SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CHI
NHÁNH BIDV HBT
I. Một số vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp
1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.1. Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, là
động lực phát triển của nền kinh tế. Vậy cạnh tranh là gì?
Tiếp cận ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì có thể thấy: “cạnh tranh là
hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục
đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các
phần thưởng hay những thứ khác”.
Trong kinh tế chính trị học thì: “cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa
những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi
trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất
cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng
(người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng
với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện
tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ”.
Theo Michael Porter thì: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh
tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà
doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận
trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”.
Như vậy ta có thể thấy cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền
kinh tế thị trường, tất yếu không thể không có trong nền kinh tế thị trường, phản ánh
mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế cùng theo đuổi mục đích lợi nhuận
tối đa. Và theo thời gian, tính chất cạnh tranh trong nền kinh tế sẽ ngày càng quyết liệt.
1.2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Trong quá trình tham gia vào cạnh tranh kinh tế quốc tế, các chủ thể (bao gồm
các doanh nghiệp, các ngành kinh tế hay các quốc gia) muốn thắng thế và dành được lợi
thế trong kinh doanh thì đều phải nâng cao năng lực cạnh tranh. Vậy năng lực cạnh
tranh ở đây là gì?
trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có năng lực sản xuất ra sản phẩm có chất lượng
tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác, nhưng với chi phí thấp hơn thì được
coi là có năng lực cạnh tranh cao hơn”.
Randall lại cho rằng năng lực cạnh tranh là “năng lực giành được và duy trì thị
phần trên thị trường với lợi nhuận nhất định. Vì vậy khi thị phần tăng lên cho thấy
năng lực cạnh tranh được nâng cao”
Theo Phillip Lasser thì cho rằng: “năng lực cạnh tranh của một công ty trong
một lĩnh vực được xác định bằng những thế mạnh mà công ty có hoặc huy động được
để có thể cạnh tranh thắng lợi”
Còn trong quản trị chiến lược, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là
“khả năng một doanh nghiệp đạt được tỷ suất lợi nhuận cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình
quân của ngành”
Radall, Phillip Lasser,và một số quan điểm khác đều có cách nhìn nhận năng lực
cạnh tranh khác nhau. Các quan điểm trên chỉ đề cập đến một phần, một khía cạnh về
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (đó là khả năng duy trì thị phần và lợi nhuận của
doanh nghiệp). Hơn nữa nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e rằng chưa đủ,
bởi trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định.
Vì vậy, theo tác giả có thể đưa ra định nghĩa chung năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra
những sản phẩm hàng hóa dịch vụ hấp dẩn với người tiêu dung để tồn tại và phát triển,
thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh.
Đối với một doanh nghiệp hoặc một ngành, một sản phẩm, năng lực cạnh tranh
chính là gắn với mục tiêu duy trì sự tồn tại và thu được lợi nhuận trên thị trường (nội
địa và quốc tế) và nó được thể hiện cụ thể bằng lợi thế cạnh tranh của sản phẩm. Tuy
nhiên, năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hay ngành
đều có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Một quốc gia hay nền kinh tế có năng lực cạnh
tranh tốt điều này sẽ giúp cho các doanh nghiệp hay ngành tạo dựng được năng lực
cạnh tranh tốt hơn trên thị trường thế giới. Và nói cách khác thì năng lực cạnh tranh của
quốc gia là một nguồn hình thành nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hay ngành.
Khi các doanh nghiệp hay ngành có được năng lực cạnh tranh điều này sẽ góp phần
tới các dịch vụ Ngân hàng của các chủ thể trên thị trường bán lẻ. Và với các chủ thể này
thì lãi suất có ý nghĩa rất to lớn.
- Tính linh hoạt của dịch vụ: Khách hàng cũng rất chú ý tới tính linh hoạt của
dịnh vụ đó, dịch vụ đó là dịch vụ có thể thích nghi với những nhu cầu thay đổi.
- Chất lượng dịch vụ: Khách hàng quan tâm nhiều đến chất lượng dịch vụ, đó
cũng là cơ sở cho sự cạnh tranh phi giá. Song cũng cần chú ý rằng nhiều khi giá rẻ chưa
chắc đã là điều tốt nếu như chất lượng dịch vụ không tốt thì cũng không thu hút được
khách hàng.
- Tốc độ: Đây cũng là điều quan tâm của khách hàng bởi vì tốc độ dịch vụ nhanh
cũng có nghĩa là chu chuyển vốn nhanh, do đó giảm được chi phí sử dụng vốn hơn nữa,
đảm bảo được kịp thời và đũng thời cơ cần sử dụng vốn của khách hàng.
- An toàn: Ngân hàng phải là nơi bảo quản vững chắc tiền vốn của khách hàng,
người gửi tiền chọn được Ngân hàng gửi tiền tốt.
- Việc phục vụ được đảm bảo: Thường thường khách hàng và Ngân hàng có
quan hệ lâu dài và tín nhiệm lẫn nhau, vì vậy việc đảm bảo phục vụ kịp thời các yêu cầu
của nhau là cơ sở cho quan hệ lâu dài, cùng tồn tại và phát triển.
- Thuận tiện: Khách hàng rất quan tâm tới các dịch vụ, sản phẩm Ngân hàng
thuận tiện cho mình. Ngân hàng càng thuận tiện bao nhiêu thì khách hàng càng thích sử
dụng và chọn lựa để giao dịch nhiều bấy nhiêu.
- Danh tiếng và kỹ thuật hiện đại: Đây cũng là một tiêu chuẩn để khách hàng
lựa chọn Ngân hàng của khách hàng bởi vì đó cũng là tiêu chuẩn để phòng ngừa rủi ro
khi đầu tư vốn.
Đó là những động cơ chủ yếu mang tính chất lý tính thúc đẩy khách hàng mua
các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng.
1.2. Thị trường, nền kinh tế và cơ quan quản lý
Đặc điểm, tính chất và nội dung cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng của mỗi
quốc gia tuỳ thuộc vào: thể chế chính trị, môi trường pháp lý, trình độ phát triển kinh tế,