xây dựng kế
hoạch tháng, quý, năm và phụ trách chi tiêu cho các Chi nhánh, cán bộ tín dụng, Giám
sát công việc của cán bộ tín dụng đồng thời báo cáo và đề xuất ý kiến của Phòng với
Ban giám đốc. Cán bộ tín dụng được phân công mỗi người phụ trách một địa bàn (xã)
và trực tiếp ở địa bàn thực hiện thẩm định, cho vay, đôn đốc và xử lý nợ khi đến hạn.
• Phòng kế toán: Hạch toán và theo dõi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong
hoạt động ngân hàng, đại diện phòng là trưởng phòng chịu trách nhiệm mọi hoạt động
của phòng kế toán dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó giám đốc.
• Các chi nhánh cấp 3: Hoạt động như một ngân hàng cùng hệ thống và trực
tiếp chịu sự chỉ đạo, giám sát của ngân hàng huyện.
3.2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng qua 3 năm
Trong ba năm qua (2004-2006), trước những thử thách và cơ hội, chi nhánh NHNo
& PTNT huyện Long Hồ với sự nỗ lực không ngừng của mình đã vượt qua khó khăn và
đã đạt được những kết quả khả quan. Điều đó được thể hiện trong bảng báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh của trong ba năm như sau:
Bảng 3: Biến động doanh thu, chi phí, lợi nhuận qua các năm

8.114
8.579
11.323
465
5,73
2.744
31,99
(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản chi tiết 2004, 2005, 2006 - Phòng Kế toán NHN
0
& PTNT
huyện Long Hồ, Tỉnh Vĩnh Long)
Hình 3: Biểu đồ biến động doanh thu, chi phí và lợi nhuận
qua các năm 2004-2006
3.2.3.1. Doanh thu
Bảng 4: Biến động doanh thu
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu
2004 2005 2006 2005/2004 2006/2005
Số tiền TT (%) Số tiền TT (%) Số tiền TT (%) Số tiền TT (%) Số tiền TT (%)
Tổng
thu
27.817 100,00 31.667 100,00 36.334 100,00 3.850 13,84 4.667 14,74
Thu từ
HĐTD
27.665 99,45 31.245 98,67 35.323 97,22 3.580 12,94 4.078 13,05
Thu Từ
DV
39 0,14 79 0,25 111 0,31 40 102,56 32 40,51
Thu từ
KDNH

tăng đáng kể đạt 79 triệu đồng tăng 102,56% so với năm 2004, thu từ kinh doanh ngoại
hối tăng 66,67% và thu khác tăng đáng kể đạt 218 triệu đồng so với năm trước. Nhìn
chung hoạt động kinh doanh của Ngân hàng đã đạt những kết quả tốt góp phần nâng
cao vai trò của Ngân hàng trong việc phát triển nền sản xuất nông nghiệp của huyện
nhà.
Sang năm 2006, tổng doanh thu của Ngân hàng tiếp tục tăng và có tốc độ tăng nhanh
hơn so với năm 2005 đạt 36.334 triệu đồng, tức tăng 14,74% đạt 105,7% so với kế hoạch Tỉnh
giao. Trong đó, thu từ hoạt động tín dụng tăng đạt 35.323 triệu đồng. Do trong năm 2006, hoạt
động cho vay ngày càng được chú trọng và quan tâm từ Ngân hàng cấp trên nên doanh số
cho vay tăng. Mặt khác, ngoài hoạt động tín dụng thu lợi nhuận, Ngân hàng còn tăng
cường đầu tư vào hoạt động kinh doanh ngoại hối nên đã làm cho các khoản thu ngày
càng tăng góp phần tăng tổng thu nhập cho Ngân hàng. Tuy nhiên các khoản thu từ dịch
vụ, kinh doanh ngoại hối còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn thu nên Ngân
hàng cần chú trọng hơn nữa các hoạt động dịch vụ như: tạo nhiều điều kiện thuận lợi
cho khách hàng gửi tiền (cả nội tệ và ngoại tệ), kinh doanh ngoại tệ…trong những năm
tới, để tăng thêm nguồn thu và tạo ra nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng hơn.
3.2.3.2. Chi phí
Bảng 5: Biến động chi phí
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu
2004 2005 2006 2005/2004 2006/2005
Số tiền
TT
(%)
Số tiền
TT
(%)
Số tiền
TT
(%)

