Nguồn gốc các dấu trong Việt ngữ
Lời nói đầu :
Bài này tôi viết từ lâu, có đăng lần đầu trên tờ Độc Lập ( Tây Đức) số 5/84 và được đăng
lại trên vài tờ khác. Nay nhân vô dạo trong phố Đặc Trưng, hẻm Ngôn Ngữ, thấy bà con
đang bàn luận về Hỏi Ngã, S và X ... trong Việt ngữ, nên mạo muội lược gõ lại và đăng
lên đây, tạm gọi là góp tí chút ưu tư cho đề tài vốn rộng lớn. Và cũng xin nhắc lại thêm
lần nữa là những gì tôi soạn đều không ngoài mục đích Tập Viết để Tự Học.Trong báo Độc Lập số 6/82 ra ngày 15/06/82 tại Tây Đức, ông Cao Thế Dung, qua loạt
bài " Nhiệm vụ của người Việt hải ngoại " có đề cập tới trường hợp điển hình của một tờ
báo Việt ngữ phát hành tại đất Mỹ, " chủ trương nhất định không bỏ dấu " cho tiếng mẹ
đẻ. Tờ báo mang tên " TIN TUC : VAN HOA, GIAO DUC " ( không bỏ dấu ), quản trị
bởi các vị "đại khoa bảng, có 2 ông cựu tổng trưởng, một ông phó viện trưởng đại học
Sài-gòn, một ông khoa trưởng đại học chính trị kinh doanh cùng mấy vị giáo sư đại học"
( nguyên văn của ông Cao Thế Dung).Trước khi nhận được tờ Độc Lập trên, tôi đã đọc trong báo Văn Nghệ Tiền Phong số 161,
ra ngày 1 đến 15 tháng 10 năm 1981, mục Bạn Đọc Viết, lá thư đề nghị " bỏ bớt dấu cho
sáng sủa " của một người Việt Nam ở Denver. Ông (bà) này chủ trương " bỏ một số dấu
Sắc thừa trong viêt ngữ để giúp cho việt ngữ chúng ta thêm phần sáng sủa và hợp lý
hơn." "Những dấu Sắc thừa trong những chữ tận cùng có : C, T, CH, P". Ví dụ :Trước viết Nay nên viết
Việt ngữ (1) có tất cả năm dấu : Sắc, Huyền, Hỏi, Ngã và Nặng. Trong lãnh vực thi ca,
các cụ nhà ta dùng danh xưng riêng :
Dấu Tên các thanh
Huyền (
`
) Trầm bình thanh
Sắc (
´
) Phù khứ thanh
Nặng (
.
) Trầm khứ hay Trầm nhập thanh
Hỏi (
̉
) Trầm thượng thanh
Ngã (
~
) Phù thượng thanh
~
).
Riêng dấu Nặng, cũng theo cố Đắc Lộ, không phải là một Dấu mà là một Chữ trong tiếng
Hy Lạp. Đó là chữ IOTA (đọc i-ô-ta = chữ i Hy ngữ) viết tắt, ký hiệu là (
.
).Đặc biệt dấu Hỏi "âu châu" không phải là một Chữ cũng không hẳn là một Dấu chỉ thanh
như các dấu Sắc, Huyền, Ngã trong Hy ngữ, song ấn định 1 cung giọng, cung giọng "tra
vấn" (interrogation) chung cho một mệnh đề. Ví dụ : Anh xa quê hương đã lâu chưa ?
Nói gọn, cố Đắc Lộ đã sử dụng ký hiệu chỉ định 1 âm điệu chung cho 1 mệnh đề để làm
dấu chỉ thanh trong Việt ngữ. Hơn nữa dấu Hỏi trong Việt ngữ không được đặt Sau mà
lại được đặt Trên 1 vần như các dấu khác - trừ dấu Nặng – và khi đọc thì phải uốn giọng
nhẹ.Tóm lại, bảng kê dưới đây sẽ giúp chúng ta nhận xét rõ ràng :Dấu Sắc, dấu Huyền và dấu Ngã = Phát tích từ tiếng Hy Lạp.Dấu Nặng = Phát tích từ chữ "Iota dưới" Hy Lạp viết tắt.
biến miễn phí trên toàn cầu. Thậm chí mới đây tôi tình cờ vô trong một trang Web "lớn"
việt ngữ, bắt gặp trong mục Ngôn Ngữ (Việt), một thành viên phát biểu ngon ơ " gõ bằng
tiếng Anh cho nhanh, chứ gõ và bỏ dấu tiếng Việt nhức đầu quá ."PĐT-Hàn Lệ NhânChú thích (1) Xin đừng nhầm Tiếng Việt (ngôn ngữ) và Chữ Việt (văn tự) vì tiếng Việt và người
Việt vốn là bào thai song sinh, theo sử sách, từ trên 4.000 năm nay rồi.(2) Sáng lập năm 1874, số lượng ấn hành cho ngày 1 tháng 4 năm 1981 là 13.741.921 tờ !