món vay tăng lên, thế nên tổng chi phí cho các món vay cũng tăng. Mặc dù tổng chi phí
tăng thế nhưng tỷ lệ tăng của chi phí là 8,33% nhỏ hơn rất nhiều so với tốc độ tăng của
doanh thu (14,74%). Do đó, trong năm này hoạt động của Ngân hàng vẫn thu được lợi
nhuận cao.
3.2.3.3. Lợi nhuận
Có thể nói thông qua lợi nhuận của Ngân hàng qua 3 năm đã trả lời cho câu hỏi:
Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng có ngày càng hiệu quả hơn hay không?
Qua số liệu đã phân tích ở trên, mặc dù chi phí tăng qua các năm nhưng Ngân
hàng vẫn thu được lợi nhuận đáng kể và còn tăng qua các năm từ đó giúp Ngân hàng
duy trì hoạt động kinh doanh của mình tốt hơn. Năm 2004, lợi nhuận thu được là 8.114
triệu đồng, sang năm 2005 là 8.579 triệu đồng, tăng 465 triệu đồng so với năm 2004.
Nguyên nhân là do sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng nhằm thu hút khách hàng
huy động vốn, ngân hàng cũng đã tăng lãi suất huy động vốn để đáp ứng nhu cầu khách
hàng và mở thêm phòng giao dịch ở các xã cho những khách hàng ở xa nên đã nâng chi
phí tăng cao với tốc độ tăng 17,18% tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng của doanh thu
(13,84%). Nhưng nhìn chung năm 2005, Ngân hàng vẫn thu được lợi nhuận nhưng tăng
không cao. Đến năm 2006, lợi nhuận của Ngân hàng đã tăng lên một con số đáng khích
lệ, đạt 11.323 triệu đồng, tăng 2.744 triệu đồng, tương ứng tỷ lệ tăng 31,99% so với
năm 2005. Năm 2006, Ngân hàng tiếp tục quán kiệt nghị quyết của huyện uỷ, chủ
trương của ngành và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện để có phương án cho
vay phù hợp với các thành phần kinh tế, chú trọng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ,
mạnh mẽ đầu tư cho vay hộ sản xuất, kinh doanh dịch vụ từ đó đã góp phần tăng lợi
nhuận cho Ngân hàng.
Qua kết quả hoạt động ba năm 2004-2006 của Ngân hàng, ta thấy mặc dù thị
trường có biến động, nhưng bằng sự nỗ lực, Ngân hàng vẫn vượt qua và đạt kết quả khả
quan. Nguồn thu chủ yếu của Ngân hàng là thu lãi cho vay (trên 90%). Điều đó chứng
minh rằng hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại doanh thu chủ yếu của Ngân hàng,
các khoản thu dịch vụ và thu khác thì biến động lúc tăng lúc giảm nhưng chỉ chiếm tỷ
trọng không đáng kể trong doanh thu của Ngân hàng, đây cũng chính là tiềm năng chưa
khai thác của Ngân hàng, và đáng được Ngân hàng quan tâm trong thời gian tới.

Số tiền
TT
(%)
Số tiền
TT
(%)
Số tiền % Số tiền %
I. Vốn huy động 75.856 32,50 97.834 41,10 89.934 36,12 21.978 28,97 -7.900 -8,07
1. TG kho bạc 26.016 11,15 27.613 11,60 23.037 9,25 1.597 6,14 -4.576 -16,57
2. TGTCTD 178 0,08 172 0,07 167 0,07 -6 -3,37 -5 -2,91
3. TGTT 20.512 8,79 31.408 13,19 27.376 11,00 10.896 53,12 -4.032 -12,84
4. TGTK 21.691 9,29 28.699 12,06 25.575 10,27 7.008 32,31 -3.124 -10,89
6. Phát hành CTCG 7.468 3,20 9.942 4,18 13.779 5,53 2.474 33,13 3.837 38,59
II. Vốn ĐC 157.535 67,50 140.212 58,90 159.041 63,88 -17.323 -11,00 18.829 13,43
Tổng Nguồn vốn 233.400 100,00 238.046 100,00 248.975 100,00 4.646 1,99 10.929 4,59
(Nguồn: Phòng Kế toán NHN
0
& PTNT huyện Long Hồ, Tỉnh Vĩnh Long)
Ghi chú: + TG: tiền gửi
+ TGTCTD: tiền gửi tổ chức tín dụng
+ TGTT: tiền gửi thanh toán
+ TGTK: tiền gửi tiết kiệm
+ CCTG: chứng chỉ tiền gửi
+ Vốn ĐC: Vốn điều chuyển
Hình 4: Biểu đồ biến động vốn huy động, vốn điều chuyển
và tổng nguồn vốn.
Năm 2004, nguồn vốn huy động của Ngân hàng nhìn chung có chuyển biến tích cực,
mở rộng được khách hàng mới với mức lãi suất nội ngoại tệ từng bước được cải thiện
phù hợp hơn. Kết quả đạt được từ sự cố gắng của tập thể Ngân hàng là lượng vốn huy
động chiếm tỷ trọng 32,50% tổng nguồn vốn, tương đương 75.856 triệu đồng.

người thiếu vốn, cần vốn.
Ngoài ra, sự tăng trưởng của các loại giấy tờ có giá cũng chiếm tỷ trọng đáng kể
trong tổng nguồn vốn với tốc độ tăng trưởng đạt 33,13% và đã làm tăng thêm nguồn
vốn đáp ứng cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Nhìn chung, năm 2005, nguồn vốn huy động của Ngân hàng đạt kết quả khả quan
với tốc độ tăng trưởng 28,97% so năm trước. Nguồn vốn huy động ngoại tệ là sản phẩm
mới của Ngân hàng nhưng với quyết tâm cao của từng cán bộ Ngân hàng trong việc
thực hiện chỉ tiêu kế hoạch được giao đồng thời thông qua công tác tuyên truyền, tiếp
thị, quảng cáo đã góp phần quảng bá thương hiệu AgriBank của Ngân hàng Nông
Nghiệp và Phát triển Nông thôn Huyện Long Hồ, Tỉnh Vĩnh Long.
Sang năm 2006 thì tổng nguồn vốn đạt 248.975 triệu đồng, tăng 10.929 triệu đồng,
tương ứng tăng 4,59% so năm 2005. Tuy nguồn vốn huy động có giảm 8,07% so với
năm 2005 nhưng do Ngân hàng đã nhận lượng vốn điều chuyển từ chi nhánh cấp trên
tăng 13,43% nên tổng nguồn vốn của Ngân hàng vẫn tăng trong năm 2006. Năm 2006,
do nhu cầu vốn tăng nên lượng giấy tờ có giá được phát hành ngày càng nhiều đã làm
tăng tỷ trọng của loại tiền này lên 13.779 triệu đồng với tốc độ tăng trưởng 38,59%.
Hơn nữa lãi suất kỳ phiếu cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm nên thu hút người dân mua
các giấy tờ có giá.
Nguyên nhân nguồn vốn huy động giảm trong năm 2006 là do trong năm có nhiều
biến động ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của huyện như dịch bệnh, thiên tai, giá cả một
số mặt hàng tăng vọt, giá cả hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng, vật liệu nông nghiệp đều
tăng nên nhu cầu sử dụng tiền mặt của người dân tăng, các doanh nghiệp lớn còn rơi
vào tình trạng thiếu vốn đầu tư nên lượng vốn huy động ngày càng giảm trong năm
2006. Mặt khác, khu vực Long Hồ rất sôi động cạnh tranh quyết liệt và ngày càng gay
gắt, các ngân hàng và tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh từ lâu đã hướng mạnh về thị
trường Long Hồ. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đã làm giảm các khoản huy động từ
tiền gửi thanh toán đến tiền gửi tiết kiệm. Đây là 2 nguồn huy động lớn của Ngân hàng
nên đã làm cho nguồn vốn huy động giảm đáng kể trong năm 2006
Tóm lại, đã có thể trả lời câu hỏi: Tình hình huy động vốn của ngân hàng có đạt chỉ
tiêu kế hoạch đề ra và có tăng trưởng qua các năm hay không? Nhìn chung, tình hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status